Bài 3: Cội nguồn yêu thương - Đọc: Quê hương (Tế Hanh).

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: đặng minh ngọc
Ngày gửi: 19h:40' 01-11-2024
Dung lượng: 22.7 MB
Số lượt tải: 138
Nguồn:
Người gửi: đặng minh ngọc
Ngày gửi: 19h:40' 01-11-2024
Dung lượng: 22.7 MB
Số lượt tải: 138
Số lượt thích:
0 người
Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Làng tôi xanh bóng tre,
từng tiếng chuông ban
chiều, tiếng chuông nhà thờ
rung ….
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
-Tế
Hanh-
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
HOẠT ĐỘNG NHÓM
N1,2: TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ
N3,4: TÌM HIỂU VỀ TÁC PHẨM
- Trần Tế Hanh (1921- 2009)
- Quê: Quảng Ngãi.
- Là nhà thơ góp mặt ở chặng cuối của phong
trào thơ mới với những bài thơ mang nặng nỗi
buồn và tình yêu quê hương thắm thiết.
- Sau năm 1975 ông chuyển sang sáng tác phục
vụ cách mạng
- Năm 1996, ông được nhà nước trao tặng giải
thường HCM về văn học Nghệ thuật.
Hoàn cảnh sáng tác
Bài thơ sáng tác năm 1939, khi Tế
Hanh đang đi học ở Huế, trong nỗi
nhớ quê hương – một làng chài ven
biển.
- Đây chính là bài thơ mở đầu cho
nguồn cảm hứng viết về quê hương
của nhà thơ Tế Hanh.
Xuất xứ:
Phần 1: Giới thiệu
chung về làng quê
(2 câu đầu)
a
Phần 2: Bức tranh
lao động của hàng
chài. (14 câu tiếp)
Phần 3: Nỗi nhớ
quê hương
(còn lại)
1. Giới thiệu chung về làng quê
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
(Nhớ con sông quê hương )
QUÊ HƯƠNG-GIANG NAM
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách
nhỏ:
"Ai bảo chăn trâu là khổ? "
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích
Mắt đen tròn thương thương quá đi
thôi...
Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi
thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được
một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...
BÀI HỌC ĐẦU CHO CON-ĐỖ TRUNG QUÂN
Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không
nhớ...
II
KHÁM PHÁ VĂN BẢN
2 Bức tranh lao động của hàng
chài
HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ
NHÓM 1+3: CẢNH RA KHƠI
- Thiên nhiên
- Con người
- H/a con thuyền
Nhận xét
NHÓM 2+4: CẢNH TRỞ VỀ
- Không khí
- Kết quả
- Con người
Nhận xét
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Thiên nhiên:
trời trong
gió nhẹ
sớm mai hồng
Thiên nhiên tươi đẹp, lý tưởng
Miêu tả, liệt kê, tính từ
Báo hiệu chuyến ra khơi đầy hứa hẹn
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Con người
Trai
tráng
Khỏe
mạnh
Ra
khơi
Báo hiệu chuyến ra khơi đầy hứa
hẹn
So sánh: Chiếc thuyền
như con tuấn mã
So sánh: Cánh buồm
như mảnh hồn làng
Từ ngữ chọn lọc: hăng,
phăng, vượt
H/a nhân hóa: “rướn”
Khí thế băng tới dũng
mãnh của con thuyền
Sức sống mạnh mẽ, 1 vẻ
đẹp hùng tráng, đầy hấp
dẫn
Vẻ đẹp bay bổng, mang ý
nghĩa lớn lao
CHIẾC THUYỀN
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
NT: So sánh , ẩn dụ → Hình ảnh
cánh buồm quen thuộc trở nên
lớn lao và thiêng liêng. Nhà
thơ như nhận ra đó chính là
biểu tượng của linh hồn làng
trài.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
⇒ Bức tranh phong cảnh thiên
nhiên tươi sáng và h/ả con
người lao động đầy hứng khởi
dào dạt sức sống.
II
KHÁM PHÁ VĂN BẢN
2 Bức tranh lao động của hàng
chài
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
Hình
ảnh
bến
đỗ
Nơi người trở về
Nơi người đón đợi
Nơi buôn bán
Nơi giao thông, thông tin
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
Không
khí trở
về
Khắp
dân
làng
Ồn ào,
tấp
nập
Từ láy
giàu
giá trị
biểu
cảm
Không
khí vui
vẻ, rộn
ràng
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Kết
quả
Cá đầy ghe
Cá tươi ngon
Cá thân bạc trắng
Câu thơ được đặt trong
dấu ngoặc
kép Như lời cảm tạ trời
yên biển lặng cho dân làng
trở về an toàn, thắng lợi
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Hình ảnh người dân chài
Làn da ngăm
rám nắng
Nồng thở vị xa
xăm
Dáng vẻ rất riêng của người
dân chài
Hình ảnh người dân trài khoẻ
mạnh vạm vỡ vừa được tả thực
vừa lãng mạn trở nên có tầm vóc
phi thường
(nước da ngăm
nhuộm nắng nhuộm gió; thân hình
thấm đậm vị mặn mòi nồng toả"
vị xa xăm" của biển khơi.
