pp thi gv dạy giỏi môn tập làm vă lớp 4

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hòa
Ngày gửi: 08h:11' 03-11-2023
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 264
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hòa
Ngày gửi: 08h:11' 03-11-2023
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 264
Số lượt thích:
0 người
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN SÌN HỒ
TRƯỜNG PTDTBT TIỂU HỌC PA TẦN
Giáo viên: Phạm Thị Hòa
THUYẾT TRÌNH
“Một số giải pháp hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng biện pháp
nghệ thuật (nhân hóa) nhằm nâng cao chất lượng viết văn miêu tả
lớp 4A3 – Trường PTDTBT tiểu học Pa Tần”
I. SỰ CẦN THIẾT
II. MỤC ĐÍCH LỰA CHỌN B IỆN PHÁP
III. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP
IV. HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
I. SỰ CẦN THIẾT
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, nó được dùng để giao tiếp chính
thức giữa người với người trong cộng đồng các dân tộc trên đất nước
Việt Nam. Bởi vậy, “Tiếng Việt” luôn là bộ môn quan trọng trong dạy
học, giúp học sinh nâng cao năng lực cảm thụ văn học.
Các bộ phận cấu thành của môn Tiếng Việt trong trường tiểu học
bao gồm: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn.
Phân môn Luyện từ và câu là phân môn khởi đầu của các phân môn
khác. Trong đó, biện pháp nhân hóa có khả năng khắc họa hình ảnh và
gây ấn tượng mạnh để làm cho lời nói rõ ràng, diễn đạt được mọi sắc
thái biểu cảm một cách sinh động. Từ đó góp phần tạo hứng thú khi
viết văn, rèn luyện ý thức, yêu thích bộ môn tiếng Việt cho học sinh.
Do khả năng tư duy của học sinh còn ở mức đơn giản, trực quan nên
việc nhận biết biện pháp so sánh còn những hạn chế nhất định. Khả
năng nhận biết về nghệ thuật nhân hóa của một số em học sinh chỉ mới
dừng lại ở mức biết sự vật ở một cách cụ thể, khi tiếp thu về nghệ thuật
và làm các bài tập về nhân hóa còn rất khó khăn. Chính điều đó khiến
tôi luôn trăn trở, suy nghĩ: Làm thế nào? Bằng cách nào để khơi gợi ở
học sinh hứng thú, say mê học tập và nâng cao chất lượng phân môn
tập làm văncho học sinh 4 Ba nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
Vì vậy, tôi chọn biện pháp: “Một số giải pháp hướng dẫn học sinh
khai thác và sử dụng biện pháp nghệ thuật (nhân hóa) nhằm nâng
cao chất lượng viết văn miêu tả lớp 4 - KNTT”
II. MỤC ĐÍCH LỰA CHỌN BIỆN PHÁP
Góp phần giúp học sinh phát triển kĩ năng giao tiếp, biết phân
biệt,biết cách sử dụng hình ảnh so sánh, tạo điều kiện để học sinh
phát triển một cách toàn diện đồng thời giúp giáo viên có được các
phương pháp rèn luyện học sinh về kĩ năng sử dụng hình ảnh nhân
hóa.
III. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP
1. Nội dung biện pháp
- Tìm hiểu năng lực học tập của học sinh, phân loại đối tượng học sinh.
- Tích hợp liên môn, áp dụng các phương pháp dạy học tích hợp
2. Cách tiến hành:
Để đạt được các mục đích như đã nêu ở trên, trong quá trình giảng dạy tôi đã
tiến hành triển khai như sau:
Giải pháp 1: : Phân loại đối tượng học sinh lớp.
Bước vào đầu năm học, tôi được ban giám hiệu phân công chủ nhiệm lớp
4A3. Lớp tôi có tổng số 32 học sinh trong đó có 19 học sinh nam và 13 học
sinh nữ; 29 học sinh người dân tộc, 1học sinh khuyết tật, 2 học sinh mồ côi.
Sau khi nhận lớp tôi đã tiến hành tìm hiểu thực tế lực học của từng em và phân
loại đối tượng học sinh.
