GDĐP 6.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Hoa
Ngày gửi: 21h:13' 28-09-2023
Dung lượng: 62.2 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Hoa
Ngày gửi: 21h:13' 28-09-2023
Dung lượng: 62.2 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
WELLCOM TO MY PRESENTATION
NỘI DUNG CHÍNH
1. Vua Hùng là ai?
2. Truyền thuyết vua Hùng
3. Lịch sử 18 đời vua Hùng
4. Thời đại Hùng Vương kết thúc khi nào?
PHẦN 1: KHỞI ĐỘNG
CÂU HỎI 1 : Hãy cho biết nước ta có bao nhiêu đời Vua Hùng ?
A. Có 15 đời Vua Hùng
B. Có 21 đời Vua Hùng
C. Có 18 đời Vua Hùng
D. Cả 3 đáp án đều đúng
CÂU HỎI 1 : Hãy cho biết nước ta có bao nhiêu đời Vua Hùng ?
A. Có 15 đời Vua Hùng
B. Có 21 đời Vua Hùng
C. Có 18 đời Vua Hùng
D. Cả 3 đáp án đều đúng
CÂU HỎI 2: Hãy nêu những Vua Hùng bạn biết ?
CÂU HỎI 2: Hãy nêu những Vua Hùng bạn biết ?
VD :
- Kinh Dương Vương( 涇陽王 ): 2879 - 2794 TCN (số năm trị vì là ước đoán).
Huý là Lộc Tục ( 祿續 ).
- Hùng Hiền Vương( 雄賢王 ), còn được gọi là Lạc Long Quân ( 駱龍君 hoặc
雒龍君 hoặc 貉龍君 ): 2793 - 2525 TCN. Huý là Sùng Lãm ( 崇纜 ).
CÂU HỎI 3 : Vị Vua nào đã lập ra nước Văn Lang; Âu
Lạc ?
- Theo bộ Đại Việt sử ký toàn thư ghi là: Nhà nước Văn Lang được thành lập bởi thủ lĩnh bộ
tộc Văn Lang đã thu phục mười lăm bộ tộc Bách Việt vào thế kỷ 07 TCN cùng thời với vua Chu
Trang Vương của nhà Chu, Trung Quốc.
- An Dương Vương (chữ Hán: 安陽王 ), tên thật là Thục Phán Thân ( 蜀审判体 ), là người
lập nên nước Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang. Niên
đại trị vì của An Dương Vương được các tài liệu ghi khác nhau.
PHẦN 2:
TỔNG KẾT KIẾN THỨC:
- Vua Hùng hay vẫn còn gọi là Hùng Vương (-- 2879 TCN) là tên hiệu các vị thủ lĩnh tối cao
của nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt - những triều đại được cho là được lập ra hơn
4.000 năm trước. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Thời đại Hùng Vương tồn tại khoảng
2.622 năm, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương
(năm 258 TCN) trước Công Nguyên. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị
Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính.
Câu chuyện lịch sử vua Hùng không có trong chính sử mà nằm trong các truyền
thuyết dân gian của người Việt được kể lại qua nhiều đời. Theo truyền thuyết, có 18
đời vua Hùng và các vua Hùng là hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Hùng Vương
thứ I sinh năm 2879 trước công nguyên, Hùng Vương thứ XVIII lại mất năm 258
trước công nguyên. Danh sách 18 vị vua Hùng bao gồm:
Kinh Dương Vương( 涇陽王 ): 2879 - 2794 TCN (số năm trị vì là ước đoán). Huý là Lộc Tục ( 祿續 ).
Hùng Hiền Vương( 雄賢王 ), còn được gọi là Lạc Long Quân ( 駱龍君 hoặc 雒龍君 hoặc 貉龍君 ):
2793 - 2525 TCN. Huý là Sùng Lãm ( 崇纜 ).
Hùng Lân Vương ( 雄麟王 ): 2524 - 2253 TCN.
Hùng Việp Vương ( 雄曄王 ): 2252 - 1913 TCN.
Hùng Hy Vương ( 雄犧王 ): 1912 - 1713 TCN (phần bên trái chữ "Hi" 犧 là bộ "ngưu" 牛 ).
Hùng Huy Vương ( 雄暉王 ): 1712 - 1632 TCN.
Hùng Chiêu Vương ( 雄昭王 ): 1631 - 1432 TCN.
Hùng Vĩ Vương ( 雄暐王 ): 1431 - 1332 TCN.
Hùng Định Vương ( 雄定王 ): 1331 - 1252 TCN.
Hùng Hi Vương ( 雄曦王 ): 1251 - 1162 TCN (phần bên trái chữ "Hi" 犧 là bộ "nhật" 日 ).
Hùng Trinh Vương ( 雄楨王 ): 1161 - 1055 TCN.
Hùng Vũ Vương ( 雄武王 ): 1054 - 969 TCN.
Hùng Việt Vương ( 雄越王 ): 968 - 854 TCN.
Hùng Anh Vương ( 雄英王 ): 853 - 755 TCN.
Hùng Triêu Vương ( 雄朝王 ): 754 - 661 TCN.