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nhân hóa
con thuyền:
Im, mỏi, trở
về, nằm,
nghe
Sự thư giãn
của con
thuyền + Sự
yên lặng
nơi bến đỗ
Con thuyền
đồng nhất
với cuộc
đời, số phận
người dân
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Con thuyền vô tri trở nên có hồn, cũng
như người dân trài, con thuyền ấy cũng
thấm đẫm vị mặn mòi của biển khơi. H/ả
con thuyền ấy được miêu tả bởi một tâm
hồn tinh tế , tài hoa và một tấm lòng gắn
bó sâu nặng với quê hương.
Thái độ ngợi ca sức sống, vẻ đẹp bình dị trong lao động.
Niềm tự hào, lòng thủy chung, gắn bó với quê hương
II
KHÁM PHÁ VĂN BẢN
3 Nỗi nhớ quê hương
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
II
KHÁM PHÁ VĂN BẢN
3 Nỗi nhớ quê hương
Màu
nước
xanh
Con
thuyền,
cánh
buồm
Cá bạc
NỖI
NHỚ
Mùi
mặn
nồng
Giọng thơ
trầm lắng,
tha thiết
Tình cảm
gắn bó sâu
nặng với
quê hương
Bộc lộ trực
tiếp nỗi nhớ
chân thành,
da diết
Lời thơ mộc
mạc, giản dị
Liệt kê +
Điệp ngữ +
Câu cảm
thán
Với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài
thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một
bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng
quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh
khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng
chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ
còn cho thấy tình cảm quê hương trong sáng,
tha thiết của nhà thơ.
III
TỔNG KẾT
1
NGHỆ THUẬT
Thơ trữ tình biểu cảm kết hợp miêu tả
Hình ảnh thơ sáng tạo
Biện pháp so sánh, nhân hóa.
2
NỘI DUNG
Thiên nhiên, lao động, sinh hoạt toát lên vẻ đẹp trong
sáng, khoẻ khoắn vừa chân thực, vừa lãng mạn.
Ý thức về chủ quyền biển quốc gia
Viết đoạn văn ngắn (7-10 câu) phân
tích vẻ đẹp của người dân chài lưới qua
đoạn thơ sau:
“Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Làng tôi xanh bóng tre,
từng tiếng chuông ban
chiều, tiếng chuông nhà thờ
rung ….
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
-Tế
Hanh-
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
HOẠT ĐỘNG NHÓM
N1,2: TÌM HIỂU VỀ TÁC GIẢ
N3,4: TÌM HIỂU VỀ TÁC PHẨM
- Trần Tế Hanh (1921- 2009)
- Quê: Quảng Ngãi.
- Là nhà thơ góp mặt ở chặng cuối của phong
trào thơ mới với những bài thơ mang nặng nỗi
buồn và tình yêu quê hương thắm thiết.
- Sau năm 1975 ông chuyển sang sáng tác phục
vụ cách mạng
- Năm 1996, ông được nhà nước trao tặng giải
thường HCM về văn học Nghệ thuật.
Hoàn cảnh sáng tác
Bài thơ sáng tác năm 1939, khi Tế
Hanh đang đi học ở Huế, trong nỗi
nhớ quê hương – một làng chài ven
biển.
- Đây chính là bài thơ mở đầu cho
nguồn cảm hứng viết về quê hương
của nhà thơ Tế Hanh.
Xuất xứ:
Phần 1: Giới thiệu
chung về làng quê
(2 câu đầu)
a
Phần 2: Bức tranh
lao động của hàng
chài. (14 câu tiếp)
Phần 3: Nỗi nhớ
quê hương
(còn lại)
1. Giới thiệu chung về làng quê
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
(Nhớ con sông quê hương )
QUÊ HƯƠNG-GIANG NAM
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách
nhỏ:
"Ai bảo chăn trâu là khổ? "
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích
Mắt đen tròn thương thương quá đi
thôi...
Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi
thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được
một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...
BÀI HỌC ĐẦU CHO CON-ĐỖ TRUNG QUÂN
Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay
Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi
Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không
nhớ...
