chuyên đề 2023

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Lan
Ngày gửi: 10h:10' 21-12-2023
Dung lượng: 11.2 MB
Số lượt tải: 738
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Ngọc Lan
Ngày gửi: 10h:10' 21-12-2023
Dung lượng: 11.2 MB
Số lượt tải: 738
Số lượt thích:
0 người
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
“SỬ
DỤNG HIỆU QUẢ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP,
KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG
GIẢNG DẠY BỘ MÔN KHTN TẠI TRƯỜNG
THCS YÊN ĐỨC”
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ MỘT
SỐ PHƯƠNG PHÁP, KĨ
II. THỰC TRẠNG
THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG GIẢNG DẠY BỘ
MÔN KHTN TẠI TRƯỜNG
THCS YÊN ĐỨC
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC
HIỆN
IV. KẾT LUẬN
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ
TÀI
Theo nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu
rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung
dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển
năng lực. Theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông: Đổi mới
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo
dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền
thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt
nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Năm học 2021-2022 là một năm học đáng nhớ, đánh dấu sự thay đổi lớn trong giáo dục
trung học cơ sở với việc thay sách giáo khoa lớp 6. Trong dạy học môn khoa học tự nhiên giúp học sinh không những mở
rộng vốn tri thức nào đó mà còn giúp họ hình thành năng lực tư duy, khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề. Chính vì
vậy, trong các giờ dạy học khoa học tự nhiên 7 nói riêng và môn khoa học thực nghiệm nói chung giáo viên cần phải
giúp học sinh khơi dậy và nuôi dưỡng khát vọng tự tìm ra câu trả lời cho một vấn đề đã nêu, cảm giác hài lòng khi đã nỗ
lực khám phá để giải quyết thành công vấn đề nảy sinh để rồi từ đó kích thích sự phát triển năng lực tư duy, lòng say mê
khám phá khoa học của học sinh.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ
Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Khoa
học tự nhiên là môn học bắt buộc ở THCS, được xây dựng và
phát triển dựa trên các kiến thức, kỹ năng cốt lõi về KHTN, giúp
học sinh phát triển về các phẩm chất, năng lực được hình thành
và phát triển ở cấp tiểu học; tiếp tục hoàn thiện tri thức, kỹ năng
nền tảng và phương pháp học tập để tiếp tục học lên THPT, học
nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động. Bên cạnh đó, môn
này còn lồng ghép một số nội dung giáo dục như giáo dục kỹ
thuật, sức khoẻ, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
TÀI
Khoa học tự nhiên là một môn khoa học thực nghiệm, có tính giáo dục và ứng dụng
cao. Môn khoa học tự nhiên cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, phổ thông
và khoa học, rèn cho học sinh khả năng quan sát, phân tích, so sánh, tư duy trừu tượng,
khái quát nhanh nhạy, kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng
trong tự nhiên mà các em đã từng biết, từng thấy. Việc dạy và học tập môn Khoa học tự
nhiên không dễ nhưng cũng không quá khó mà đòi hỏi ở giáo viên và học sinh phải có
phương pháp dạy và học như thế nào để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn học khoa học tự nhiên, tôi hiểu rõ những khó
khăn trong quá trình hướng dẫn học tập cho học sinh, làm thế nào để học sinh tiếp thu
kiến thức một cách chủ động? làm cách nào để học sinh không chỉ nâng cao về mặt
nhận thức mà còn phát triển về mặt năng lực?.. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn
nghiên cứu đề tài: “Sử dụng hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
trong giảng dạy bộ môn KHTN tại trường THCS Yên Đức”.
I. THỰC TRẠNG
•1. Thực trạng
•1.1. Thực trạng sách KHTN
•Chương trình môn Khoa học Tự nhiên của lớp 6, 7, 8, 9 đều có 3 phần tương ứng với kiến thức thuộc lĩnh vực
Vật lí, Sinh học, Hoá học được sắp xếp theo trình tự thời gian như sau:
•Lớp 6: Hoá học (20%) - Vật lí (32%) - Sinh học (38%)
•Lớp 7: Hoá học (24%) - Vật lí (28%) - Sinh học (38%)
•Lớp 8: Hoá học (31%) - Vật lí (28%) - Sinh học (31%)
•Lớp 9: Hoá học (31%) - Vật lí (30%) - Sinh học (29%)
•Về mặt nội dung, so với sách giáo khoa theo mô hình dạy học hiện hành, kiến thức môn KHTN được biên soạn
với cách thức phát triển học sinh về cả nhận thức lẫn năng lực, có những kiến thức yêu cầu học sinh phải tư duy, thậm
chí học sinh phải “động tay” (thực nghiệm) thì mới có câu trả lời đầy đủ và chính xác. Từ đó mới hình thành và phát
triển tư duy và năng lực trong cuộc sống của học sinh. Muốn học tập đạt hiệu quả, học sinh phải thực sự năng động,
chủ động trong quá trình tìm tòi kiến thức vì giáo viên ở đây chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn để học sinh tự mình
tìm ra kiến thức mà thôi. Vì thế đây cũng là thách thức cho nhiều giáo viên nếu không chủ động tìm ra giải pháp để
hướng dẫn hiệu quả thì học sinh sẽ tiếp thu kiến thức không tốt ngay.
I. THỰC TRẠNG
2. Thực trạng giảng dạy:
Trường THCS Yên Đức nằm trên địa bàn xã Yên Đức là một xã thuần nông, điều
kiện kinh tế còn khó khăn. Nhiều phụ huynh đi làm ăn xa nên chưa quan tâm con em
nhiều.
Thuận lợi:
Việc triển khai thực hiện luôn được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo các
cấp. Cơ sở vật chất đủ cho việc thực hiện học tạo điều kiện thuận lợi cho việc
tổ chức các hoạt động học cho học sinh như hệ thống wifi, mạng internet. Sĩ số
học sinh phù hợp với qui định, bàn ghế, cơ sở vật chất cơ bản đầy đủ. HS được
trang bị tài liệu, sách hướng dẫn học với các kênh hình trong tài liệu nhiều
màu sắc, đẹp phù hợp với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở. Nội dung chương
trình gần gủi với cuộc sống của các em nên các em dễ dàng nhận biết và tiếp
cận.
Khó khăn:
Một số học sinh còn chưa chăm chỉ học tập, chưa có hứng thú với môn
học. Một số học sinh gia đình còn hướng học các môn Toán, Văn, Anh để thi
cấp 3 nên môn khoa học tự nhiên phần nào bị coi nhẹ. Kỹ năng điều hành của
nhóm trưởng chưa quen, thao tác chậm. Một số học sinh còn rụt rè, nhút nhát;
nhiều em chưa biết hợp tác trong học tập. Do nhu cầu kinh tế xã hội, hầu hết
các phụ huynh chưa quan tâm đúng mực việc học tập của con em mình. Phụ
huynh chưa tiếp cận kịp chương trình nên chưa hướng dẫn con em học tập ở
nhà được tốt, do đó phần hoạt động vận dụng và hoạt động tìm tòi mở rộng
một số học sinh chưa hoàn thành (chủ yếu giáo viên tổ chức thực hiện trên
lớp). Môn khoa học tự nhiên 6 bao gồm các môn học thực nghiệm Lý – Hóa –
Sinh, muốn đạt kết quả cao học sinh cần phải tìm tòi khám phá trong thực tế
để hiểu thêm kiến thức mà học sinh trong xã thì điều kiện kinh tế còn nhiều
khó khăn nên nhiều em phải vừa học vừa phụ giúp gia đình.