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn quan tâm tới từng đối tượng học sinh và
phát huy khả năng học tập của từng em.Đối với những học sinh còn hạn chế về
nhận thức tôi cần tìm hiểu về nguyên nhân: Do sự phát triển chậm về trí tuệ,
kiến thức không vững chắc, thái độ học tập không đúng, do hoàn cảnh gia đình
gặp nhiều khó khăn...Từ đó, tôi lập kế hoạch kèm cặp giúp đỡ và bồi dưỡng học
sinh. Trong mỗi tiết học tôi thường đặt ra câu hỏi dễ nhằm tạo hứng thú và giúp
các em nắm được các kiến thức cơ bản của phân môn. Còn với học sinh đã nắm
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn quan tâm tới từng đối tượng học sinh và
phát huy khả năng học tập của từng em.Đối với những học sinh còn hạn chế về
nhận thức tôi cần tìm hiểu về nguyên nhân: Do sự phát triển chậm về trí tuệ,
kiến thức không vững chắc, thái độ học tập không đúng, do hoàn cảnh gia đình
gặp nhiều khó khăn...Từ đó, tôi lập kế hoạch kèm cặp giúp đỡ và bồi dưỡng học
sinh. Trong mỗi tiết học tôi thường đặt ra câu hỏi dễ nhằm tạo hứng thú và giúp
các em nắm được các kiến thức cơ bản của phân môn. Còn với học sinh đã nắm
chắc kiến thức tôi sẽ đưa ra các câu hỏi mở rộng để phát huy tính sáng tạo của
các em
Giải pháp 2: Rèn kỹ năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật và tích lũy vốn
từ ngữ thông qua các môn học khác.
Trong những tiết học thực hành Tập làm văn trên lớp, tiết học tăng cường, cùng
với việc hướng dẫn làm văn, tôi kết hợp hướng dẫn làm một số dạng bài tập cụ
thể là khi dạy bài “Biện pháp nhân hóa” (trang 78 tiếng Việt 4 tập 1 bộ sách Kết
nối tri thức với cuộc sống):
•*Em hãy chọn từ (trong ngoặc đơn dưới đây) điền vào chỗ chấm để có hình ảnh nhân hoá:
•Kìa trên nụ hồng còn ướt đẫm sương mai, một …. bướm vàng đang rung rung đôi cánh. Hình như đã ngửi thấy mùi hương thơm của
bông hoa mới nở ở cành trên. Chị vẫy nhẹ đôi cánh đậu nhẹ nhàng. Thế rồi cái lưỡi dài đã cuộn thành ống hút. Chị duỗi ống lưỡi ra, đưa
đầu lưỡi nhúng vào mật ngọt hút say sưa. Chắc chị đang…“Chà! Sao mà ngọt thế!” Rồi chị vẫy nhẹ đôi cánh, chập chờn bay đi. Cái râu
rung rung như muốn …. “Cảm ơn bạn hoa nhé, mật của bạn thật tuyệt!” (chị, nói, nghĩ)
•*Em hãy viết các câu sau thành các câu có hình ảnh nhân hoá:
•- Buổi sáng những cánh buồm nâu trên biển đẹp quá.
•- Đôi cánh gà mẹ xoè ra che chở cho bầy con.
•- Ánh nắng mai chiếu trên mái nhà và trên khoảng sân rộng.
•Với kiểu bài tập này học sinh có thể viết được các câu như:
•- Buổi sáng, những cánh buồm nâu trên biển giống như những cánh bướm dập dờn.
•- Đôi cánh gà mẹ xoè ra như hai mái nhà che chở cho bầy con.
•- Ánh nắng mai đùa vui trên mái nhà và trên khoảng sân rộng.
•- Trên tán lá bàng, bầy chim đang ríu rít chuyện trò.
•* Hướng dẫn học sinh thực hành sử dụng biện pháp nghệ thuật.
•Trong thực tế, khi dạy bất kì một tiết luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả nào, nếu các em nêu miệng câu văn, đoạn văn miêu tả
đặc điểm từng bộ phận của sự vật đó, tôi gợi ý cho các em hình dung, tưởng tượng sự vật đó một cách cụ thể, sống động bằng cách thêm
vào những hình ảnh nhân hoá.
+ Bông hoa hồng xinh đẹp.
Viết lại:
Bông hoa hồng xinh đẹp đang tươi cười và thì thầm tỏa hương
thơm. (Biện pháp nhân hoá).
*Bài tập viết đoạn
Ví dụ 1: Mỗi từ in đậm trong văn dưới đây dùng để gọi con vật
nào? Em có nhận xét gì về cách dùng những từ đó trong đoạn văn?
