Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

BÀI 3 VĂN BẢN 3

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hải
Ngày gửi: 21h:13' 06-11-2024
Dung lượng: 101.0 MB
Số lượt tải: 242
Số lượt thích: 0 người
Bài 3: LỜI SÔNG NÚI
Văn bản 3

Nam quốc sơn hà

I. Đọc – tìm hiểu văn bản
1. Tác giả

1. Tác giả
- Hiện chưa rõ tác giả
- Lý Thường Kiệt (1019 – 1105)

2. Tác phẩm
- Văn tự: chữ Hán

2. Tác phẩm
PHIÊN ÂM
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

DỊCH THƠ
Sông núi nước Nam, vua Nam ngự
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.

2. Tác phẩm
• Thể thơ

Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

• Hoàn cảnh ra đời
Trong cuộc kháng chiến chống
Tống bên sông Như Nguyệt (1076)

* Hoàn cảnh sáng tác:

+ Theo Lĩnh Nam chích quái: Bài thơ được một vị thần ngâm đọc khiến quân
Tống hoảng sợ giúp Lê Đại Hành đánh bại quân xâm lược năm 981
+ Theo Đại Việt sử kí toàn thư: Khi Lí Thường Kiệt chặn đánh quân Tống bên
sông Như Nguyệt năm 1076, bài thơ đã vang lên trong đến thờ thần sông là
Trương Tướng quân. Sau đó quân Tống thảm hại.
+ Theo SGK Ngữ văn 7, tr.63,64 – Nhà XB giáo dục:
Năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy xâm lược nước ta. Vua Lí Nhân
Tông sai Lí Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt
(một khúc sông Cầu, nay thuộc huyện Yên Phong , Bắc Ninh), bỗng một đêm,
quân sĩ chợt nghe từ trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát- hai vị tướng đánh
giặc giỏi của Triệu Quang Phục, được tôn là thần sông Như Nguyệt- có tiếng
ngâm bài thơ này.

* Thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt
PHIÊN ÂM
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
T
T
B
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
B
B
T
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
T
B
B
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
T
T
B

+ Gồm: 4 câu, mỗi câu 7 chữ
+ Gieo vẫn chân cuối các câu 1,2,4 hoặc 2,4
+ Đối thanh bằng – trắc ở tiếng thứ 4 với
tiếng thứ 2 và 6
+ Kết cấu: Khai – Thừa – Chuyển – Hợp

* Bố cục:

Hai phần

+ Hai câu đầu: Khẳng định quyền độc lập tự chủ
+ Hai câu sau: Ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền.

Thảo luận nhanh: Bài thơ được coi là bản “tuyên ngôn độc lập” đầu
tiên của đất nước ta. Em hiểu thế nào là bản “tuyên ngôn độc lập”?
“Tuyên ngôn độc lập” là
lời tuyên bố về chủ quyền
của đất nước, của dân tộc
và khẳng định không một
thế lực nào được phép xâm
phạm vào quyền độc lập
ấy.

1. Hai câu thơ đầu
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Giới phận đó đã được định rõ ràng ở sách trời
Sông núi nước Nam vua Nam ngự
Vằng vặc sách trời chia xứ sở

Năm 938 Ngô Quyền giành lại độc lập và
xưng vương mà không hề được nhà Hán công
Cơ sở thứ nhất: chữ “quốc” nhận. Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009, một năm
sau triều đình nhà Tống phong cho ngài làm An
Nam quận vương và gọi nước ta là An Nam quận.
(Cho đến vua thứ sáu nhà Lý – Lý Anh Tông
(1138-1175) đều bị Hoàng đế Trung Hoa gọi là An
Nam quận vương. Chỉ một năm trước khi qua đời,
năm 1174, Lý Anh Tông mới được Trung Hoa
thừa nhận là An Nam quốc vương và nước ta từ
đó mới chính thức được công nhận là một
“quốc”).
=> NAM QUỐC NGANG HÀNG
VỚI BẮC QUỐC
Þ ĐẠI CỒ VIỆT NGANG HÀNG VỚI ĐẠI TỐNG
- Nam quốc: nước Nam
-> Khẳng định ý thức độc lập chủ quyền của một dân tộc.

Ngày xưa, tước “vương” được
dùng để chỉ một ông vua quản lý một
quốc gia độc lập (đời Hạ, Thương, Chu
đều xưng vương). Tần Thủy Hoàng thu
phục thiên hạ, tự xưng “hoàng đế” và
dùng tước “vương” để phong cho các
chư hầu thần phục.
Lý Bôn khi thành lập nước Vạn
Xuân đã tự xưng là Lý Nam Đế, không
chịu thuần phục làm chư hầu, bất chấp
việc không được triều đại phong kiến
phương Bắc khi đó chấp nhận, chống
=> NAM ĐẾ NGANG HÀNG
BẮC
ĐẾ cho rằng chỉ có một
lại VỚI
quan
niệm
Þ VUA NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT
NGANG
HÀNG Quốc
VỚI VUA
NƯỚC
ĐẠI
TỐNG
hoàng
đế Trung
duy
nhất
thống
- Nam đế: Chứng tỏ nước Nam
là có vua,
có gian
chủ, cónày.
quốc chủ.
trị khắp
thế
Cơ sở thứ hai: chữ “đế”