Hùng Tạo Vương ( 雄造王 ): 660 - 569 TCN.
Hùng Nghị Vương ( 雄毅王 ): 568 - 409 TCN.
Hùng Duệ Vương ( 雄睿王 ): 408 - 258 TCN.
TRUYỀN THUYẾT VUA HÙNG:
Truyền thuyết vua Hùng
Tương truyền, hàng nghìn năm trước, Lạc Long Quân (Rồng Vương của bộ tộc Lạc Việt) có sức mạnh
siêu phàm, thích ở gần nước. Chàng kết duyên với tiên nữ Âu Cơ (con gái Đế Lai, vua của một bộ tộc
phương bắc trên cao nguyên) khi nàng du ngoạn phương nam. Thời gian trôi qua, Âu Cơ sinh ra một
bọc trăm trứng, nở ra trăm người con xinh đẹp. Những đứa trẻ lớn lên khỏe mạnh và thông minh
giống cha, và tốt bụng và khéo léo giống mẹ. Họ được dạy kỹ cách canh tác đất đai và sống cao
thượng. Nhưng ngay sau đó, cặp đôi bắt đầu không hạnh phúc. Lạc Long Quân luôn thấy lòng mình
khát khao những miền biển trong khi Âu Cơ không ngừng khao khát những cao nguyên.
Hai vợ chồng quyết định chia con, năm mươi đứa sẽ cùng Lạc Long Quân sinh sống dọc bờ biển. Âu
Cơ sẽ dẫn năm mươi người còn lại lên nương rẫy ở với nàng. Tuy nhiên, họ đã hứa với nhau rằng bất
chấp khoảng cách và sự xa cách, họ phải chăm sóc lẫn nhau và luôn ở bên để giúp đỡ nếu ai đó cần.
Lạc Long Quân và Âu Cơ là con cháu của nước Việt Nam nên người Việt Nam tự xưng là “con Rồng
cháu Tiên”.
Con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ đã cùng mẹ lập nghiệp ở Phong Châu nay là nam bộ tỉnh Phú
Thọ và tự xưng làm vua. Đó là vua Hùng I, vương quốc do 50 bộ lạc hợp thành. 18 vị vua Hùng cai trị
đất nước từ năm 2879 đến 258 TCN.
LỊCH SỬ 18 ĐỜI VUA HÙNG:
1. Kinh Dương Vương ( 涇陽王 ): 2879 - 2794 TCN
Kinh Dương Vương (chữ Hán: 涇陽王 ) là một nhân vật truyền thuyết trong lịch sử,
tương truyền ông là Đức thủy tổ của người Việt, mở ra nhà nước sơ khai độc lập có
chủ quyền đầu tiên của dân tộc ta. Theo Mộc bản sách “Đại Việt sử ký toàn thư” , năm
2879 trước Công nguyên, Kinh Dương Vương lên ngôi, lập nên nhà nước Xích Quỷ (chữ
Hán: 赤鬼 tên một vì sao có sắc đỏ rực rỡ nhất trong số 28 vì sao sáng trên bầu trời).
Sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì). Các vua Hùng là hậu duệ huyết thống của Kinh
Dương Vương.
Tại Lăng Kinh Dương Vương có ghi: Kinh Dương Vương tên húy là Lộc Tục, là bậc thánh
trí có tư chất thông minh, tài đức hơn người, sức khỏe phi thường. Kinh Dương Vương
lấy Thần Long sinh ra Lạc Long Quân (húy là Sùng Lãm). Lạc Long Quân lấy con gái Đế
Lai là Âu Cơ sinh ra 100 người con. Con cả là Hùng Quốc Vương.
Kinh Dương Vương mất ngày 18 tháng 1 tại trang Phúc Khang, bộ Vũ Ninh (Bắc Ninh
ngày nay) và được nhân dân kính cẩn lập miếu thờ.
2. Hùng Hiền Vương ( 雄賢王 ) hay Lạc Long Quân: 2793 - 2525 TCN
Mặc dù trong số 18 đời vua Hùng, Kinh Dương Vương là vua đầu tiên của phương Nam, nhưng chính con của ông là
Lạc Long Quân Hoặc húy Sùng Lãm mới là vị Hùng Vương nổi tiếng nhất, là vị vua tu luyện đắc Đạo và vị Thần cổ xưa
đầu tiên khai sinh ra dòng giống Bách Việt và định lãnh thổ cho quốc gia Văn Lang thời cổ đại.
Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân tên là Nguyễn Lâm, tên huý là Sùng Lãm, tự là Phúc Thọ, thụy là Hùng Hiền Vương,
con trai của Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân lên nối ngôi 33 tuổi, đổi hiệu là Hùng Hiền vương, trở thành vị vua đầu
tiên của triều đại Hùng Vương của quốc gia Văn Lang. Ông trị vì 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793 TCN ) đến năm Bính
Thìn (2525 TCN).
Nhân duyên trời định đã đưa đến cho ông một người vợ vốn gốc Tiên để khai mở ra dòng giống Bách Việt sau này.