2. Các giải pháp
Sau khi đã nghiên cứu và nắm rõ các phương pháp kĩ thuật dạy học tôi nghiên cứu xem
phương pháp, kĩ thuật đó áp dụng phù hợp vào bài nào rồi vận dụng vào thực tế. Qua mỗi
một tiết dạy bản thân tôi luôn suy nghĩ để rút ra kinh nghiệm liệu các phần kiến thức mà
mình đã áp dụng phương pháp kĩ thuật đã hợp lí chưa. Trong quá trình áp dụng bản thân tôi
nhận thấy không một phương pháp nào là tối ưu cho tất cả các dạng bài mà chúng ta cần vận
dụng phối hợp các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sao cho linh hoạt, khơi dạy
được trí tò mò của học sinh. Mỗi một bài học mà học sinh được hoạt động sôi nổi, được tự
thảo luận có khi còn tranh luận gay gắt về một vấn đề nào đó thì bài học đó , phần kiến thức
đó học sinh sẽ nhớ rất lâu. Qua thực tế bản thân tôi thấy một số phương pháp kĩ thuật hiệu
quả, dễ áp dụng đó là:
II. NỘI
DUNG
1
Dạy học dự án
2
Dạy học nhóm
CỦA
BIỆN
3
Dạy học kĩ thuật sơ đồ tư duy
PHÁP
4
Phương pháp đóng vai
5
Dạy học theo trạm
Dạy học theo dự án
Nội dung phương pháp
Là kiểu dạy học trong đó học sinh (hoặc từng nhóm) được giao nhiệm vụ tổng hợp từ xác định mục
tiêu, lập kế hoạch thực hiện kế hoạch, kiểm tra và tự điều chỉnh quá trình thực hiện, đánh giá kết quả sản
phẩm....của một công việc nào đó theo nhiệm vụ môn học. Đây là kiểu dạy học có hiệu quả cao nhất trong
việc phát huy tính tích cực của học sinh.
Dạy học theo dự án thường được tiến hành theo các bước sau:
1. Giáo viên cung cấp những thông tin ban đầu có liên quan đến chủ đề học tập (mục tiêu và các nhiệm vụ
từng nhóm học sinh)
2. Lập kế hoạch.
3. Chọn phương án hành động.
4. Thực hiện kế hoạch theo phương án đã chọn.
5. Tự đánh giá của học sinh và đánh giá của giáo viên.
6. Rút kinh nghiệm và định hướng tiếp cho các hoạt động khác.
Ví dụ minh họa: Khi dạy bài 7 Oxygen và không khí- Khoa học tự nhiên 6 Cánh
Diều.
Phần II- 3. Sự ô nhiễm không khí và một số biện pháp bảo vệ môi trường không
khí giáo viên giao dự án: “Tuyên truyền về nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
không khí” cho các nhóm chuẩn bị tại nhà. Học sinh sẽ tự lập kế hoạch, chọn
phương án và xây dựng các kịch bản thực hiện. Sau khi học sinh thực hiện giáo
viên chốt các kiến thức và rút kinh nghiệm cho học sinh.
Học sinh trình bày sản phẩm: “Hậu quả ô nhiễm không khí”
Học sinh trình bày sản phẩm bức tranh:
“Mẹ thiên nhiên nổi giận”
Học sinh trình bày sản phẩm: “Chiếc ô tô tái chế”
Bức tranh: “Mẹ thiên nhiên nổi giận”
Học sinh trình bày sản phẩm: “Tái chế rác thải”
Sản phẩm: “Tái chế rác thải”
Kết quả:
Qua sử dụng phương pháp này sẽ thuận lợi cho tính tích cực của
học sinh được khơi dậy, duy trì và phát triển, học sinh sẽ tự đánh giá
được kết quả học tập của mình. Qua sử dụng phương pháp này tôi nhận
thấy đây là kiểu dạy học có hiệu quả cao nhất trong việc phát huy tính
tích cực của học sinh.
Lưu ý khi áp dụng: Tuy nhiên khi thực hiện các dự án giáo viên cần
căn cứ năng lực, sở trường học sinh để giao dự án phù hợp để đạt hiệu
quả cao nhất.
Phương pháp 2. Dạy học theo nhóm.
Nội dung phương pháp:
Bản chất của học tập học theo nhóm: Lớp học được chia thành nhóm nhỏ (thường từ 4 đến 6 học
sinh hoặc từng cặp) trao đổi, thảo luận những vấn đề đặt, sau đó cử đại điện trình bày trước lớp để cả
lớp thảo luận. Các nhóm được phân chia một cách ngẫu nhiên hoặc có chủ ý, ổn định trong cả tiết
học hay thay đổi từng phần của tiết học. Các nhóm có thể được giao cùng một nhiệm vụ hoặc những
nhiệm vụ khác nhau. Mỗi thành viên trong nhóm được phân công hoàn thành một phần việc. Mọi
người phải làm việc tích cực không ỷ lại vào một vài người có hiểu biết rộng và năng động hơn. Kết
quả làm việc của mỗi nhóm đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp.
Đặc điểm của học tập theo nhóm.
Học sinh có thể tự tin, làm việc độc lập và hợp tác trong nhóm; qua đó làm mỗi thành viên trong
nhóm quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Có tác dụng phát triển và củng cố các mối quan hệ và kỹ năng giao tiếp của học sinh, đồng thời rèn
luyện cho học sinh ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tương trợ trong cộng đồng. Học sinh có cơ hội tự
thể hiện mình và phát triển. Rèn luyện cho học sinh tư duy nhận xét, phê phán, đánh giá. Làm tăng
hiệu quả học tập, nhất là khi giả quyết một vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các
cá nhân để hoàn thành công việc chung.
Tiến trình dạy học theo nhóm gồm các bước sau:
Bước 1: Làm việc chung cả lớp (nêu mục tiêu của bài, tổ chức các nhóm và giao
nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm, hướng dẫn cách làm việc theo nhóm)
Bước 2: Làm việc theo nhóm (trao đổi ý kiến, thỏa luận trong nhóm, phân công
trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi, cử đại diện trình bày kết
quả)
Bước 3: Thảo luận, tổng kết toàn lớp (các nhóm báo cáo kết quả làm việc, thảo
luận chung cả lớp, giáo viên nhận xét và bổ xung kết luận)
Tùy theo đặc điểm bài dạy mà thời gian dành cho các bước, các giai đoạn trên
có thể khác nhau. Các cấu trúc trên cơ bản là lôgic, bảo đảm toàn diện các nhiệm
vụ dạy học. Tuy nhiên, khi sử dụng các cấu trúc trên cần chú ý một số vấn đề sau:
Các nhiệm vụ của bài lên lớp không nên quá ôm đồm, do đó phải xác định được
nhiệm vụ trọng tâm. Các bài lên lớp đều lặp lại theo một tiến trình quen thuộc, gò
bó, ảnh hưởng đến sự sáng tạo của giáo viên và hứng thú của học sinh.
Kết quả:
Khi sử dụng phương pháp này mỗi thành viên trong nhóm sẽ phát huy được
vốn hiểu biết rộng và năng động hơn trong học tập tạo sự hứng thú, ham thích với
môn học, làm tăng hiệu quả học tập, nhất là khi giả quyết một vấn đề gay cấn, lúc
xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành công việc chung. Kết quả
làm việc của mỗi nhóm đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp.
Học sinh tham gia thảo luận nhóm
Học sinh các nhóm phản biện
Lưu ý khi áp dụng: Đây là phương pháp tôi thường xuyên sử dụng
trong các bài dạy của mình. Kinh nghiệm bản thân tôi nhận thấy nếu
chuẩn bị, tổ chức không chu đáo thì việc học tập theo nhóm sẽ trở
thành làm việc độc thoại của một người. Giáo viên cần chú ý xây
dựng kĩ năng làm nhóm trưởng cho các học sinh trong nhóm. Vì khi
nhóm trưởng được thay phiên nhau học sinh sẽ có trách nhiệm hơn
tránh việc ỷ lại vào các bạn. Trong khi hoạt động nhóm giáo viên nên
chú ý quan sát và nhắc nhở các học sinh chưa tích cực. Khi các nhóm
báo cáo kết quả cũng nên thay phiên nhau tránh để một vài học sinh
thường xuyên báo cáo.
