Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ket noi tri thuc voi cuoc song

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hứa Nguyễn Duy
Ngày gửi: 19h:46' 09-12-2023
Dung lượng: 1.0 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
BÀI 3 : NGHỆ THUẬT THUYẾT PHỤC TRONG VĂN NGHỊ LUẬN
TIẾT 1,2
Văn bản 1
HIỀN TÀI LÀ NGUYÊN KHÍ CỦA QUỐC GIA
Thân Nhân Trung

I.Tri thức ngữ văn:
1. VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
a. KHÁI NIỆM
- Văn bản nghị luận là loại văn bản thể hiện chức năng thuyết phục thông qua một hệ thống luận điểm, lí lẽ
và bằng chứng được tổ chức chặt chẽ.
- Khi viết văn bản nghị luận tùy vào tính chất của thể loại được chọn, các tác giả cũng thường chú ý sử
dụng yếu tố biểu cảm và tự sự để làm tăng hiệu quả thuyết phục cho văn bản.
b. CÁC YẾU TỐ CHÍNH CỦA VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
* Luận đề
- Luận đề là vấn đề, tư tưởng, quan điểm, quan niệm…được tập trung bàn luận trong văn bản.
* Luận điểm
- Luận điểm là một ý kiến khái quát thể hiện tư tưởng, quan điểm, quan niệm của tác giả về luận đề. Nhờ hệ
thống luận điểm (gọi nôm na là hệ thống ý), các khía cạnh cụ thể của luận đề mới được làm nổi bật theo
một cách thức nhất định.
- Luận điểm cần được trình bày một cách rõ ràng, có hệ thống, có định hướng cụ thể và đảm bảo tính chính
xác cao.
* Lí lẽ, bằng chứng
- Lí lẽ, bằng chứng hay được gọi nôm na là luận cứ. Lí lẽ nảy sinh nhờ suy luận logic được dùng để giải
thích và triển khai luận điểm, giúp luận điểm trở nên sáng tỏ và đứng vững. Bằng chứng là những căn cứ cụ
thể, sinh động được triển khai từ thực tiễn hoặc từ các tài liệu sách báo nhằm xác nhận tính đúng đắn, hợp lí
của lí lẽ.

2. BÀI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Bài nghị luận xã hội là một trong nhiều dạng của văn nghị luận, đề cập các vấn đề xã hội được quan tâm rộng
rãi, không đi vào những vấn đề, lĩnh vực quá chuyên sâu nhằm tạo được sự hồi đáp tích cực, nhanh chóng từ
phía người đọc, người nghe. Đề tài của bài nghị luận xã hội rất phong phú, thường được xếp vào hai nhóm
chính:
- Bàn về một hiện tượng xã hội
- Bàn về một tư tưởng đạo lí
Đáp ứng yêu cầu chung của một văn bản nghị luận, bài nghị luận xã hội cũng phải xác lập được luận đề rõ
ràng, triển khai bằng hệ thống luận điểm tường minh với lí lẽ thuyết phục và bằng chứng xác đáng, có lời văn
chính xác, sinh động.
3. MẠCH LẠC VÀ LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN, ĐOẠN VĂN
- Mạch lạc là sự thống nhất ở bề sâu giữa các câu trong đoạn văn và giữa các đoạn văn trong văn bản ( các
câu xoay quanh tiểu chủ đề còn các đoạn thì cùng hướng tới chủ đề chung).
- Liên kết là sự thống nhất có thể nhận ra được trên bề mặt ngôn từ giữa các câu trong đoạn văn trong văn
bản nhờ sự hiện diện của những phương tiện, hình thức kết nối.
- Trong một văn bản, các đoạn văn đều phải hướng về chủ đề hoặc luận đề chung được sắp xếp theo một trình
tự hợp lí, nhằm giải quyết từng mục tiêu cụ thể như triển khai, mở rộng, khái quát vấn đề,…
- Trong một đoạn văn các câu đều phải phục vụ chủ đề của đoạn văn và liên kết với nhau bằng phép lặp, phép
thế, phép nối.

II-Tìm hiểu chung:
1.Tác giả
-Thân Nhân Trung (1418-1499)
- Quê quán: làng Yên Ninh – huyện Yên Dũng nay thuộc tỉnh Bắc Giang
- 1469 đỗ tiến sĩ
- Là phó nguyên soái trong Tao đàn văn học do Lê Thánh Tông sáng lập
2. Tác phẩm:
a/Thể loại:
- Văn bản nghị luận: Bày tỏ quan điểm nhìn nhận, đánh giá của người viết
- Thể loại văn học cụ thể là thể loại văn bia: Là loại văn khắc trên bia đá nhằm ghi chép những
sự việc trọng đại, hoặc những người có công đức lớn để lưu truyền cho đời sau. Có 3 loại:
+ Bia ghi công đức
+ Bia ghi việc xây dựng công trình kiến trúc
+ Bia lăng mộ
b/ Hoàn cảnh sáng tác
- Từ thời nhà Lý, nhà nước phong kiến Việt Nam đã rất chú ý tổ chức định kì các khoa thi tuyển
chọn nhân tài. Tuy nhiên, việc dựng bia lưu danh tên tuổi những người đỗ đạt cao nhất chỉ bắt
đầu được thực hiện dưới triều vua Lê Thánh Tông.
Năm Giáp Thìn 1484, bảy bia đề danh tiến sĩ đã được dựng lên ở Văn Miếu, ghi lại tên tuổi của
những bậc đỗ đại khoa kể từ năm Nhâm Tuất 1442 cho đến thời điểm đó. Thân Nhân Trung là
người đã “lĩnh thánh ý” soạn bài kí để khắc trên tấm bia đầu tiên. Do uy danh văn học và vị trí
trong triều của tác giả cũng như do tính chất mở màn của công việc mà tác giả đảm trách,
bài kí của Thân Nhân Trung thường dành được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu.