Người vợ này chính là Âu Cơ, tổ mẫu của dân tộc ta. Sau khi về làm vợ Lạc Long Quân, Âu Cơ đã sinh ra cho ông những
người con trai một cách thần kỳ mà sự tích còn lưu truyền đến ngày nay.
- Lạc Long Quân không những là một vị Hùng Vương nổi tiếng nhất, Ngài còn là một vị thần bảo hộ cho dân tộc Việt
Nam từ thời thượng cổ. Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân rằng: "Bố ơi! Sao không lại cứu chúng tôi!". Long
Quân tới ngay, sự linh hiển của Long Quân, người đời không ai lường nổi. Các Thần tích mà Ngài vì dân trừ hại đến nay
vẫn được ca tụng lưu truyền. Lạc Long Quân còn dạy cho dân chúng cách ăn ở sinh sống cùng các phong tục tập quán
tốt đẹp.
3. Hùng Lân Vương ( 雄麟王 ): 2524 - 2253 TCN
Hùng Quốc Vương là vị vua Hùng thứ III, tên húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr. TL) lên ngôi khi
18 tuổi, ở ngôi 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 TCN ) đến 2253 TCN.
4. Hùng Hoa Vương ( 雄曄王 )
Hùng Hoa Vương là vị vua Hùng thứ IV, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), ở
ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 TCN ) đến năm Mậu Thìn (1913 TCN ).
R5. Hùng Hy Vương ( 雄犧王 )
Hùng Hy Vương ( 雄犧王 ) là vị vua Hùng thứ V trong 18 đời vua Hùng, húy Bảo Lang, sinh năm
Tân Mùi (2030 tr. TL), lên ngôi khi năm 59 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 TCN)
đến Mậu Tý (1713 TCN).
6. Hùng Hồn Vương ( 雄暉王 )
Hùng Hồn Vương ( 雄暉王 ), húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 TCN), lên ngôi khi 29 tuổi, ở ngôi tất cả 81
năm, từ năm Kỷ Sửu (1712 TCN) đến năm Kỷ Dậu (1632 TCN).
7. Hùng Chiêu Vương ( 雄昭王 )
Trong số 18 đời vua Hùng, Hùng Chiêu Vương ( 雄昭王 ), húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 TCN) là vị vua Hùng thứ
VII. Hùng Chiêu Vương lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 TCN) đến năm Kỷ Tỵ (1432
TCN).
8. Hùng Vỹ Vương ( 雄暐王 )
Hùng Vỹ Vương ( 雄暐王 ), húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 TCN) lên ngôi khi 39 tuổi, ở ngôi tất cả 100 năm, từ
năm Canh Ngọ (1431 TCN) đến năm Kỷ Dậu (1332 TCN).
9. Hùng Định Vương ( 雄定王 )
Hùng Định Vương ( 雄定王 ), húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 TCN), lên ngôi khi 45 tuổi, ở ngôi tất cả 80
năm, từ 1331 đến 1252 TCN.
10. Hùng Uy Vương ( 雄曦王 )
Hùng Uy Vương ( 雄曦王 ), húy Hoàng Long Lang, trị vì 90 năm, từ 1251 đến 1162 TCN
11. Hùng Trinh Vương ( 雄楨王 )
Hùng Trinh Vương ( 雄楨王 ), húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 TCN), lên ngôi khi 51 tuổi, ở
ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 tr. TL) đến năm Bính Tuất (1055 TCN).
12. Hùng Vũ Vương ( 雄武王 )
Hùng Vũ Vương ( 雄武王 ), húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr. TL), lên ngôi khi năm 52 tuổi, ở ngôi tất cả 86
năm, từ năm Đinh Hợi (1054 TCN) đến năm Nhâm Tuất (969 TCN).
13. Hùng Việt Vương ( 雄越王 )
Hùng Việt Vương ( 雄越王 ), húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr. TL), lên ngôi khi 23 tuổi, ở ngôi
tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 TCN) đến Đinh Mùi (854 TCN).
14. Hùng Anh Vương ( 雄英王 )
Hùng Anh Vương ( 雄英王 ), húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 TCN) lên ngôi khi 42 tuổI, ở ngôi tất cả
99 năm, từ 853 đến 755 tr. TL.
15. Hùng Triệu Vương ( 雄朝王 )
Hùng Triệu Vương ( 雄朝王 ), húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 TCN), lên ngôi khi 35 tuổi, ở ngôi tất
cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 TCN) đến năm Canh Thân (661 TCN).
16. Hùng Tạo Vương ( 雄造王 )
Hùng Tạo Vương ( 雄造王 ) là Hùng Vương thứ XVI. Tên húy là Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 TCN), ở
ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 TCN) đến năm Nhâm Thìn (569 TCN).
Trong thời kỳ này, các lãnh đạo địa phương đã nổi dậy chống lại vua Hùng. Giai đoạn kết thúc khi nghĩa quân
đầu hàng do sự đàn áp của lực lượng Thạch Tướng.
Khoảng một năm 600 trước Công nguyên , phong cách luyện kim độc đáo của trống đồng Đông Sơn đã được
phát minh trong thời kỳ vua Hùng Tạo Vương.