Kĩ thuật sơ đồ tư duy
Nội dung kĩ thuật
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là “bản đồ tư duy” (Mind Map) là một công cụ tổ
chức tư duy được tác giả Tony Buzan (sinh năm 1942, người Anh, chuyên gia hàng
đầu thế giới về nghiên cứu hoạt động của bộ não và là cha đẻ của Mind Map)
nghiên cứu và phổ biến rộng rãi. SDTD là con đường dễ nhất để chuyển tải thông
tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Đây là phương tiện ghi chép đầy
sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng ý nghĩa “sắp xếp ý nghĩ dưới dạng sơ đồ”. Sơ đồ
tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và
đào sâu các ý tưởng; tóm tắt những ý chính của một nội dung; hệ thống hoá kiến
thức nhờ sự kết nối giữa các nhánh. Các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ
tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng. Vì vậy, sơ đồ tư duy
huy động tối đa tiềm năng của não bộ, giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền, giúp
người học học tập tích cực, giúp con người khai thác được tiềm năng vô tận của bộ
não.
Thực hiện:
Nghiên cứu kĩ phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học để nắm được các
căn cứ, nguyên tắc xây dựng các dạng sơ đồ cơ bản để vận dụng phù hợp
với đặc thù môn học và tự rèn luyện cho mình một năng lực xây dựng sơ
đồ hóa nội dung dạy học bằng sơ đồ tư duy. Nghiên cứu kĩ nội dung
chương trình của từng môn học, mục tiêu của từng bài dạy và nội dung
kiến thức trong sách giáo khoa để xây dựng được một sơ đồ nội dung dạy.
Kết quả:
Sử dụng sơ đồ tư duy giúp tôi cung cấp được cách nhìn tổng quan về chủ đề.
Bên cạnh đó học sinh cũng có thể tiếp nhận nội dung bài học một cách tổng
quan và chính xác nâng cao hiệu quả học tập. Học sinh sẽ không phải tiếp nhận
thông tin một cách thụ động mà ngược lại học sinh phải suy nghĩ, sáng tạo, ghi
nhớ các kiến thức đã học một cách logic. Một lợi ích nữa khi sử dụng Mindmap
trong học tập đó là học sinh có thể trình bày nội dung bài học một cách khoa học,
dễ hiểu, dễ nhớ. Các em vừa ghi chép kết hợp sử dụng hình ảnh, màu sắc, sáng
tạo ý tưởng để tóm tắt nội dung bài học, chủ động ghi nhớ kiến thức. Từ đó kích
thích hứng thú học tập, phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não.
Lưu ý khi thực hiện: Khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần lưu ý
hướng dẫn học sinh tô màu các nhánh của sơ đồ bằng màu sắc hài hòa, tránh quá
nhiều màu gây rối mắt. Các nhánh được lựa chọn phải trọng tâm, không để quá
nhiều nhánh.
Phương pháp đóng vai
Nội dung phương pháp
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử
nào đó trong một tình huống giả định. `Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu
sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện
hoặc quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều
quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy.
Quy trình thực hiện
Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau:
Bước 1: Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho
từng nhóm. Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi
nhóm.
Bước 2: Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai.
Bước 3: Các nhóm lên đóng vai.
Bước 4: Lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử và cảm xúc của các vai diễn; về ý
Ví dụ minh họa:
Trong bài 9- Một số lương thực- thực phẩm thông dụng- KHTN 6 Cánh DiềuII. Vai trò của lương thực thực phẩm.
Giáo viên có thể phân công hướng dẫn cho học sinh tổ chức hội chợ ẩm thực.
Trong đó học sinh sẽ đóng vai chuyên gia dinh dưỡng giải thích một số tác dụng
và vai trò của lương thực thực phẩm như: vai trò tinh bột, chất béo, chất đạm, các
vitamin và khoáng chất. Hoặc học sinh đóng vai người bán hàng giới thiệu về sản
phẩm của mình.
Học sinh tổ chức hội chợ ẩm thực
Học sinh đóng vai “người bán hàng”
Kết quả:
Qua quá trình vận dụng phương pháp đóng vai tôi nhận thấy được những tín hiệu tích
cực từ phía học sinh: Học sinh được chuẩn bị các vai diễn từ đó có những cái nhìn rõ
ràng hơn về vấn đề đã nêu. Khi học sinh muốn làm chuyên gia thì bản thân phải tìm hiểu
kĩ về các kiến thức đó như vậy học sinh sẽ ghi nhớ kiến thức sâu hơn. Các tình huống
đóng vai sẽ gây cảm giác thoải mái, sôi nổi khiến giờ học tập bớt căng thẳng, học sinh
yêu thích, say mê học tập hơn. Ngoài ra khi vận dụng phương pháp đóng vai đã khích lệ
sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực.
Lưu ý khi thực hiện:
Khi thực hiện tôi nhận thấy phương pháp này đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo, công
phu (trừ một số tình huống giao tiếp giả định bất ngờ trên lớp), học sinh cần dành nhiều
thời gian và đầu tư trang phục để có thể cho ra những sản phẩm chất lượng. Một số học
sinh còn hạn chế về năng khiếu diễn xuất, chưa thực sự tự tin khi đứng trước đám đông
giáo viên nên khuyến khích học sinh tham gia.
Phương
pháp
dạy học
theo
trạm
GV có thể tổ chức cho HS hoạt động học tập tự lực tại các vị
trí không gian lớp học để giải quyết các vấn đề trong học tập. Hệ
thống các trạm thường được thiết kế, bố trí theo hình thức các
vòng tròn khép kín trong không gian lớp học.
Hoạt động của HS tại các trạm là hoàn toàn tự do, dưới sự
định hướng của GV, HS phải tự xoay xở để vượt qua các trạm.
Do đó, dạy học theo trạm tập trung vào "tự chủ và tự học", rèn
luyện thói quen tự lực giải quyết vấn đề cho HS.
Dạy học theo trạm là một phương pháp tổ chức dạy học dựa
trên hình thức làm việc tại các trạm.
Đặc trưng: Phải đảm bảo sự linh hoạt, các nhiệm vụ phải có tính độc
lập với nhau.
Trong trường hợp dạy học các bài học có các đơn vị kiến thức có liên
hệ logic chặt chẽ ta có thể tổ chức bài học thành nhiều hệ thống trạm(vòng
tròn học tập) khác nhau, sao cho các nhiệm vụ trong mỗi hệ thống trạm là
độc lập.
Bước 1: Chia nhóm: Có thể cho HS tự chia nhóm ngay tại lớp, hoặc có thể cho HS chia nhóm
trước và phân công nhiệm vụ. Cần chia nhóm ngay từ đầu để việc học được thuận lợi.
Bước 2: Thống nhất nội qui học tập theo trạm.
Phương
pháp
dạy học
GV giới thiệu nội dung học tập tại các trạm học tập, số lượng các trạm, các trạm bắt buộc và tự
chọn. Thông báo quy tắc cho điểm mỗi cá nhân, giới thiệu phiếu học tập và cách làm việc trên
các phiếu học tập, yêu cầu trợ giúp,… Tất cả các nội quy đưa ra đảm bảo cho việc học tập tại các
trạm được diễn ra một cách tự lực, chủ động, hạn chế mất trật tự, tối ưu hóa thời gian làm việc,..
Bước 3: Thực hiện nhiệm vụ - Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ học tập ở mỗi trạm, HS làm việc cá
nhân, theo cặp hoặc theo nhóm tại các trạm học tập. Giáo viên quan sát và có sự hỗ trợ kịp thời.