(bài 1 trang 78 tiếng Việt 4 tập 1 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc
sống)
•Hướng dẫn học sinh đây là biện pháp nhân hóa các động vật bằng cách sử dụng tên gọi như tên gọi người, cụ thể:
•+ Anh: chuồn ớt ; Cô: chuồn chuồn
•+ Ả: cánh cam
•+ Chị: cào cào
•+ Bác: giang, dẽ
•Ví dụ 2: Khi yêu cầu học sinh hãy viết đoạn văn ngắn miêu tả hình dáng con vật mà em yêu thích.
•+ Một học sinh đã nêu miệng đoạn thân bài như sau:Mẹ của đàn gà con là con gà mái hoa mơ. Với bộ lông với
nhiều đốm trắng, sáng lên màu nắng khiến hoa mơ nổi bật giữa bầy con. Cái mào của hoa mơ ngày xưa đỏ tươi bây giờ
Đoạn văn của học sinh đã tả được tương đối cụ thể hình dáng của một chú
gà mẹ, song cần có sự chân thực và cần thể hiện được sức sống của một “bà mẹ
gà”.
+ Tôi gợi ý học sinh cách sửa:
- Từ “con” có thể dùng từ gì để thay thế làm cho hoa mơ giống một bà mẹ
thực sự ? (chị, cô)
- Bộ lông hoa mơ sáng lên màu nắng hay sáng lên như màu nắng ?
- Đôi cánh hoa mơ giống như vật gì để che chở được đàn con ?
+ Đoạn văn được học sinh sửa lại là:
Chị gà mái hoa mơ ra dáng là một bà mẹ đảm đang của đàn gà con. Với
bộ lông có nhiều đốm trắng, sáng lên như màu nắng khiến hoa mơ nổi bật giữa
bầy con. Cái mào của chị hoa mơ ngày xưa đỏ tươi bây giờ chuyển sang màu đỏ
sậm. Hai con mắt tròn xoe liếc ngang, liếc dọc của hoa mơ vừa tìm mồi, vừa
trông con. Mỗi khi có nguy hiểm hoa mơ liền dùng đôi cánh như hai mái nhà để
che chở cho đàn con thơ dại.
Trong mỗi tiết học Tập làm văn miêu tả, tôi luôn kiên trì hướng dẫn học
sinh khai thác, sử dụng biện pháp nghệ thuật giúp học sinh từng bước, từng
bước viết văn miêu tả ngày càng hay và đạt hiệu quả tốt.
Giải pháp 3: Tăng cường áp dụng, kĩ thuật dạy học tích cực
- Giải pháp này sẽ giúp học sinh phát huy sự tham gia chủ động vào quá trình dạy học, kích thích tư duy,
sáng tạo và cộng tác làm việc của từng học sinh.
- Muốn được như vậy giáo viên phải nỗ lực và kiên trì để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp
học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp
nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Học sinh học tập biểu hiện ở những dấu hiệu
như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của
mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận
dụng kiến thức...
Ảnh 1 minh họa: Học sinh thảo luận theo cặp đôi
Ảnh 2 minh họa: Học sinh thảo luận theo nhóm
•Giải pháp 4: Rèn kỹ năng tự kiểm tra đánh giá khả năng của mình và của bạn:
•
Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học là tư duy cụ thể. Do đó trong giảng dạy, giáo viên cần đưa ra những ví dụ cụ thể
để học sinh hình dung, hiểu rõ cách làm. Vì vậy trong các giờ trả bài viết, sau khi nhận xét và hướng dẫn học sinh chữa lỗi, tôi chọn
những bài văn hay, đạt điểm cao của học sinh trong lớp để biểu dương, sau đó đọc cho cả lớp cùng nghe. Đọc xong, tôi đặt ra một số câu
hỏi để các em trả lời.
• Ví dụ: - Bài làm của bạn hay ở chỗ nào? Sáng tạo ở chỗ nào?
• - Em học tập được những gì từ bài làm của bạn?...
•
Trả lời đúng các câu hỏi của giáo viên đặt ra là học sinh đã học tập được chính bạn của mình.