Một khía cạnh quan trọng của văn hóa Việt Nam vào thế kỷ thứ sáu TCN là thủy lợi của các cánh đồng lúa
thông qua một hệ thống kênh và đê phức tạp. Ruộng được gọi là ruộng Lạc.
17. Hùng Nghị Vương ( 雄毅王 ): 568 - 409 TCN
Hùng Nghị Vương ( 雄毅王 ), húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 TCN) lên ngôi khi 9 tuổi, ở ngôi tất cả 160
năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr. TL) đến năm Nhâm Thân (409 TCN).
Hùng Nghị Vương là Hùng Vương thứ XVII trong 18 đời vua Hùng. Tương truyền, vua Hùng thứ XVII có một người con
nuôi là Mai An Tiêm, ông tổ trồng dưa ở Việt Nam.
Truyền thuyết kể rằng vua Hùng Vương thứ mười bảy có một người con nuôi là An Tiêm có tài tháo vát và có trí hơn
người. Vua yêu mến An Tiêm thường ban cho của ngon vật quý. Có thuyết lại nói rằng Mai An Tiêm là nô bộc, sau được
lấy con gái nuôi của Hùng Vương là nàng Ba. An Tiêm thường nói: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ!" nên bị các
quan tấu lên vua. Vua nổi giận bèn đày gia đình An Tiêm ra đảo hoang.
Sau một thời gian vật lộn với cuộc sống hoang dã, An Tiêm phát hiện ra hạt của loài trái mà chim chóc thích ăn. Ngồi
nghỉ một lát thấy mát ruột, đỡ đói, chàng có ý mừng, lấy gươm xới một khoảnh đất mà gieo hạt xuống. Sau đó hạt ra
cây, cây ra quả, gia đình An Tiêm cứ trồng dưa thêm mãi. Cứ mỗi lần hái dưa, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu thả ra
biển. Dưa trôi biệt tăm tích không biết bao lần, trăng non rồi trăng già không biết bao bận, An Tiêm vẫn không ngã
lòng. Quả nhiên một hôm có một chiếc thuyền ghé đến hỏi xem ai đã trồng được giống dưa quý, để đổi về đem bán
trên đất liền. Từ đấy An Tiêm đổi được các thức ăn dùng thường ngày và còn cất được một cái nhà lá xinh xinh.
Về phần vua Hùng Vương, từ ngày bỏ An Tiêm ra hoang đảo, vua yên trí rằng An Tiêm đã chết rồi, đôi khi nghĩ đến cũng
có bùi ngùi thương hại. Cho đến một ngày kia, thị thần dâng quả dưa lạ, vua ăn ngon miệng bèn hỏi thăm tung tích,
mới biết là do An Tiêm trồng ngoài đảo. Vua ngẫm nghĩ thấy mình sai, cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm. An Tiêm và
nàng Ba mừng rỡ, thu lượm hết những quả dưa chín và hạt giống đem về phân phát cho bà con hàng xóm, và truyền
dạy cách gieo trồng, chăm bón.
18. Hùng Duệ Vương ( 雄睿王 ): 408 - 258 TCN
Hùng Duệ Vương ( 雄睿王 ), sinh năm Canh Thân (421 TCN), lên ngôi khi 14 tuổi, ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu
(408 TCN) đến năm Quý Mão (258 TCN).
Hùng Duệ Vương là Hùng Vương thứ XVIII (~334 - 258 TCN). Ông là một vị vua truyền thuyết của nước Văn Lang trong
lịch sử Việt Nam và là vị Hùng Vương cuối cùng của thời đại vua Hùng. Tương truyền Hùng Vương thứ XVIII có hai con rể
là Chử Đồng Tử và Sơn Tinh.
Theo truyền thuyết, Hùng Vương thứ XVIII có ba người con gái là Mỵ nương Tiên Dung, Mỵ nương Ngọc Hoa và Mỵ
nương Ngọc Nương.
Mỵ nương cả là Tiên Dung đến tuổi cập kê không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của công chúa đến thăm vùng
Chử Xá, nơi có chàng trai Chử Đồng Tử câu cá ngoài bãi. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người
hầu tấp nập, hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi rồi sai người quây màn ở
bụi lau để tắm, ngờ đâu đúng ngay chỗ của Chử Đồng Tử. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử dưới cát. Tiên
Dung kinh ngạc bèn hỏi han sự tình, nghĩ ngợi rồi xin được cùng nên duyên vợ chồng.
THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG KẾT THÚC KHI NÀO ?
Vào cuối thời Hồng Bàng, nhà Tần bắt đầu mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, xâm lược các tộc Bách Việt. Nước Văn Lang
của tộc Lạc Việt đã liên minh với tộc Âu Việt của Thục Phán để cùng nhau chống Tần. Kết quả là cuộc kháng chiến chống
Tần thắng lợi sau 10 năm. Sau chiến thắng, Hùng Vương thoái vị, Thục Phán - người có công lao lớn nhất trong cuộc chiến nối ngôi, thống nhất hai bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt thành nước Âu Lạc.