Bước 4: Tổng kết kết quả học tập - Sau mỗi buổi học cần dành ra một khoảng thời gian để tổng
theo
trạm
kết bài học. Yêu cầu các nhóm, cá nhân trình bày tiến trình thực hiện nhiệm vụ ở một trạm nào
đó, trình bày các kết quả thu được và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân. Các thành viên
khác, nhóm khác đưa ra nhậnxét góp ý bổ sung và đánh giá.Giáo viên là người chỉ đạo. Sau cùng
là GV tổng kết bài học và nhấn mạnh lại các kiến thức quan
trọng của bài.
Dạy học theo trạm có những ưu điểm nổi trội sau:
- Học sinh được tự chủ, tích cực hoạt động tham gia giải quyết các nhiệm vụ học tập.
- Học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả của cá nhân và của nhóm mình qua đó nâng cao năng lực
Phương
đánh giá của bản thân.
pháp
pháp giải quyết vấn đề.
dạy học
-Học sinh có cơ hội nâng cao kĩ năng làm việc theo nhóm, các kĩ năng tranh luận, các phương
- Giúp giáo viên cá biệt hóa được trình độ của từng học sinh, qua đó bồi dưỡng học sinh giỏi và
rèn luyện học sinh yếu.
- Nâng cao hứng thú của học sinh nhờ các nhiệm vụ học tập tích cực đặc biệt là những nhiệm vụ
thiết kế, chế tạo và thực hiện các thí nghiệm đơn giản.
theo
trạm
- Khắc phục được khó khăn thiếu thốn về trang thiết bị nếu cho học sinh tiến hành đồng loạt.
Phương
pháp
dạy học
Đi đôi với những ưu điểm nói trên, hình thức dạy học theo trạm có những điểm hạn chế sau:
- Giáo viên phải có thời gian chuẩn bị nội dung và nguyên vật liệu công phu, chịu khó hơn, phải
nổ lực hơn trong việc soạn giảng bằng ĐDDH. Đơn cử GVcần chuẩn bị sẵn các bảng biểu của
từng trạm, các hộp để đựng các gói câu hỏi, các bảng đáp án và các “ phiếu thông hành”để khi
HS đã hoàn thành từng trạm thì nhanh chóng tiến đến các trạm tiếp theo.
- Thời gian cần để tiến hành dạy học một đơn vị kiến thức theo hình thức này thường dài hơn
thời gian khi dạy dưới hình thức truyền thống.
theo
trạm
Dạy học theo trạm là một trong những hình thức dạy học mở. Trong đó
học sinh tích cực, tự chủ chiếm lĩnh tri thức. Nó không chỉ phù hợp với
Phương
các giờ học nội khóa mà còn rất phù hợp với giờ học ngoại khóa. Trong
pháp
hơn về mức độ yêu cầu cũng như không gian học tập. Nội dung các
dạy học
gian học tập không chỉ giới hạn trong phạm vi lớp học mà có thể mở rông
theo
trạm
giờ học ngoại khóa, các nhiệm vụ học tập hoàn toàn có thể được mở rộng
nhiệm vụ sẽ không còn giới hạn trong nội dung sách giáo khoa và không
ra ở sân trường, trong thư viện, tại phòng máy tính và tại xưởng trường.
Với những ưu điểm và tiềm năng lớn của hình thức dạy học này, việc
nghiên cứu, phát triển và vận dụng hình thức dạy học trong dạy học
KHTN nói riêng và trong dạy học phổ thông nói chung là cần thiết và có
ý nghĩa.
Chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm lớn chia HS thành 2 nhóm (6
HS), mỗi nhóm thực hiện nhiệm vụ trong phiếu học tập tại mỗi
trạm là 4 phút. Sau 4 phút, các nhóm di chuyển sang các trạm
khác để thực hiện nhiệm vụ, cho đến khi hoàn thành các trạm
Trạm
1
Trạm
4
Trạm
2
Trạm
3
Phiếu học tập số 1
(Trạm 1) Đọc SGK nêu
cách tiến hành thí nghiệm
1,2 ?
(Trạm 2) tiến hành thí
nghiệm nếu hiện tượng quan
sát được vào phiếu học tập ?
Phiếu học tập số 2
2.(Trạm 3) Luyện tập 2,3/
SGK/48.
3.(Trạm 4) Rút ra tính chất
hóa học của acid?
TRẠM 1:
PHÂN TÍCH
PHT 1
TRẠM 2:
TRẢI
NGHIỆMPHT 1
TRẠM 4:
KẾT LUẬN
TRẠM 3:
LUYỆN TẬP,
VẬN DỤNG
PHT 2
N
Ậ
U
L
T
Ế
K
.
V
I
Sau quá trình tiếp thu và hình thành các kỹ năng học tập theo phương pháp mới, học sinh đã trở nên tích
cực, hứng thú hơn với bài học. Các em nhanh chóng thích ứng với việc tiếp thu bài học mới và củng cố khắc sâu
bài học cũ. Từ đó các em có niềm say mê thích thú tìm tòi, nghiên cứu các bài học trong sách vở và thực tiễn
xung quanh, không còn sợ kiểm tra bài cũ, sợ lên bảng hay ngại xung phong trả lời…
Việc dạy học trên lớp với đối tượng là những học sinh có học lực trung bình, yếu, kém đòi hỏi giáo viên
phải tìm cách thức hiệu quả nhất để truyền tải kiến thức tới cho học sinh tiếp thu một cách tự nhiên, thông qua
các hình thức hoạt động, các hình thức kiểm tra kiến thức, tạo không khí học thân thiện, vui vẻ…Mỗi học sinh
đều cảm thấy mình cũng có khả năng, cũng làm được và được đánh giá cao khi thực hiện, bày tỏ…
Đối với học sinh có học lực khá giỏi, việc các em được hoạt động nhiều hơn trong giờ học, được thể hiện
hết khả năng học lực cũng như sự đam mê, sáng tạo của mình là điều kiện để các em hoàn thiện hơn nữa năng
lực bản thân, tham gia vào các quá trình hợp tác… hình thành tư duy hiện đại trong thời đại mới.
Các phương pháp dạy học trên có thể thay thế phương pháp giảng dạy truyền thống. Mặt khác, các
phương pháp này có thể sử dụng kết hợp với nhiều phương pháp dạy học khác nhau phù hợp với tâm lý học
sinh, điều kiện cơ sở vật chất và nội dung bài học…tạo nên tính phong phú cho tiết dạy.
HỊ
G
N
N
Ế
Y
U
H
K
V.
- Nhà trường tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất, đảm bảo giờ học và thực hành bộ môn Khoa học tự nhiên
được thực hiện đúng chương trình.
- Tổ chức các nhóm, câu lạc bộ bạn yêu môn học để học sinh có sân chơi trí tuệ thể hiện vốn hiểu biết của
bản thân, ngoại khóa, tham quan, thực nghiệm.
- Tham gia giao lưu với các trường bạn về hội giảng, tìm tòi áp dụng các phương pháp kỹ thuật dạy học tích
cực.
- Tổ chức các chuyên đề bộ môn có tính chất điển hình cho giáo viên có điều kiện trao đổi kinh nghiệm
nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn.
- Xây dựng nội dung buổi sinh hoạt chuyên môn theo bài học để tập trung vào tìm giải pháp nâng cao chất
lượng dạy học cho từng bài học cụ thể.
Do kinh nghiệm chưa nhiều nên có thể còn nhiều nội dung chưa thật sâu sắc. Vì vậy hiệu quả của nó chưa
thực sự có tính khái quát cao. Nhưng tôi hi vọng rằng, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo điều kiện cho tôi
mở rộng nghiên cứu của mình sang các phần kiến thức khác nhau của chương trình, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học Khoa học tự nhiên ở trường trung học cơ sở. Tôi rất mong được sự góp ý của đồng nghiệp và
cấp trên để có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả trong việc giảng dạy của mình.