•
Ngoài ra trong quá trình dạy học, tôi tích lũy được rất nhiều những bài văn hay của học sinh trong các năm học trước, tôi đọc
•4. Điều kiện thực hiện
1. Đối với giáo viên:
•Trong quá trình giảng dạy chú trọng hình thành khả năng học tốt môn tập làm văn. Đặc biệt là việc sử dụng biện pháp nhân hóa đề
viết được bài văn tả con vật cho học sinh, giáo viên cần phải kiên trì, bền bỉ, phải đầu tư thời gian, tổng kết đánh giá để nắm bắt sự
chuyển biến của mỗi học sinh. Khi học sinh tiến bộ, giáo viên cần khen ngợi, khuyến khích học sinh kịp thời.
•Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ qua quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện, tìm tòi, sáng tạo, phát huy tối đa vai trò của
giáo viên trong tiết tập làm văn, nhất là việc vận dụng các thao tác, hình thức tổ chức tiết dạy. Kịp thời uốn nắn, điều chỉnh khi các em
làm bài chưa sát hoặc lệch lạc với nội dung bài tập để đem lại kết quả cao trong học tập và rèn luyện của học sinh.
•Giáo viên quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh, nhất là đối với những học sinh còn hạn chế về khả năng viết văn của lớp
1. Đối với học sinh:
Tập trung lắng nghe, thực hiện theo hướng dẫn của giáo viên trong quá trình thảo luận, trao đổi để tìm ra cách dùng từ đặt
câu, viết câu văn có sử dụng biện pháp nhân hóa. Mạnh dạn trình bày trước nhóm, trước lớp.
Thường xuyên đọc sách tham khảo liên quan đến môn Tiếng Việt, Luyện từ và câu, tập làm văn để học tập cách dùng từ,
tìm từ, diễn đạt,... để trau dồi thêm vốn ngôn từ của bản thân.
•2. Hiệu quả của các biện pháp đã thực hiện.
Tiêu chí
Trước khi áp dụng
Sau khi áp dụng
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Học sinh yêu thích, đam mê với phân môn Tập làm văn
13/32
40,6%
32/32
100%
Học sinh biết cách đặt câu có sử dụng biện pháp nhân hóa
15/32
53,1%
30/32
93,8%
Học sinh biết lồng ghép phép nhân hóa giúp bài văn trở nên cảm xúc, mềm mại hơn
2/32
6,3%
29/32
90,6%
Bảng khảo sát hiệu quả khai thác và sử dụng biện pháp tu từ (nhân hóa) của học sinh lớp 4 trước và sau khi áp dụng biện
pháp:
TRƯỜNG PTDTBT TIỂU HỌC PA TẦN
Giáo viên: Phạm Thị Hòa
THUYẾT TRÌNH
“Một số giải pháp hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng biện pháp
nghệ thuật (nhân hóa) nhằm nâng cao chất lượng viết văn miêu tả
lớp 4A3 – Trường PTDTBT tiểu học Pa Tần”
I. SỰ CẦN THIẾT
II. MỤC ĐÍCH LỰA CHỌN B IỆN PHÁP
III. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP
IV. HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
I. SỰ CẦN THIẾT
Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông, nó được dùng để giao tiếp chính
thức giữa người với người trong cộng đồng các dân tộc trên đất nước
Việt Nam. Bởi vậy, “Tiếng Việt” luôn là bộ môn quan trọng trong dạy
học, giúp học sinh nâng cao năng lực cảm thụ văn học.
Các bộ phận cấu thành của môn Tiếng Việt trong trường tiểu học
bao gồm: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn.
Phân môn Luyện từ và câu là phân môn khởi đầu của các phân môn
khác. Trong đó, biện pháp nhân hóa có khả năng khắc họa hình ảnh và
gây ấn tượng mạnh để làm cho lời nói rõ ràng, diễn đạt được mọi sắc
thái biểu cảm một cách sinh động. Từ đó góp phần tạo hứng thú khi
viết văn, rèn luyện ý thức, yêu thích bộ môn tiếng Việt cho học sinh.