NỘI DUNG CHÍNH
1. Vua Hùng là ai?
2. Truyền thuyết vua Hùng
3. Lịch sử 18 đời vua Hùng
4. Thời đại Hùng Vương kết thúc khi nào?
PHẦN 1: KHỞI ĐỘNG
CÂU HỎI 1 : Hãy cho biết nước ta có bao nhiêu đời Vua Hùng ?
A. Có 15 đời Vua Hùng
B. Có 21 đời Vua Hùng
C. Có 18 đời Vua Hùng
D. Cả 3 đáp án đều đúng
CÂU HỎI 1 : Hãy cho biết nước ta có bao nhiêu đời Vua Hùng ?
A. Có 15 đời Vua Hùng
B. Có 21 đời Vua Hùng
C. Có 18 đời Vua Hùng
D. Cả 3 đáp án đều đúng
CÂU HỎI 2: Hãy nêu những Vua Hùng bạn biết ?
CÂU HỎI 2: Hãy nêu những Vua Hùng bạn biết ?
VD :
- Kinh Dương Vương( 涇陽王 ): 2879 - 2794 TCN (số năm trị vì là ước đoán).
Huý là Lộc Tục ( 祿續 ).
- Hùng Hiền Vương( 雄賢王 ), còn được gọi là Lạc Long Quân ( 駱龍君 hoặc
雒龍君 hoặc 貉龍君 ): 2793 - 2525 TCN. Huý là Sùng Lãm ( 崇纜 ).
CÂU HỎI 3 : Vị Vua nào đã lập ra nước Văn Lang; Âu
Lạc ?
- Theo bộ Đại Việt sử ký toàn thư ghi là: Nhà nước Văn Lang được thành lập bởi thủ lĩnh bộ
tộc Văn Lang đã thu phục mười lăm bộ tộc Bách Việt vào thế kỷ 07 TCN cùng thời với vua Chu
Trang Vương của nhà Chu, Trung Quốc.
- An Dương Vương (chữ Hán: 安陽王 ), tên thật là Thục Phán Thân ( 蜀审判体 ), là người
lập nên nước Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang. Niên
đại trị vì của An Dương Vương được các tài liệu ghi khác nhau.
PHẦN 2:
TỔNG KẾT KIẾN THỨC:
- Vua Hùng hay vẫn còn gọi là Hùng Vương (-- 2879 TCN) là tên hiệu các vị thủ lĩnh tối cao
của nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt - những triều đại được cho là được lập ra hơn
4.000 năm trước. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Thời đại Hùng Vương tồn tại khoảng
2.622 năm, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương
(năm 258 TCN) trước Công Nguyên. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị
Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính.
Câu chuyện lịch sử vua Hùng không có trong chính sử mà nằm trong các truyền
thuyết dân gian của người Việt được kể lại qua nhiều đời. Theo truyền thuyết, có 18
đời vua Hùng và các vua Hùng là hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Hùng Vương
thứ I sinh năm 2879 trước công nguyên, Hùng Vương thứ XVIII lại mất năm 258
trước công nguyên. Danh sách 18 vị vua Hùng bao gồm:
Kinh Dương Vương( 涇陽王 ): 2879 - 2794 TCN (số năm trị vì là ước đoán). Huý là Lộc Tục ( 祿續 ).
Hùng Hiền Vương( 雄賢王 ), còn được gọi là Lạc Long Quân ( 駱龍君 hoặc 雒龍君 hoặc 貉龍君 ):
2793 - 2525 TCN. Huý là Sùng Lãm ( 崇纜 ).
Hùng Lân Vương ( 雄麟王 ): 2524 - 2253 TCN.
Hùng Việp Vương ( 雄曄王 ): 2252 - 1913 TCN.
Hùng Hy Vương ( 雄犧王 ): 1912 - 1713 TCN (phần bên trái chữ "Hi" 犧 là bộ "ngưu" 牛 ).
Hùng Huy Vương ( 雄暉王 ): 1712 - 1632 TCN.
Hùng Chiêu Vương ( 雄昭王 ): 1631 - 1432 TCN.
Hùng Vĩ Vương ( 雄暐王 ): 1431 - 1332 TCN.
Hùng Định Vương ( 雄定王 ): 1331 - 1252 TCN.
Hùng Hi Vương ( 雄曦王 ): 1251 - 1162 TCN (phần bên trái chữ "Hi" 犧 là bộ "nhật" 日 ).
Hùng Trinh Vương ( 雄楨王 ): 1161 - 1055 TCN.
Hùng Vũ Vương ( 雄武王 ): 1054 - 969 TCN.
Hùng Việt Vương ( 雄越王 ): 968 - 854 TCN.
Hùng Anh Vương ( 雄英王 ): 853 - 755 TCN.
Hùng Triêu Vương ( 雄朝王 ): 754 - 661 TCN.
Hùng Tạo Vương ( 雄造王 ): 660 - 569 TCN.
Hùng Nghị Vương ( 雄毅王 ): 568 - 409 TCN.
Hùng Duệ Vương ( 雄睿王 ): 408 - 258 TCN.