“SỬ
DỤNG HIỆU QUẢ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP,
KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG
GIẢNG DẠY BỘ MÔN KHTN TẠI TRƯỜNG
THCS YÊN ĐỨC”
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ MỘT
SỐ PHƯƠNG PHÁP, KĨ
II. THỰC TRẠNG
THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
TRONG GIẢNG DẠY BỘ
MÔN KHTN TẠI TRƯỜNG
THCS YÊN ĐỨC
III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC
HIỆN
IV. KẾT LUẬN
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ
TÀI
Theo nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu
rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung
dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển
năng lực. Theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông: Đổi mới
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo
dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền
thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt
nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Năm học 2021-2022 là một năm học đáng nhớ, đánh dấu sự thay đổi lớn trong giáo dục
trung học cơ sở với việc thay sách giáo khoa lớp 6. Trong dạy học môn khoa học tự nhiên giúp học sinh không những mở
rộng vốn tri thức nào đó mà còn giúp họ hình thành năng lực tư duy, khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề. Chính vì
vậy, trong các giờ dạy học khoa học tự nhiên 7 nói riêng và môn khoa học thực nghiệm nói chung giáo viên cần phải
giúp học sinh khơi dậy và nuôi dưỡng khát vọng tự tìm ra câu trả lời cho một vấn đề đã nêu, cảm giác hài lòng khi đã nỗ
lực khám phá để giải quyết thành công vấn đề nảy sinh để rồi từ đó kích thích sự phát triển năng lực tư duy, lòng say mê
khám phá khoa học của học sinh.
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ
Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Khoa
học tự nhiên là môn học bắt buộc ở THCS, được xây dựng và
phát triển dựa trên các kiến thức, kỹ năng cốt lõi về KHTN, giúp
học sinh phát triển về các phẩm chất, năng lực được hình thành
và phát triển ở cấp tiểu học; tiếp tục hoàn thiện tri thức, kỹ năng
nền tảng và phương pháp học tập để tiếp tục học lên THPT, học
nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động. Bên cạnh đó, môn
này còn lồng ghép một số nội dung giáo dục như giáo dục kỹ
thuật, sức khoẻ, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững
TÀI
Khoa học tự nhiên là một môn khoa học thực nghiệm, có tính giáo dục và ứng dụng
cao. Môn khoa học tự nhiên cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, phổ thông
và khoa học, rèn cho học sinh khả năng quan sát, phân tích, so sánh, tư duy trừu tượng,
khái quát nhanh nhạy, kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện tượng
trong tự nhiên mà các em đã từng biết, từng thấy. Việc dạy và học tập môn Khoa học tự
nhiên không dễ nhưng cũng không quá khó mà đòi hỏi ở giáo viên và học sinh phải có
phương pháp dạy và học như thế nào để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn học khoa học tự nhiên, tôi hiểu rõ những khó
khăn trong quá trình hướng dẫn học tập cho học sinh, làm thế nào để học sinh tiếp thu
kiến thức một cách chủ động? làm cách nào để học sinh không chỉ nâng cao về mặt
nhận thức mà còn phát triển về mặt năng lực?.. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn
nghiên cứu đề tài: “Sử dụng hiệu quả một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
trong giảng dạy bộ môn KHTN tại trường THCS Yên Đức”.
I. THỰC TRẠNG
•1. Thực trạng
•1.1. Thực trạng sách KHTN
•Chương trình môn Khoa học Tự nhiên của lớp 6, 7, 8, 9 đều có 3 phần tương ứng với kiến thức thuộc lĩnh vực
Vật lí, Sinh học, Hoá học được sắp xếp theo trình tự thời gian như sau:
•Lớp 6: Hoá học (20%) - Vật lí (32%) - Sinh học (38%)
•Lớp 7: Hoá học (24%) - Vật lí (28%) - Sinh học (38%)
•Lớp 8: Hoá học (31%) - Vật lí (28%) - Sinh học (31%)
•Lớp 9: Hoá học (31%) - Vật lí (30%) - Sinh học (29%)
•Về mặt nội dung, so với sách giáo khoa theo mô hình dạy học hiện hành, kiến thức môn KHTN được biên soạn
với cách thức phát triển học sinh về cả nhận thức lẫn năng lực, có những kiến thức yêu cầu học sinh phải tư duy, thậm
chí học sinh phải “động tay” (thực nghiệm) thì mới có câu trả lời đầy đủ và chính xác. Từ đó mới hình thành và phát
triển tư duy và năng lực trong cuộc sống của học sinh. Muốn học tập đạt hiệu quả, học sinh phải thực sự năng động,
chủ động trong quá trình tìm tòi kiến thức vì giáo viên ở đây chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn để học sinh tự mình
tìm ra kiến thức mà thôi. Vì thế đây cũng là thách thức cho nhiều giáo viên nếu không chủ động tìm ra giải pháp để
hướng dẫn hiệu quả thì học sinh sẽ tiếp thu kiến thức không tốt ngay.
I. THỰC TRẠNG
2. Thực trạng giảng dạy:
Trường THCS Yên Đức nằm trên địa bàn xã Yên Đức là một xã thuần nông, điều
kiện kinh tế còn khó khăn. Nhiều phụ huynh đi làm ăn xa nên chưa quan tâm con em
nhiều.
Thuận lợi:
Việc triển khai thực hiện luôn được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo các
cấp. Cơ sở vật chất đủ cho việc thực hiện học tạo điều kiện thuận lợi cho việc
tổ chức các hoạt động học cho học sinh như hệ thống wifi, mạng internet. Sĩ số
học sinh phù hợp với qui định, bàn ghế, cơ sở vật chất cơ bản đầy đủ. HS được
trang bị tài liệu, sách hướng dẫn học với các kênh hình trong tài liệu nhiều
màu sắc, đẹp phù hợp với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở. Nội dung chương
trình gần gủi với cuộc sống của các em nên các em dễ dàng nhận biết và tiếp
cận.
Khó khăn:
Một số học sinh còn chưa chăm chỉ học tập, chưa có hứng thú với môn
học. Một số học sinh gia đình còn hướng học các môn Toán, Văn, Anh để thi
cấp 3 nên môn khoa học tự nhiên phần nào bị coi nhẹ. Kỹ năng điều hành của
nhóm trưởng chưa quen, thao tác chậm. Một số học sinh còn rụt rè, nhút nhát;
nhiều em chưa biết hợp tác trong học tập. Do nhu cầu kinh tế xã hội, hầu hết
các phụ huynh chưa quan tâm đúng mực việc học tập của con em mình. Phụ
huynh chưa tiếp cận kịp chương trình nên chưa hướng dẫn con em học tập ở
nhà được tốt, do đó phần hoạt động vận dụng và hoạt động tìm tòi mở rộng
một số học sinh chưa hoàn thành (chủ yếu giáo viên tổ chức thực hiện trên
lớp). Môn khoa học tự nhiên 6 bao gồm các môn học thực nghiệm Lý – Hóa –
Sinh, muốn đạt kết quả cao học sinh cần phải tìm tòi khám phá trong thực tế
để hiểu thêm kiến thức mà học sinh trong xã thì điều kiện kinh tế còn nhiều
khó khăn nên nhiều em phải vừa học vừa phụ giúp gia đình.