Do khả năng tư duy của học sinh còn ở mức đơn giản, trực quan nên
việc nhận biết biện pháp so sánh còn những hạn chế nhất định. Khả
năng nhận biết về nghệ thuật nhân hóa của một số em học sinh chỉ mới
dừng lại ở mức biết sự vật ở một cách cụ thể, khi tiếp thu về nghệ thuật
và làm các bài tập về nhân hóa còn rất khó khăn. Chính điều đó khiến
tôi luôn trăn trở, suy nghĩ: Làm thế nào? Bằng cách nào để khơi gợi ở
học sinh hứng thú, say mê học tập và nâng cao chất lượng phân môn
tập làm văncho học sinh 4 Ba nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
Vì vậy, tôi chọn biện pháp: “Một số giải pháp hướng dẫn học sinh
khai thác và sử dụng biện pháp nghệ thuật (nhân hóa) nhằm nâng
cao chất lượng viết văn miêu tả lớp 4 - KNTT”
II. MỤC ĐÍCH LỰA CHỌN BIỆN PHÁP
Góp phần giúp học sinh phát triển kĩ năng giao tiếp, biết phân
biệt,biết cách sử dụng hình ảnh so sánh, tạo điều kiện để học sinh
phát triển một cách toàn diện đồng thời giúp giáo viên có được các
phương pháp rèn luyện học sinh về kĩ năng sử dụng hình ảnh nhân
hóa.
III. CÁC BƯỚC THỰC HIỆN BIỆN PHÁP
1. Nội dung biện pháp
- Tìm hiểu năng lực học tập của học sinh, phân loại đối tượng học sinh.
- Tích hợp liên môn, áp dụng các phương pháp dạy học tích hợp
2. Cách tiến hành:
Để đạt được các mục đích như đã nêu ở trên, trong quá trình giảng dạy tôi đã
tiến hành triển khai như sau:
Giải pháp 1: : Phân loại đối tượng học sinh lớp.
Bước vào đầu năm học, tôi được ban giám hiệu phân công chủ nhiệm lớp
4A3. Lớp tôi có tổng số 32 học sinh trong đó có 19 học sinh nam và 13 học
sinh nữ; 29 học sinh người dân tộc, 1học sinh khuyết tật, 2 học sinh mồ côi.
Sau khi nhận lớp tôi đã tiến hành tìm hiểu thực tế lực học của từng em và phân
loại đối tượng học sinh.
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn quan tâm tới từng đối tượng học sinh và
phát huy khả năng học tập của từng em.Đối với những học sinh còn hạn chế về
nhận thức tôi cần tìm hiểu về nguyên nhân: Do sự phát triển chậm về trí tuệ,
kiến thức không vững chắc, thái độ học tập không đúng, do hoàn cảnh gia đình
gặp nhiều khó khăn...Từ đó, tôi lập kế hoạch kèm cặp giúp đỡ và bồi dưỡng học
sinh. Trong mỗi tiết học tôi thường đặt ra câu hỏi dễ nhằm tạo hứng thú và giúp
các em nắm được các kiến thức cơ bản của phân môn. Còn với học sinh đã nắm
Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn quan tâm tới từng đối tượng học sinh và
phát huy khả năng học tập của từng em.Đối với những học sinh còn hạn chế về
nhận thức tôi cần tìm hiểu về nguyên nhân: Do sự phát triển chậm về trí tuệ,
kiến thức không vững chắc, thái độ học tập không đúng, do hoàn cảnh gia đình
gặp nhiều khó khăn...Từ đó, tôi lập kế hoạch kèm cặp giúp đỡ và bồi dưỡng học
sinh. Trong mỗi tiết học tôi thường đặt ra câu hỏi dễ nhằm tạo hứng thú và giúp
các em nắm được các kiến thức cơ bản của phân môn. Còn với học sinh đã nắm
chắc kiến thức tôi sẽ đưa ra các câu hỏi mở rộng để phát huy tính sáng tạo của
các em
Giải pháp 2: Rèn kỹ năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật và tích lũy vốn
từ ngữ thông qua các môn học khác.
Trong những tiết học thực hành Tập làm văn trên lớp, tiết học tăng cường, cùng
với việc hướng dẫn làm văn, tôi kết hợp hướng dẫn làm một số dạng bài tập cụ
thể là khi dạy bài “Biện pháp nhân hóa” (trang 78 tiếng Việt 4 tập 1 bộ sách Kết
nối tri thức với cuộc sống):
•*Em hãy chọn từ (trong ngoặc đơn dưới đây) điền vào chỗ chấm để có hình ảnh nhân hoá:
•Kìa trên nụ hồng còn ướt đẫm sương mai, một …. bướm vàng đang rung rung đôi cánh. Hình như đã ngửi thấy mùi hương thơm của
bông hoa mới nở ở cành trên. Chị vẫy nhẹ đôi cánh đậu nhẹ nhàng. Thế rồi cái lưỡi dài đã cuộn thành ống hút. Chị duỗi ống lưỡi ra, đưa
đầu lưỡi nhúng vào mật ngọt hút say sưa. Chắc chị đang…“Chà! Sao mà ngọt thế!” Rồi chị vẫy nhẹ đôi cánh, chập chờn bay đi. Cái râu
rung rung như muốn …. “Cảm ơn bạn hoa nhé, mật của bạn thật tuyệt!” (chị, nói, nghĩ)
•*Em hãy viết các câu sau thành các câu có hình ảnh nhân hoá:
•- Buổi sáng những cánh buồm nâu trên biển đẹp quá.