TRUYỀN THUYẾT VUA HÙNG:
Truyền thuyết vua Hùng
Tương truyền, hàng nghìn năm trước, Lạc Long Quân (Rồng Vương của bộ tộc Lạc Việt) có sức mạnh
siêu phàm, thích ở gần nước. Chàng kết duyên với tiên nữ Âu Cơ (con gái Đế Lai, vua của một bộ tộc
phương bắc trên cao nguyên) khi nàng du ngoạn phương nam. Thời gian trôi qua, Âu Cơ sinh ra một
bọc trăm trứng, nở ra trăm người con xinh đẹp. Những đứa trẻ lớn lên khỏe mạnh và thông minh
giống cha, và tốt bụng và khéo léo giống mẹ. Họ được dạy kỹ cách canh tác đất đai và sống cao
thượng. Nhưng ngay sau đó, cặp đôi bắt đầu không hạnh phúc. Lạc Long Quân luôn thấy lòng mình
khát khao những miền biển trong khi Âu Cơ không ngừng khao khát những cao nguyên.
Hai vợ chồng quyết định chia con, năm mươi đứa sẽ cùng Lạc Long Quân sinh sống dọc bờ biển. Âu
Cơ sẽ dẫn năm mươi người còn lại lên nương rẫy ở với nàng. Tuy nhiên, họ đã hứa với nhau rằng bất
chấp khoảng cách và sự xa cách, họ phải chăm sóc lẫn nhau và luôn ở bên để giúp đỡ nếu ai đó cần.
Lạc Long Quân và Âu Cơ là con cháu của nước Việt Nam nên người Việt Nam tự xưng là “con Rồng
cháu Tiên”.
Con trưởng của Lạc Long Quân và Âu Cơ đã cùng mẹ lập nghiệp ở Phong Châu nay là nam bộ tỉnh Phú
Thọ và tự xưng làm vua. Đó là vua Hùng I, vương quốc do 50 bộ lạc hợp thành. 18 vị vua Hùng cai trị
đất nước từ năm 2879 đến 258 TCN.
LỊCH SỬ 18 ĐỜI VUA HÙNG:
1. Kinh Dương Vương ( 涇陽王 ): 2879 - 2794 TCN
Kinh Dương Vương (chữ Hán: 涇陽王 ) là một nhân vật truyền thuyết trong lịch sử,
tương truyền ông là Đức thủy tổ của người Việt, mở ra nhà nước sơ khai độc lập có
chủ quyền đầu tiên của dân tộc ta. Theo Mộc bản sách “Đại Việt sử ký toàn thư” , năm
2879 trước Công nguyên, Kinh Dương Vương lên ngôi, lập nên nhà nước Xích Quỷ (chữ
Hán: 赤鬼 tên một vì sao có sắc đỏ rực rỡ nhất trong số 28 vì sao sáng trên bầu trời).
Sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì). Các vua Hùng là hậu duệ huyết thống của Kinh
Dương Vương.
Tại Lăng Kinh Dương Vương có ghi: Kinh Dương Vương tên húy là Lộc Tục, là bậc thánh
trí có tư chất thông minh, tài đức hơn người, sức khỏe phi thường. Kinh Dương Vương
lấy Thần Long sinh ra Lạc Long Quân (húy là Sùng Lãm). Lạc Long Quân lấy con gái Đế
Lai là Âu Cơ sinh ra 100 người con. Con cả là Hùng Quốc Vương.
Kinh Dương Vương mất ngày 18 tháng 1 tại trang Phúc Khang, bộ Vũ Ninh (Bắc Ninh
ngày nay) và được nhân dân kính cẩn lập miếu thờ.
2. Hùng Hiền Vương ( 雄賢王 ) hay Lạc Long Quân: 2793 - 2525 TCN
Mặc dù trong số 18 đời vua Hùng, Kinh Dương Vương là vua đầu tiên của phương Nam, nhưng chính con của ông là
Lạc Long Quân Hoặc húy Sùng Lãm mới là vị Hùng Vương nổi tiếng nhất, là vị vua tu luyện đắc Đạo và vị Thần cổ xưa
đầu tiên khai sinh ra dòng giống Bách Việt và định lãnh thổ cho quốc gia Văn Lang thời cổ đại.
Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân tên là Nguyễn Lâm, tên huý là Sùng Lãm, tự là Phúc Thọ, thụy là Hùng Hiền Vương,
con trai của Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân lên nối ngôi 33 tuổi, đổi hiệu là Hùng Hiền vương, trở thành vị vua đầu
tiên của triều đại Hùng Vương của quốc gia Văn Lang. Ông trị vì 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793 TCN ) đến năm Bính
Thìn (2525 TCN).
Nhân duyên trời định đã đưa đến cho ông một người vợ vốn gốc Tiên để khai mở ra dòng giống Bách Việt sau này.
Người vợ này chính là Âu Cơ, tổ mẫu của dân tộc ta. Sau khi về làm vợ Lạc Long Quân, Âu Cơ đã sinh ra cho ông những
người con trai một cách thần kỳ mà sự tích còn lưu truyền đến ngày nay.