2. Các giải pháp
Sau khi đã nghiên cứu và nắm rõ các phương pháp kĩ thuật dạy học tôi nghiên cứu xem
phương pháp, kĩ thuật đó áp dụng phù hợp vào bài nào rồi vận dụng vào thực tế. Qua mỗi
một tiết dạy bản thân tôi luôn suy nghĩ để rút ra kinh nghiệm liệu các phần kiến thức mà
mình đã áp dụng phương pháp kĩ thuật đã hợp lí chưa. Trong quá trình áp dụng bản thân tôi
nhận thấy không một phương pháp nào là tối ưu cho tất cả các dạng bài mà chúng ta cần vận
dụng phối hợp các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sao cho linh hoạt, khơi dạy
được trí tò mò của học sinh. Mỗi một bài học mà học sinh được hoạt động sôi nổi, được tự
thảo luận có khi còn tranh luận gay gắt về một vấn đề nào đó thì bài học đó , phần kiến thức
đó học sinh sẽ nhớ rất lâu. Qua thực tế bản thân tôi thấy một số phương pháp kĩ thuật hiệu
quả, dễ áp dụng đó là:
II. NỘI
DUNG
1
Dạy học dự án
2
Dạy học nhóm
CỦA
BIỆN
3
Dạy học kĩ thuật sơ đồ tư duy
PHÁP
4
Phương pháp đóng vai
5
Dạy học theo trạm
Dạy học theo dự án
Nội dung phương pháp
Là kiểu dạy học trong đó học sinh (hoặc từng nhóm) được giao nhiệm vụ tổng hợp từ xác định mục
tiêu, lập kế hoạch thực hiện kế hoạch, kiểm tra và tự điều chỉnh quá trình thực hiện, đánh giá kết quả sản
phẩm....của một công việc nào đó theo nhiệm vụ môn học. Đây là kiểu dạy học có hiệu quả cao nhất trong
việc phát huy tính tích cực của học sinh.
Dạy học theo dự án thường được tiến hành theo các bước sau:
1. Giáo viên cung cấp những thông tin ban đầu có liên quan đến chủ đề học tập (mục tiêu và các nhiệm vụ
từng nhóm học sinh)
2. Lập kế hoạch.
3. Chọn phương án hành động.
4. Thực hiện kế hoạch theo phương án đã chọn.
5. Tự đánh giá của học sinh và đánh giá của giáo viên.
6. Rút kinh nghiệm và định hướng tiếp cho các hoạt động khác.
Ví dụ minh họa: Khi dạy bài 7 Oxygen và không khí- Khoa học tự nhiên 6 Cánh
Diều.
Phần II- 3. Sự ô nhiễm không khí và một số biện pháp bảo vệ môi trường không
khí giáo viên giao dự án: “Tuyên truyền về nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
không khí” cho các nhóm chuẩn bị tại nhà. Học sinh sẽ tự lập kế hoạch, chọn
phương án và xây dựng các kịch bản thực hiện. Sau khi học sinh thực hiện giáo
viên chốt các kiến thức và rút kinh nghiệm cho học sinh.
Học sinh trình bày sản phẩm: “Hậu quả ô nhiễm không khí”
Học sinh trình bày sản phẩm bức tranh:
“Mẹ thiên nhiên nổi giận”
Học sinh trình bày sản phẩm: “Chiếc ô tô tái chế”
Bức tranh: “Mẹ thiên nhiên nổi giận”
Học sinh trình bày sản phẩm: “Tái chế rác thải”
Sản phẩm: “Tái chế rác thải”
Kết quả:
Qua sử dụng phương pháp này sẽ thuận lợi cho tính tích cực của
học sinh được khơi dậy, duy trì và phát triển, học sinh sẽ tự đánh giá
được kết quả học tập của mình. Qua sử dụng phương pháp này tôi nhận
thấy đây là kiểu dạy học có hiệu quả cao nhất trong việc phát huy tính
tích cực của học sinh.
Lưu ý khi áp dụng: Tuy nhiên khi thực hiện các dự án giáo viên cần
căn cứ năng lực, sở trường học sinh để giao dự án phù hợp để đạt hiệu
quả cao nhất.
Phương pháp 2. Dạy học theo nhóm.
Nội dung phương pháp:
Bản chất của học tập học theo nhóm: Lớp học được chia thành nhóm nhỏ (thường từ 4 đến 6 học
sinh hoặc từng cặp) trao đổi, thảo luận những vấn đề đặt, sau đó cử đại điện trình bày trước lớp để cả
lớp thảo luận. Các nhóm được phân chia một cách ngẫu nhiên hoặc có chủ ý, ổn định trong cả tiết
học hay thay đổi từng phần của tiết học. Các nhóm có thể được giao cùng một nhiệm vụ hoặc những
nhiệm vụ khác nhau. Mỗi thành viên trong nhóm được phân công hoàn thành một phần việc. Mọi
người phải làm việc tích cực không ỷ lại vào một vài người có hiểu biết rộng và năng động hơn. Kết
quả làm việc của mỗi nhóm đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp.
Đặc điểm của học tập theo nhóm.
Học sinh có thể tự tin, làm việc độc lập và hợp tác trong nhóm; qua đó làm mỗi thành viên trong
nhóm quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội.
Có tác dụng phát triển và củng cố các mối quan hệ và kỹ năng giao tiếp của học sinh, đồng thời rèn
luyện cho học sinh ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tương trợ trong cộng đồng. Học sinh có cơ hội tự
thể hiện mình và phát triển. Rèn luyện cho học sinh tư duy nhận xét, phê phán, đánh giá. Làm tăng
hiệu quả học tập, nhất là khi giả quyết một vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các
cá nhân để hoàn thành công việc chung.
Tiến trình dạy học theo nhóm gồm các bước sau:
Bước 1: Làm việc chung cả lớp (nêu mục tiêu của bài, tổ chức các nhóm và giao
nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm, hướng dẫn cách làm việc theo nhóm)
Bước 2: Làm việc theo nhóm (trao đổi ý kiến, thỏa luận trong nhóm, phân công
trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi, cử đại diện trình bày kết
quả)
Bước 3: Thảo luận, tổng kết toàn lớp (các nhóm báo cáo kết quả làm việc, thảo
luận chung cả lớp, giáo viên nhận xét và bổ xung kết luận)
Tùy theo đặc điểm bài dạy mà thời gian dành cho các bước, các giai đoạn trên
có thể khác nhau. Các cấu trúc trên cơ bản là lôgic, bảo đảm toàn diện các nhiệm
vụ dạy học. Tuy nhiên, khi sử dụng các cấu trúc trên cần chú ý một số vấn đề sau:
Các nhiệm vụ của bài lên lớp không nên quá ôm đồm, do đó phải xác định được
nhiệm vụ trọng tâm. Các bài lên lớp đều lặp lại theo một tiến trình quen thuộc, gò
bó, ảnh hưởng đến sự sáng tạo của giáo viên và hứng thú của học sinh.
Kết quả:
Khi sử dụng phương pháp này mỗi thành viên trong nhóm sẽ phát huy được
vốn hiểu biết rộng và năng động hơn trong học tập tạo sự hứng thú, ham thích với
môn học, làm tăng hiệu quả học tập, nhất là khi giả quyết một vấn đề gay cấn, lúc
xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành công việc chung. Kết quả
làm việc của mỗi nhóm đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp.
Học sinh tham gia thảo luận nhóm
Học sinh các nhóm phản biện
Lưu ý khi áp dụng: Đây là phương pháp tôi thường xuyên sử dụng
trong các bài dạy của mình. Kinh nghiệm bản thân tôi nhận thấy nếu
chuẩn bị, tổ chức không chu đáo thì việc học tập theo nhóm sẽ trở
thành làm việc độc thoại của một người. Giáo viên cần chú ý xây
dựng kĩ năng làm nhóm trưởng cho các học sinh trong nhóm. Vì khi
nhóm trưởng được thay phiên nhau học sinh sẽ có trách nhiệm hơn
tránh việc ỷ lại vào các bạn. Trong khi hoạt động nhóm giáo viên nên
chú ý quan sát và nhắc nhở các học sinh chưa tích cực. Khi các nhóm
báo cáo kết quả cũng nên thay phiên nhau tránh để một vài học sinh
thường xuyên báo cáo.