II
KHÁM PHÁ VĂN BẢN
2 Bức tranh lao động của hàng
chài
HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ
NHÓM 1+3: CẢNH RA KHƠI
- Thiên nhiên
- Con người
- H/a con thuyền
Nhận xét
NHÓM 2+4: CẢNH TRỞ VỀ
- Không khí
- Kết quả
- Con người
Nhận xét
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Thiên nhiên:
trời trong
gió nhẹ
sớm mai hồng
Thiên nhiên tươi đẹp, lý tưởng
Miêu tả, liệt kê, tính từ
Báo hiệu chuyến ra khơi đầy hứa hẹn
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Con người
Trai
tráng
Khỏe
mạnh
Ra
khơi
Báo hiệu chuyến ra khơi đầy hứa
hẹn
So sánh: Chiếc thuyền
như con tuấn mã
So sánh: Cánh buồm
như mảnh hồn làng
Từ ngữ chọn lọc: hăng,
phăng, vượt
H/a nhân hóa: “rướn”
Khí thế băng tới dũng
mãnh của con thuyền
Sức sống mạnh mẽ, 1 vẻ
đẹp hùng tráng, đầy hấp
dẫn
Vẻ đẹp bay bổng, mang ý
nghĩa lớn lao
CHIẾC THUYỀN
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
NT: So sánh , ẩn dụ → Hình ảnh
cánh buồm quen thuộc trở nên
lớn lao và thiêng liêng. Nhà
thơ như nhận ra đó chính là
biểu tượng của linh hồn làng
trài.
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
⇒ Bức tranh phong cảnh thiên
nhiên tươi sáng và h/ả con
người lao động đầy hứng khởi
dào dạt sức sống.
II
KHÁM PHÁ VĂN BẢN
2 Bức tranh lao động của hàng
chài
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
Hình
ảnh
bến
đỗ
Nơi người trở về
Nơi người đón đợi
Nơi buôn bán
Nơi giao thông, thông tin
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
Không
khí trở
về
Khắp
dân
làng
Ồn ào,
tấp
nập
Từ láy
giàu
giá trị
biểu
cảm
Không
khí vui
vẻ, rộn
ràng
"Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe",
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Kết
quả
Cá đầy ghe
Cá tươi ngon
Cá thân bạc trắng
Câu thơ được đặt trong
dấu ngoặc
kép Như lời cảm tạ trời
yên biển lặng cho dân làng
trở về an toàn, thắng lợi
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Hình ảnh người dân chài
Làn da ngăm
rám nắng
Nồng thở vị xa
xăm
Dáng vẻ rất riêng của người
dân chài
Hình ảnh người dân trài khoẻ
mạnh vạm vỡ vừa được tả thực
vừa lãng mạn trở nên có tầm vóc
phi thường
(nước da ngăm
nhuộm nắng nhuộm gió; thân hình
thấm đậm vị mặn mòi nồng toả"
vị xa xăm" của biển khơi.
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nhân hóa
con thuyền:
Im, mỏi, trở
về, nằm,
nghe
Sự thư giãn
của con
thuyền + Sự
yên lặng
nơi bến đỗ
Con thuyền
đồng nhất
với cuộc
đời, số phận
người dân
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Con thuyền vô tri trở nên có hồn, cũng
như người dân trài, con thuyền ấy cũng
thấm đẫm vị mặn mòi của biển khơi. H/ả
con thuyền ấy được miêu tả bởi một tâm
hồn tinh tế , tài hoa và một tấm lòng gắn
bó sâu nặng với quê hương.
Thái độ ngợi ca sức sống, vẻ đẹp bình dị trong lao động.
Niềm tự hào, lòng thủy chung, gắn bó với quê hương
II
KHÁM PHÁ VĂN BẢN
3 Nỗi nhớ quê hương
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
II
KHÁM PHÁ VĂN BẢN
3 Nỗi nhớ quê hương
Màu
nước
xanh
Con
thuyền,
cánh
buồm
Cá bạc
NỖI
NHỚ
Mùi
mặn
nồng
Giọng thơ
trầm lắng,
tha thiết
Tình cảm
gắn bó sâu
nặng với
quê hương
Bộc lộ trực
tiếp nỗi nhớ
chân thành,
da diết
Lời thơ mộc
mạc, giản dị
Liệt kê +
Điệp ngữ +
Câu cảm
thán
Với những vần thơ bình dị mà gợi cảm, bài
thơ “Quê hương” của Tế Hanh đã vẽ ra một
bức tranh tươi sáng, sinh động về một làng
quê miền biển, trong đó nổi bật lên hình ảnh
khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân làng
chài và sinh hoạt lao động làng chài. Bài thơ
còn cho thấy tình cảm quê hương trong sáng,
tha thiết của nhà thơ.
III
TỔNG KẾT
1
NGHỆ THUẬT
Thơ trữ tình biểu cảm kết hợp miêu tả
Hình ảnh thơ sáng tạo
Biện pháp so sánh, nhân hóa.
2
NỘI DUNG
Thiên nhiên, lao động, sinh hoạt toát lên vẻ đẹp trong
sáng, khoẻ khoắn vừa chân thực, vừa lãng mạn.
Ý thức về chủ quyền biển quốc gia
Viết đoạn văn ngắn (7-10 câu) phân
tích vẻ đẹp của người dân chài lưới qua
đoạn thơ sau:
“Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ”
 







Các ý kiến mới nhất