- Lạc Long Quân không những là một vị Hùng Vương nổi tiếng nhất, Ngài còn là một vị thần bảo hộ cho dân tộc Việt
Nam từ thời thượng cổ. Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân rằng: "Bố ơi! Sao không lại cứu chúng tôi!". Long
Quân tới ngay, sự linh hiển của Long Quân, người đời không ai lường nổi. Các Thần tích mà Ngài vì dân trừ hại đến nay
vẫn được ca tụng lưu truyền. Lạc Long Quân còn dạy cho dân chúng cách ăn ở sinh sống cùng các phong tục tập quán
tốt đẹp.
3. Hùng Lân Vương ( 雄麟王 ): 2524 - 2253 TCN
Hùng Quốc Vương là vị vua Hùng thứ III, tên húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr. TL) lên ngôi khi
18 tuổi, ở ngôi 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 TCN ) đến 2253 TCN.
4. Hùng Hoa Vương ( 雄曄王 )
Hùng Hoa Vương là vị vua Hùng thứ IV, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), ở
ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 TCN ) đến năm Mậu Thìn (1913 TCN ).
R5. Hùng Hy Vương ( 雄犧王 )
Hùng Hy Vương ( 雄犧王 ) là vị vua Hùng thứ V trong 18 đời vua Hùng, húy Bảo Lang, sinh năm
Tân Mùi (2030 tr. TL), lên ngôi khi năm 59 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 TCN)
đến Mậu Tý (1713 TCN).
6. Hùng Hồn Vương ( 雄暉王 )
Hùng Hồn Vương ( 雄暉王 ), húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 TCN), lên ngôi khi 29 tuổi, ở ngôi tất cả 81
năm, từ năm Kỷ Sửu (1712 TCN) đến năm Kỷ Dậu (1632 TCN).
7. Hùng Chiêu Vương ( 雄昭王 )
Trong số 18 đời vua Hùng, Hùng Chiêu Vương ( 雄昭王 ), húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 TCN) là vị vua Hùng thứ
VII. Hùng Chiêu Vương lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 TCN) đến năm Kỷ Tỵ (1432
TCN).
8. Hùng Vỹ Vương ( 雄暐王 )
Hùng Vỹ Vương ( 雄暐王 ), húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 TCN) lên ngôi khi 39 tuổi, ở ngôi tất cả 100 năm, từ
năm Canh Ngọ (1431 TCN) đến năm Kỷ Dậu (1332 TCN).
9. Hùng Định Vương ( 雄定王 )
Hùng Định Vương ( 雄定王 ), húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 TCN), lên ngôi khi 45 tuổi, ở ngôi tất cả 80
năm, từ 1331 đến 1252 TCN.
10. Hùng Uy Vương ( 雄曦王 )
Hùng Uy Vương ( 雄曦王 ), húy Hoàng Long Lang, trị vì 90 năm, từ 1251 đến 1162 TCN
11. Hùng Trinh Vương ( 雄楨王 )
Hùng Trinh Vương ( 雄楨王 ), húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 TCN), lên ngôi khi 51 tuổi, ở
ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 tr. TL) đến năm Bính Tuất (1055 TCN).
12. Hùng Vũ Vương ( 雄武王 )
Hùng Vũ Vương ( 雄武王 ), húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr. TL), lên ngôi khi năm 52 tuổi, ở ngôi tất cả 86
năm, từ năm Đinh Hợi (1054 TCN) đến năm Nhâm Tuất (969 TCN).
13. Hùng Việt Vương ( 雄越王 )
Hùng Việt Vương ( 雄越王 ), húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr. TL), lên ngôi khi 23 tuổi, ở ngôi
tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 TCN) đến Đinh Mùi (854 TCN).
14. Hùng Anh Vương ( 雄英王 )
Hùng Anh Vương ( 雄英王 ), húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 TCN) lên ngôi khi 42 tuổI, ở ngôi tất cả
99 năm, từ 853 đến 755 tr. TL.
15. Hùng Triệu Vương ( 雄朝王 )
Hùng Triệu Vương ( 雄朝王 ), húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 TCN), lên ngôi khi 35 tuổi, ở ngôi tất
cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 TCN) đến năm Canh Thân (661 TCN).
16. Hùng Tạo Vương ( 雄造王 )
Hùng Tạo Vương ( 雄造王 ) là Hùng Vương thứ XVI. Tên húy là Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 TCN), ở
ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 TCN) đến năm Nhâm Thìn (569 TCN).
Trong thời kỳ này, các lãnh đạo địa phương đã nổi dậy chống lại vua Hùng. Giai đoạn kết thúc khi nghĩa quân
đầu hàng do sự đàn áp của lực lượng Thạch Tướng.
Khoảng một năm 600 trước Công nguyên , phong cách luyện kim độc đáo của trống đồng Đông Sơn đã được
phát minh trong thời kỳ vua Hùng Tạo Vương.
Một khía cạnh quan trọng của văn hóa Việt Nam vào thế kỷ thứ sáu TCN là thủy lợi của các cánh đồng lúa
thông qua một hệ thống kênh và đê phức tạp. Ruộng được gọi là ruộng Lạc.