Kĩ thuật sơ đồ tư duy
Nội dung kĩ thuật
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là “bản đồ tư duy” (Mind Map) là một công cụ tổ
chức tư duy được tác giả Tony Buzan (sinh năm 1942, người Anh, chuyên gia hàng
đầu thế giới về nghiên cứu hoạt động của bộ não và là cha đẻ của Mind Map)
nghiên cứu và phổ biến rộng rãi. SDTD là con đường dễ nhất để chuyển tải thông
tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Đây là phương tiện ghi chép đầy
sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng ý nghĩa “sắp xếp ý nghĩ dưới dạng sơ đồ”. Sơ đồ
tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và
đào sâu các ý tưởng; tóm tắt những ý chính của một nội dung; hệ thống hoá kiến
thức nhờ sự kết nối giữa các nhánh. Các ý tưởng được liên kết với nhau khiến sơ đồ
tư duy có thể bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng. Vì vậy, sơ đồ tư duy
huy động tối đa tiềm năng của não bộ, giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền, giúp
người học học tập tích cực, giúp con người khai thác được tiềm năng vô tận của bộ
não.
Thực hiện:
Nghiên cứu kĩ phương pháp sơ đồ tư duy trong dạy học để nắm được các
căn cứ, nguyên tắc xây dựng các dạng sơ đồ cơ bản để vận dụng phù hợp
với đặc thù môn học và tự rèn luyện cho mình một năng lực xây dựng sơ
đồ hóa nội dung dạy học bằng sơ đồ tư duy. Nghiên cứu kĩ nội dung
chương trình của từng môn học, mục tiêu của từng bài dạy và nội dung
kiến thức trong sách giáo khoa để xây dựng được một sơ đồ nội dung dạy.
Kết quả:
Sử dụng sơ đồ tư duy giúp tôi cung cấp được cách nhìn tổng quan về chủ đề.
Bên cạnh đó học sinh cũng có thể tiếp nhận nội dung bài học một cách tổng
quan và chính xác nâng cao hiệu quả học tập. Học sinh sẽ không phải tiếp nhận
thông tin một cách thụ động mà ngược lại học sinh phải suy nghĩ, sáng tạo, ghi
nhớ các kiến thức đã học một cách logic. Một lợi ích nữa khi sử dụng Mindmap
trong học tập đó là học sinh có thể trình bày nội dung bài học một cách khoa học,
dễ hiểu, dễ nhớ. Các em vừa ghi chép kết hợp sử dụng hình ảnh, màu sắc, sáng
tạo ý tưởng để tóm tắt nội dung bài học, chủ động ghi nhớ kiến thức. Từ đó kích
thích hứng thú học tập, phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não.
Lưu ý khi thực hiện: Khi sử dụng phương pháp này giáo viên cần lưu ý
hướng dẫn học sinh tô màu các nhánh của sơ đồ bằng màu sắc hài hòa, tránh quá
nhiều màu gây rối mắt. Các nhánh được lựa chọn phải trọng tâm, không để quá
nhiều nhánh.
Phương pháp đóng vai
Nội dung phương pháp
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử
nào đó trong một tình huống giả định. `Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu
sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện
hoặc quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều
quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy.
Quy trình thực hiện
Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau:
Bước 1: Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho
từng nhóm. Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi
nhóm.
Bước 2: Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai.
Bước 3: Các nhóm lên đóng vai.
Bước 4: Lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử và cảm xúc của các vai diễn; về ý
Ví dụ minh họa:
Trong bài 9- Một số lương thực- thực phẩm thông dụng- KHTN 6 Cánh DiềuII. Vai trò của lương thực thực phẩm.
Giáo viên có thể phân công hướng dẫn cho học sinh tổ chức hội chợ ẩm thực.
Trong đó học sinh sẽ đóng vai chuyên gia dinh dưỡng giải thích một số tác dụng
và vai trò của lương thực thực phẩm như: vai trò tinh bột, chất béo, chất đạm, các
vitamin và khoáng chất. Hoặc học sinh đóng vai người bán hàng giới thiệu về sản
phẩm của mình.
Học sinh tổ chức hội chợ ẩm thực
Học sinh đóng vai “người bán hàng”
Kết quả:
Qua quá trình vận dụng phương pháp đóng vai tôi nhận thấy được những tín hiệu tích
cực từ phía học sinh: Học sinh được chuẩn bị các vai diễn từ đó có những cái nhìn rõ
ràng hơn về vấn đề đã nêu. Khi học sinh muốn làm chuyên gia thì bản thân phải tìm hiểu
kĩ về các kiến thức đó như vậy học sinh sẽ ghi nhớ kiến thức sâu hơn. Các tình huống
đóng vai sẽ gây cảm giác thoải mái, sôi nổi khiến giờ học tập bớt căng thẳng, học sinh
yêu thích, say mê học tập hơn. Ngoài ra khi vận dụng phương pháp đóng vai đã khích lệ
sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực.
Lưu ý khi thực hiện:
Khi thực hiện tôi nhận thấy phương pháp này đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo, công
phu (trừ một số tình huống giao tiếp giả định bất ngờ trên lớp), học sinh cần dành nhiều
thời gian và đầu tư trang phục để có thể cho ra những sản phẩm chất lượng. Một số học
sinh còn hạn chế về năng khiếu diễn xuất, chưa thực sự tự tin khi đứng trước đám đông
giáo viên nên khuyến khích học sinh tham gia.
Phương
pháp
dạy học
theo
trạm
GV có thể tổ chức cho HS hoạt động học tập tự lực tại các vị
trí không gian lớp học để giải quyết các vấn đề trong học tập. Hệ
thống các trạm thường được thiết kế, bố trí theo hình thức các
vòng tròn khép kín trong không gian lớp học.
Hoạt động của HS tại các trạm là hoàn toàn tự do, dưới sự
định hướng của GV, HS phải tự xoay xở để vượt qua các trạm.
Do đó, dạy học theo trạm tập trung vào "tự chủ và tự học", rèn
luyện thói quen tự lực giải quyết vấn đề cho HS.
Dạy học theo trạm là một phương pháp tổ chức dạy học dựa
trên hình thức làm việc tại các trạm.
Đặc trưng: Phải đảm bảo sự linh hoạt, các nhiệm vụ phải có tính độc
lập với nhau.
Trong trường hợp dạy học các bài học có các đơn vị kiến thức có liên
hệ logic chặt chẽ ta có thể tổ chức bài học thành nhiều hệ thống trạm(vòng
tròn học tập) khác nhau, sao cho các nhiệm vụ trong mỗi hệ thống trạm là
độc lập.
Bước 1: Chia nhóm: Có thể cho HS tự chia nhóm ngay tại lớp, hoặc có thể cho HS chia nhóm
trước và phân công nhiệm vụ. Cần chia nhóm ngay từ đầu để việc học được thuận lợi.
Bước 2: Thống nhất nội qui học tập theo trạm.
Phương
pháp
dạy học
GV giới thiệu nội dung học tập tại các trạm học tập, số lượng các trạm, các trạm bắt buộc và tự
chọn. Thông báo quy tắc cho điểm mỗi cá nhân, giới thiệu phiếu học tập và cách làm việc trên
các phiếu học tập, yêu cầu trợ giúp,… Tất cả các nội quy đưa ra đảm bảo cho việc học tập tại các
trạm được diễn ra một cách tự lực, chủ động, hạn chế mất trật tự, tối ưu hóa thời gian làm việc,..
Bước 3: Thực hiện nhiệm vụ - Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ học tập ở mỗi trạm, HS làm việc cá
nhân, theo cặp hoặc theo nhóm tại các trạm học tập. Giáo viên quan sát và có sự hỗ trợ kịp thời.