•- Đôi cánh gà mẹ xoè ra che chở cho bầy con.
•- Ánh nắng mai chiếu trên mái nhà và trên khoảng sân rộng.
•Với kiểu bài tập này học sinh có thể viết được các câu như:
•- Buổi sáng, những cánh buồm nâu trên biển giống như những cánh bướm dập dờn.
•- Đôi cánh gà mẹ xoè ra như hai mái nhà che chở cho bầy con.
•- Ánh nắng mai đùa vui trên mái nhà và trên khoảng sân rộng.
•- Trên tán lá bàng, bầy chim đang ríu rít chuyện trò.
•* Hướng dẫn học sinh thực hành sử dụng biện pháp nghệ thuật.
•Trong thực tế, khi dạy bất kì một tiết luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả nào, nếu các em nêu miệng câu văn, đoạn văn miêu tả
đặc điểm từng bộ phận của sự vật đó, tôi gợi ý cho các em hình dung, tưởng tượng sự vật đó một cách cụ thể, sống động bằng cách thêm
vào những hình ảnh nhân hoá.
+ Bông hoa hồng xinh đẹp.
Viết lại:
Bông hoa hồng xinh đẹp đang tươi cười và thì thầm tỏa hương
thơm. (Biện pháp nhân hoá).
*Bài tập viết đoạn
Ví dụ 1: Mỗi từ in đậm trong văn dưới đây dùng để gọi con vật
nào? Em có nhận xét gì về cách dùng những từ đó trong đoạn văn?
(bài 1 trang 78 tiếng Việt 4 tập 1 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc
sống)
•Hướng dẫn học sinh đây là biện pháp nhân hóa các động vật bằng cách sử dụng tên gọi như tên gọi người, cụ thể:
•+ Anh: chuồn ớt ; Cô: chuồn chuồn
•+ Ả: cánh cam
•+ Chị: cào cào
•+ Bác: giang, dẽ
•Ví dụ 2: Khi yêu cầu học sinh hãy viết đoạn văn ngắn miêu tả hình dáng con vật mà em yêu thích.
•+ Một học sinh đã nêu miệng đoạn thân bài như sau:Mẹ của đàn gà con là con gà mái hoa mơ. Với bộ lông với
nhiều đốm trắng, sáng lên màu nắng khiến hoa mơ nổi bật giữa bầy con. Cái mào của hoa mơ ngày xưa đỏ tươi bây giờ
Đoạn văn của học sinh đã tả được tương đối cụ thể hình dáng của một chú
gà mẹ, song cần có sự chân thực và cần thể hiện được sức sống của một “bà mẹ
gà”.
+ Tôi gợi ý học sinh cách sửa:
- Từ “con” có thể dùng từ gì để thay thế làm cho hoa mơ giống một bà mẹ
thực sự ? (chị, cô)
- Bộ lông hoa mơ sáng lên màu nắng hay sáng lên như màu nắng ?
- Đôi cánh hoa mơ giống như vật gì để che chở được đàn con ?
+ Đoạn văn được học sinh sửa lại là:
Chị gà mái hoa mơ ra dáng là một bà mẹ đảm đang của đàn gà con. Với
bộ lông có nhiều đốm trắng, sáng lên như màu nắng khiến hoa mơ nổi bật giữa
bầy con. Cái mào của chị hoa mơ ngày xưa đỏ tươi bây giờ chuyển sang màu đỏ
sậm. Hai con mắt tròn xoe liếc ngang, liếc dọc của hoa mơ vừa tìm mồi, vừa
trông con. Mỗi khi có nguy hiểm hoa mơ liền dùng đôi cánh như hai mái nhà để
che chở cho đàn con thơ dại.
Trong mỗi tiết học Tập làm văn miêu tả, tôi luôn kiên trì hướng dẫn học
sinh khai thác, sử dụng biện pháp nghệ thuật giúp học sinh từng bước, từng
bước viết văn miêu tả ngày càng hay và đạt hiệu quả tốt.