17. Hùng Nghị Vương ( 雄毅王 ): 568 - 409 TCN
Hùng Nghị Vương ( 雄毅王 ), húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 TCN) lên ngôi khi 9 tuổi, ở ngôi tất cả 160
năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr. TL) đến năm Nhâm Thân (409 TCN).
Hùng Nghị Vương là Hùng Vương thứ XVII trong 18 đời vua Hùng. Tương truyền, vua Hùng thứ XVII có một người con
nuôi là Mai An Tiêm, ông tổ trồng dưa ở Việt Nam.
Truyền thuyết kể rằng vua Hùng Vương thứ mười bảy có một người con nuôi là An Tiêm có tài tháo vát và có trí hơn
người. Vua yêu mến An Tiêm thường ban cho của ngon vật quý. Có thuyết lại nói rằng Mai An Tiêm là nô bộc, sau được
lấy con gái nuôi của Hùng Vương là nàng Ba. An Tiêm thường nói: "Của biếu là của lo, của cho là của nợ!" nên bị các
quan tấu lên vua. Vua nổi giận bèn đày gia đình An Tiêm ra đảo hoang.
Sau một thời gian vật lộn với cuộc sống hoang dã, An Tiêm phát hiện ra hạt của loài trái mà chim chóc thích ăn. Ngồi
nghỉ một lát thấy mát ruột, đỡ đói, chàng có ý mừng, lấy gươm xới một khoảnh đất mà gieo hạt xuống. Sau đó hạt ra
cây, cây ra quả, gia đình An Tiêm cứ trồng dưa thêm mãi. Cứ mỗi lần hái dưa, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu thả ra
biển. Dưa trôi biệt tăm tích không biết bao lần, trăng non rồi trăng già không biết bao bận, An Tiêm vẫn không ngã
lòng. Quả nhiên một hôm có một chiếc thuyền ghé đến hỏi xem ai đã trồng được giống dưa quý, để đổi về đem bán
trên đất liền. Từ đấy An Tiêm đổi được các thức ăn dùng thường ngày và còn cất được một cái nhà lá xinh xinh.
Về phần vua Hùng Vương, từ ngày bỏ An Tiêm ra hoang đảo, vua yên trí rằng An Tiêm đã chết rồi, đôi khi nghĩ đến cũng
có bùi ngùi thương hại. Cho đến một ngày kia, thị thần dâng quả dưa lạ, vua ăn ngon miệng bèn hỏi thăm tung tích,
mới biết là do An Tiêm trồng ngoài đảo. Vua ngẫm nghĩ thấy mình sai, cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm. An Tiêm và
nàng Ba mừng rỡ, thu lượm hết những quả dưa chín và hạt giống đem về phân phát cho bà con hàng xóm, và truyền
dạy cách gieo trồng, chăm bón.
18. Hùng Duệ Vương ( 雄睿王 ): 408 - 258 TCN
Hùng Duệ Vương ( 雄睿王 ), sinh năm Canh Thân (421 TCN), lên ngôi khi 14 tuổi, ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu
(408 TCN) đến năm Quý Mão (258 TCN).
Hùng Duệ Vương là Hùng Vương thứ XVIII (~334 - 258 TCN). Ông là một vị vua truyền thuyết của nước Văn Lang trong
lịch sử Việt Nam và là vị Hùng Vương cuối cùng của thời đại vua Hùng. Tương truyền Hùng Vương thứ XVIII có hai con rể
là Chử Đồng Tử và Sơn Tinh.
Theo truyền thuyết, Hùng Vương thứ XVIII có ba người con gái là Mỵ nương Tiên Dung, Mỵ nương Ngọc Hoa và Mỵ
nương Ngọc Nương.
Mỵ nương cả là Tiên Dung đến tuổi cập kê không chịu lấy chồng. Một hôm thuyền rồng của công chúa đến thăm vùng
Chử Xá, nơi có chàng trai Chử Đồng Tử câu cá ngoài bãi. Nghe tiếng chuông trống, đàn sáo lại thấy nghi trượng, người
hầu tấp nập, hoảng sợ vội vùi mình vào cát lẩn tránh. Thuyền ghé vào bờ, Tiên Dung dạo chơi rồi sai người quây màn ở
bụi lau để tắm, ngờ đâu đúng ngay chỗ của Chử Đồng Tử. Nước xối dần để lộ thân hình Chử Đồng Tử dưới cát. Tiên
Dung kinh ngạc bèn hỏi han sự tình, nghĩ ngợi rồi xin được cùng nên duyên vợ chồng.
THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG KẾT THÚC KHI NÀO ?
Vào cuối thời Hồng Bàng, nhà Tần bắt đầu mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, xâm lược các tộc Bách Việt. Nước Văn Lang
của tộc Lạc Việt đã liên minh với tộc Âu Việt của Thục Phán để cùng nhau chống Tần. Kết quả là cuộc kháng chiến chống
Tần thắng lợi sau 10 năm. Sau chiến thắng, Hùng Vương thoái vị, Thục Phán - người có công lao lớn nhất trong cuộc chiến nối ngôi, thống nhất hai bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt thành nước Âu Lạc.
 








Các ý kiến mới nhất