c/Đoạn trích “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”:
- Bài trích này nằm trong tác phẩm có tên là Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất hiệu Đại bảo
thứ ba, một trong 82 bài văn bia ở Văn Miếu Hà Nội
-Thuộc loại văn bia đề danh ghi công đức.
- Giải thích nhan đề:
+ Hiền tài: chỉ những người có tài, có đức, tài cao, đức lớn
+ Nguyên khí: khí chất ban đầu làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước, dân tộc
+ Ý nghĩa nhan đề: người hiền tài đóng vai trò vô cùng quan trọng, quý giá, không thể thiếu
- Nhận xét kết cấu: mở đầu đoạn văn tác giả khẳng định vị trí “nguyên khí” của hiền tài đối với
quốc gia và kết thúc cũng khẳng định vai trò “củng cố mệnh mạch cho nhà nước”. Đây là lối kết
cấu đồng tâm, nhằm nhấn mạnh vai trò của người hiền tài đối với quốc gia
- Nội dung của đoạn trích: khẳng định vai trò của người hiền tài đối với vận mệnh của đất nước,
đồng thời chỉ rõ mục đích tốt đẹp của việc đề danh tiến sĩ.

III. Đọc hiểu văn bản
1. Mối quan hệ mật thiết của người hiền tài đối với quốc gia
-Mối quan hệ giữa hiền tài với sự thịnh suy của đất nước. Nguyên khí
thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao và ngược lại: nguyên khí suy thì
thế nước yếu, rồi xuống thấp.
Cách lập luận theo kiểu diễn dịch bằng lối so sánh đối lập để thấy
chân lí rõ rang, hiển nhiên
- Các bậc thánh đế minh vương thể hiện thái độ trọng dụng hiền tài:
quý trọng, yêu mến, đề cao, ban ân rất lớn, nêu tên ở tháp Nhạn, ban
danh hiệu Long hổ, bày tiệc Văn hỉ.

Trả lời các câu hỏi sau:
- Giá trị của hiền tài đối với đất
nước?
- Để thấy được giá trị/vai trò của
người hiền tài, tác giả đã sử dụng
nghệ thuật lập luận gì?
- Thái độ trọng dụng hiền tài của
“các đấng thánh đế minh vương”?

2. Ý nghĩa của việc cho khắc bia ghi tên tiến sĩ

Trả lời các câu hỏi sau:
- Hãy ghi lại câu trực tiếp nói về mục đích của
việc dựng bia ghi danh những người đỗ tiến sĩ
- Xét về nội dung, đoạn 3 có mối quan hệ như
thế nào với đoạn 2?
- Khái quát nội dung của đoạn 4. Và cho biết
đoạn văn này đảm nhận chức năng gì trong
mạch lập luận
- Việc dựng đá đề bia khắc tên những người đỗ
tiến sĩ có ý những ý nghĩa gì?

- Câu trực tiếp nói về mục đích của việc dựng bia ghi danh những người đỗ tiến sĩ nằm ở đoạn 3: “Nay thánh minh lại
cho rằng, chuyện hay việc tốt tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên
lại dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng
sức giúp vua”.
-Đoạn 2 có hai ý lớn và ý sẽ được triển khai thêm ở đoạn 3 nói về sự trọng đãi của triều đình đối với bậc hiền tài. Bằng
chứng được nêu thêm: vua cho dựng đá đề danh đặt ở cửa Hiền Quan. Trong văn bản, sự triển khai và bổ sung này rất
cần thiết, vì nó chuyển mạch lập luận từ chỗ bàn về nguyên lí chung tới bàn về những chuyện cụ thể như chuyện dựng
bia – sự việc trực tiếp dẫn tới sự ra đời của bài kí này
- Đoạn 4 là lời tự vấn thể hiện thái độ tự trọng của kẻ sĩ trước sự tôn vinh, kì vọng của triều đình, rộng ra là của cả đất
nước. Ở góc độ khác, nó cũng có thể được xem là lời “khích tướng”, nhằm cổ vũ, động viên các bậc hiền tài. Chính đoạn
4 đã tạo ra bước chuyển của mạch lập luận, để đoạn tiếp theo đi thẳng vào nội dung khuyến cáo một cách tự nhiên.