Bước 4: Tổng kết kết quả học tập - Sau mỗi buổi học cần dành ra một khoảng thời gian để tổng
theo
trạm
kết bài học. Yêu cầu các nhóm, cá nhân trình bày tiến trình thực hiện nhiệm vụ ở một trạm nào
đó, trình bày các kết quả thu được và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân. Các thành viên
khác, nhóm khác đưa ra nhậnxét góp ý bổ sung và đánh giá.Giáo viên là người chỉ đạo. Sau cùng
là GV tổng kết bài học và nhấn mạnh lại các kiến thức quan
trọng của bài.
Dạy học theo trạm có những ưu điểm nổi trội sau:
- Học sinh được tự chủ, tích cực hoạt động tham gia giải quyết các nhiệm vụ học tập.
- Học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả của cá nhân và của nhóm mình qua đó nâng cao năng lực
Phương
đánh giá của bản thân.
pháp
pháp giải quyết vấn đề.
dạy học
-Học sinh có cơ hội nâng cao kĩ năng làm việc theo nhóm, các kĩ năng tranh luận, các phương
- Giúp giáo viên cá biệt hóa được trình độ của từng học sinh, qua đó bồi dưỡng học sinh giỏi và
rèn luyện học sinh yếu.
- Nâng cao hứng thú của học sinh nhờ các nhiệm vụ học tập tích cực đặc biệt là những nhiệm vụ
thiết kế, chế tạo và thực hiện các thí nghiệm đơn giản.
theo
trạm
- Khắc phục được khó khăn thiếu thốn về trang thiết bị nếu cho học sinh tiến hành đồng loạt.
Phương
pháp
dạy học
Đi đôi với những ưu điểm nói trên, hình thức dạy học theo trạm có những điểm hạn chế sau:
- Giáo viên phải có thời gian chuẩn bị nội dung và nguyên vật liệu công phu, chịu khó hơn, phải
nổ lực hơn trong việc soạn giảng bằng ĐDDH. Đơn cử GVcần chuẩn bị sẵn các bảng biểu của
từng trạm, các hộp để đựng các gói câu hỏi, các bảng đáp án và các “ phiếu thông hành”để khi
HS đã hoàn thành từng trạm thì nhanh chóng tiến đến các trạm tiếp theo.
- Thời gian cần để tiến hành dạy học một đơn vị kiến thức theo hình thức này thường dài hơn
thời gian khi dạy dưới hình thức truyền thống.
theo
trạm
Dạy học theo trạm là một trong những hình thức dạy học mở. Trong đó
học sinh tích cực, tự chủ chiếm lĩnh tri thức. Nó không chỉ phù hợp với
Phương
các giờ học nội khóa mà còn rất phù hợp với giờ học ngoại khóa. Trong
pháp
hơn về mức độ yêu cầu cũng như không gian học tập. Nội dung các
dạy học
gian học tập không chỉ giới hạn trong phạm vi lớp học mà có thể mở rông
theo
trạm
giờ học ngoại khóa, các nhiệm vụ học tập hoàn toàn có thể được mở rộng
nhiệm vụ sẽ không còn giới hạn trong nội dung sách giáo khoa và không
ra ở sân trường, trong thư viện, tại phòng máy tính và tại xưởng trường.
Với những ưu điểm và tiềm năng lớn của hình thức dạy học này, việc
nghiên cứu, phát triển và vận dụng hình thức dạy học trong dạy học
KHTN nói riêng và trong dạy học phổ thông nói chung là cần thiết và có
ý nghĩa.
Chia lớp thành 2 nhóm, mỗi nhóm lớn chia HS thành 2 nhóm (6
HS), mỗi nhóm thực hiện nhiệm vụ trong phiếu học tập tại mỗi
trạm là 4 phút. Sau 4 phút, các nhóm di chuyển sang các trạm
khác để thực hiện nhiệm vụ, cho đến khi hoàn thành các trạm
Trạm
1
Trạm
4
Trạm
2
Trạm
3
Phiếu học tập số 1
(Trạm 1) Đọc SGK nêu
cách tiến hành thí nghiệm
1,2 ?
(Trạm 2) tiến hành thí
nghiệm nếu hiện tượng quan
sát được vào phiếu học tập ?
Phiếu học tập số 2
2.(Trạm 3) Luyện tập 2,3/
SGK/48.
3.(Trạm 4) Rút ra tính chất
hóa học của acid?
TRẠM 1:
PHÂN TÍCH
PHT 1
TRẠM 2:
TRẢI
NGHIỆMPHT 1
TRẠM 4:
KẾT LUẬN
TRẠM 3:
LUYỆN TẬP,
VẬN DỤNG
PHT 2
N
Ậ
U
L
T
Ế
K
.
V
I
Sau quá trình tiếp thu và hình thành các kỹ năng học tập theo phương pháp mới, học sinh đã trở nên tích
cực, hứng thú hơn với bài học. Các em nhanh chóng thích ứng với việc tiếp thu bài học mới và củng cố khắc sâu
bài học cũ. Từ đó các em có niềm say mê thích thú tìm tòi, nghiên cứu các bài học trong sách vở và thực tiễn
xung quanh, không còn sợ kiểm tra bài cũ, sợ lên bảng hay ngại xung phong trả lời…
Việc dạy học trên lớp với đối tượng là những học sinh có học lực trung bình, yếu, kém đòi hỏi giáo viên
phải tìm cách thức hiệu quả nhất để truyền tải kiến thức tới cho học sinh tiếp thu một cách tự nhiên, thông qua
các hình thức hoạt động, các hình thức kiểm tra kiến thức, tạo không khí học thân thiện, vui vẻ…Mỗi học sinh
đều cảm thấy mình cũng có khả năng, cũng làm được và được đánh giá cao khi thực hiện, bày tỏ…
Đối với học sinh có học lực khá giỏi, việc các em được hoạt động nhiều hơn trong giờ học, được thể hiện
hết khả năng học lực cũng như sự đam mê, sáng tạo của mình là điều kiện để các em hoàn thiện hơn nữa năng
lực bản thân, tham gia vào các quá trình hợp tác… hình thành tư duy hiện đại trong thời đại mới.
Các phương pháp dạy học trên có thể thay thế phương pháp giảng dạy truyền thống. Mặt khác, các
phương pháp này có thể sử dụng kết hợp với nhiều phương pháp dạy học khác nhau phù hợp với tâm lý học
sinh, điều kiện cơ sở vật chất và nội dung bài học…tạo nên tính phong phú cho tiết dạy.
HỊ
G
N
N
Ế
Y
U
H
K
V.
- Nhà trường tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất, đảm bảo giờ học và thực hành bộ môn Khoa học tự nhiên
được thực hiện đúng chương trình.
- Tổ chức các nhóm, câu lạc bộ bạn yêu môn học để học sinh có sân chơi trí tuệ thể hiện vốn hiểu biết của
bản thân, ngoại khóa, tham quan, thực nghiệm.
- Tham gia giao lưu với các trường bạn về hội giảng, tìm tòi áp dụng các phương pháp kỹ thuật dạy học tích
cực.
- Tổ chức các chuyên đề bộ môn có tính chất điển hình cho giáo viên có điều kiện trao đổi kinh nghiệm
nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn.
- Xây dựng nội dung buổi sinh hoạt chuyên môn theo bài học để tập trung vào tìm giải pháp nâng cao chất
lượng dạy học cho từng bài học cụ thể.
Do kinh nghiệm chưa nhiều nên có thể còn nhiều nội dung chưa thật sâu sắc. Vì vậy hiệu quả của nó chưa
thực sự có tính khái quát cao. Nhưng tôi hi vọng rằng, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo điều kiện cho tôi
mở rộng nghiên cứu của mình sang các phần kiến thức khác nhau của chương trình, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học Khoa học tự nhiên ở trường trung học cơ sở. Tôi rất mong được sự góp ý của đồng nghiệp và
cấp trên để có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả trong việc giảng dạy của mình.
 







Các ý kiến mới nhất