Giải pháp 3: Tăng cường áp dụng, kĩ thuật dạy học tích cực
- Giải pháp này sẽ giúp học sinh phát huy sự tham gia chủ động vào quá trình dạy học, kích thích tư duy,
sáng tạo và cộng tác làm việc của từng học sinh.
- Muốn được như vậy giáo viên phải nỗ lực và kiên trì để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp
học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp
nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Học sinh học tập biểu hiện ở những dấu hiệu
như: hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của
mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động vận
dụng kiến thức...
Ảnh 1 minh họa: Học sinh thảo luận theo cặp đôi
Ảnh 2 minh họa: Học sinh thảo luận theo nhóm
•Giải pháp 4: Rèn kỹ năng tự kiểm tra đánh giá khả năng của mình và của bạn:
•
Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học là tư duy cụ thể. Do đó trong giảng dạy, giáo viên cần đưa ra những ví dụ cụ thể
để học sinh hình dung, hiểu rõ cách làm. Vì vậy trong các giờ trả bài viết, sau khi nhận xét và hướng dẫn học sinh chữa lỗi, tôi chọn
những bài văn hay, đạt điểm cao của học sinh trong lớp để biểu dương, sau đó đọc cho cả lớp cùng nghe. Đọc xong, tôi đặt ra một số câu
hỏi để các em trả lời.
• Ví dụ: - Bài làm của bạn hay ở chỗ nào? Sáng tạo ở chỗ nào?
• - Em học tập được những gì từ bài làm của bạn?...
•
Trả lời đúng các câu hỏi của giáo viên đặt ra là học sinh đã học tập được chính bạn của mình.
•
Ngoài ra trong quá trình dạy học, tôi tích lũy được rất nhiều những bài văn hay của học sinh trong các năm học trước, tôi đọc
•4. Điều kiện thực hiện
1. Đối với giáo viên:
•Trong quá trình giảng dạy chú trọng hình thành khả năng học tốt môn tập làm văn. Đặc biệt là việc sử dụng biện pháp nhân hóa đề
viết được bài văn tả con vật cho học sinh, giáo viên cần phải kiên trì, bền bỉ, phải đầu tư thời gian, tổng kết đánh giá để nắm bắt sự
chuyển biến của mỗi học sinh. Khi học sinh tiến bộ, giáo viên cần khen ngợi, khuyến khích học sinh kịp thời.
•Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ qua quá trình tự bồi dưỡng, tự rèn luyện, tìm tòi, sáng tạo, phát huy tối đa vai trò của
giáo viên trong tiết tập làm văn, nhất là việc vận dụng các thao tác, hình thức tổ chức tiết dạy. Kịp thời uốn nắn, điều chỉnh khi các em
làm bài chưa sát hoặc lệch lạc với nội dung bài tập để đem lại kết quả cao trong học tập và rèn luyện của học sinh.
•Giáo viên quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh, nhất là đối với những học sinh còn hạn chế về khả năng viết văn của lớp
1. Đối với học sinh:
Tập trung lắng nghe, thực hiện theo hướng dẫn của giáo viên trong quá trình thảo luận, trao đổi để tìm ra cách dùng từ đặt
câu, viết câu văn có sử dụng biện pháp nhân hóa. Mạnh dạn trình bày trước nhóm, trước lớp.
Thường xuyên đọc sách tham khảo liên quan đến môn Tiếng Việt, Luyện từ và câu, tập làm văn để học tập cách dùng từ,
tìm từ, diễn đạt,... để trau dồi thêm vốn ngôn từ của bản thân.
•2. Hiệu quả của các biện pháp đã thực hiện.
Tiêu chí
Trước khi áp dụng
Sau khi áp dụng
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
Học sinh yêu thích, đam mê với phân môn Tập làm văn
13/32
40,6%
32/32
100%
Học sinh biết cách đặt câu có sử dụng biện pháp nhân hóa
15/32
53,1%
30/32
93,8%
Học sinh biết lồng ghép phép nhân hóa giúp bài văn trở nên cảm xúc, mềm mại hơn
2/32
6,3%
29/32
90,6%
Bảng khảo sát hiệu quả khai thác và sử dụng biện pháp tu từ (nhân hóa) của học sinh lớp 4 trước và sau khi áp dụng biện
pháp:
 







Các ý kiến mới nhất