- Việc dựng đá đề bia khắc tên những người đỗ tiến sĩ có ý những ý nghĩa to lớn
+ Khuyến khích được người hiền ra giúp nước, khiến cho kẻ sĩ trong vào mà phấn chấn
hâm mộ rèn giũa danh tiết gắng sức giúp vua
+ Ngăn ngừa điều ác, kẻ ác khiến cho ý xấu bị ngăn chặn, lòng thiện tràn đầy; kẻ ác thấy
đó làm răn, người thiện xem đó mà cố gắng
+ Đối với đất nước, việc khắc bia tiến sĩ có tác dụng “dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai”
góp phần làm cho hiền tài nảy nở, đất nước hung thịnh, phát triển “rèn giũa danh tiếng
cho sĩ phu vừa để củng cố mệnh mạch cho nước nhà”

3.Nghệ thuật
- Luận đề của văn bản là Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Lí do xác định như vậy: Tất cả luận điểm trong
văn bản đều được triển khai và bố trí xoay quanh tư tưởng này,
-Có 3 luận điểm nhằm trả lời cho các câu hỏi của luận đề:
+ Vì sao hiền tài được xem là nguyên khí của quốc gia?
+ Khi xem hiền tài là nguyên khí của quốc gia, các đấng “thánh đế minh vương” đã làm gì?
+Người hiền tài phải tỏ thái độ trách nhiệm thế nào đối với thế nước, vận nước?
Khi phân tích tư cách phát ngôn của tác giả, ta vừa có điều kiện đánh giá thoả đáng quan niệm,
tư tưởng của ông, vừa có cơ hội hiểu rõ sự chi phối rất tinh tế của yếu tố này trong cấu trúc văn bản nghị
luận.
-Việc thống nhất hai tư cách của người viết trong bài văn (tư cách người truyền đạt “thánh ý” và tư cách
người kẻ sĩ tự trọng) đã khiến cho cách triển khai luận điểm trong bài trở nên uyển chuyển, linh hoạt, vừa xác
quyết rắn rỏi, dứt khoát, vừa thiết tha, giàu cảm xúc, hết sức thuyết phục.
-Luận đề của văn bản Hiền tài là nguyên khí của quốc gia chính là điều được nêu trong tên văn bản ấy. Tác
giả không nói về hiền tài một cách vô mục đích, mà nói về hiền tài trong quan hệ với quốc gia và khẳng định
nó là “nguyên khí của quốc gia”. Ngay hai chữ “hiền tài” có thể đã ngầm chứa bên trong một tư tưởng, quan
điểm, quan niệm của tác giả hay của người giao phó việc viết bản văn bia này cho tác giả.

IV. Tổng kết
1.Nội dung
- Khẳng định tầm quan trọng của hiền tài đối với quốc gia và ý nghĩa to lớn của
việc khắc bia đề danh tiến sĩ
- Trách nhiệm của tác giả đối với sự nghiệp xây dựng đất nước
2. Nghệ thuật
- Kết cấu chặt chẽ,lập luận khúc chiết, giàu sức thuyết phục
- Luận đề cụ thể, luận điểm và luận cứ rõ ràng,lời lẽ sắc sảo

HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP & VẬN DỤNG
Anh/chị hãy viết đoạn văn khoảng 150 chữ nêu suy nghĩ của mình về sự cần
thiết của việc trọng dụng hiền tài.
Hướng dẫn :
Bài làm cần có các ý sau:
+ Cộng đồng cần những gì ở các bậc hiền tài?
+Các bậc hiền tài có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước như thế
nào?
+Chính sách trọng dụng hiền tài cần
được thể hiện trên các việc làm cụ thể ra sao?
+Đâu là những điều chưa thoả đáng mà bạn có thể nhận thấy xung quanh vấn đề
này?
+ Bạn có thể làm gì để cùng cộng đồng nâng cao ý thức bảo vệ nguồn chất xám
trí tuệ của đất nước?...

Bài làm mẫu:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” là chân lý mà mỗi quốc gia phát triển đều
phải quan tâm chú ý. Quốc gia có nhiều hiền tài và biết sử dụng hiền tài thì sẽ
phát triển vững mạnh. Ngày nay Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng người tài:
có những chính sách lớn để đào tạo bồi dưỡng và thu hút nhân tài phục vụ công
việc đổi mới và xây dựng đất nước, với quan điểm đúng đắn: “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu”. Vì thế, điều kiện học tập của học sinh-sinh viên không ngừng
được nâng lên, giúp cho người học có thể phát huy hết khả năng của mình. Tuy
nhiên thực tế ở một số nơi, điều kiện thực tế làm việc và chế độ đãi ngộ nhân tài
hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, vẫn xảy ra hiện tượng “chảy máu chất xám”, làm
cho việc trọng dụng nhân tài chưa thật tốt. Nhưng đó chỉ là tồn tại ở một số nơi
thôi. Vì vậy học sinh cần phải học tập và trau dồi tài năng để có thể đónggóp trí
lực một cách tốt nhất dựng xây đất nước. Đó là trách nhiệm của tuổi trẻ hôm nay.
 
Gửi ý kiến