Cơ sở thứ ba: chữ “thiên thư”
Theo Sử ký của Tư Mã Thiên
thì từ thời Xuân thu chiến quốc,
các nhà chiêm tinh cổ đại đã phát
hiện ra việc mỗi khu vực dưới mặt
đất (mỗi quốc gia) đều ứng với các
tinh phận trên bầu trời. Người xưa
đã dựa vào vị trí các ngôi sao để
phân chia và xác định ranh giới các
khu vực tương ứng trên mặt đất,
họ mượn tên sao để chỉ tên đất.
Theo đó, nước Việt ta thuộc
địa phận sao Dực và sao Chẩn.
=> CƠ SỞ VỮNG CHẮC, LINH THIÊNG, ĐÁNG TIN
CẬY CỦA NGƯỜI XƯA

=> Khẳng định ranh giới nước Nam đã được phân định rõ ràng hợp với đạo trời -

đất, thuận với lòng người.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

 Hai câu thơ đầu là sự khẳng định chủ
quyền đất nước, quyền độc lập, bình đẳng
của dân tộc ta. 
 Thái độ: Tự hào, hiên ngang, tư thế ngẩng
cao đầu của tác giả bài thơ, của cả dân tộc
Việt Nam.

2. Hai câu thơ sau
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Cớ sao kẻ thù lại dám đến xâm phạm
Chúng mày nhất định sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong
Cớ sao giặc dữ phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ

2. Hai câu thơ sau
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
(Giặc dữ cớ sao phạm đến đây)
- Kiểu câu: CâuCâu
hỏithơ thứ 3 là
kiểu câu gì? Tác
- Mục đích: hỏidụng
tội của
quân
việcgiặc
sử
- Từ “nghịch lỗ”:
mọiđó?rợ bạo ngược.
dụng giặc
kiểu câu
Em hiểu
thếnước
nào làta là ngược lại sách Trời.
- Hành động xâm
lược
“nghịch lỗ”?
-> Kẻ làm ngược sách Trời chính là vua nhà Tống.
- Thái độ: kinh miệt, căm phẫn quân giặc và vua nhà Tống.

“Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
(Chúng mày nhất định phải tan vỡ)

Câu thơ cuối là kiểu
câu gì? Tác dụng
Câu khẳng định:
của việc sử dụng
- Cảnh báo thất bại thảm hại,
tất yếu của kẻ thù
kiểu câu đó?

- Giọng thơ: mãnh mẽ thể hiện miền tin mãnh liệt ở thắng lợi của quân ta.

=> Hai câu thơ cuối thể hiện chí quyết tâm bảo vệ
độc lập chủ quyền trước mọi kẻ thù xâm lược

III. TỔNG KẾT

1. Nội dung
Bài thơ là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên khẳng định
chủ quyền về lãnh thổ và nêu ý chí quyết tâm bảo vệ chủ
quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược.
2. Nghệ thuật
+Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, từ ngữ cô đọng, hàm súc,
ngắn gọn.
+Giọng thơ dõng dạc, đanh thép, trang trọng, hào hùng

III. LUYỆN TẬP

Bài “Sông núi nước Nam” được làm theo thể
thơ:
A. Thất ngôn bát cú.

C. Ngũ ngôn.

B. Thất ngôn tứ tuyệt

D. Song thất lục bát.

Bài “Sông núi nước Nam”được ra đời trong cuộc
kháng chiến nào?
A. Kháng chiến chống quân

C. Kháng chiến chống quân

Nam Hán

Tống

B. Kháng chiến chống quân
Mông - Nguyên

D. Kháng chiến chống quân Pháp

Từ “sơn hà” dịch nghĩa là gì?

A. núi sông
B. sơn thủy
C. giang sơn
D. đất nước

Bài thơ “Sông núi nước Nam” thường được gọi
là gì?
A. Hồi kèn xung trận.

B. Áng thiên cổ hùng văn.

C. Khúc ca khải hoàn.

D. Bản Tuyên ngôn Độc lập
đầu tiên.

Từ “đế” và từ “vương” khác nhau như thế nào?

A. Không khác nhau
B. Đế là vua cao nhất, cai quản các vương.
C. Đế là vua phương Bắc, vương là vua phương Nam
D. Vương là vua cao nhất, cai quản các đế.

Em hãy kể thêm các bản tuyên
ngôn độc lập mà em biết?

Một số bản tuyên ngôn độc lập khác:
- Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)
- Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh)

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
- Thông thường, người ta viết và đọc tuyên ngôn độc lập sau khi đã
thắng giặc ngoại xâm.
- Việc viết và đọc bài thơ thần trong lúc cuộc chiến còn cam go có ý
nghĩa:
+ Khẳng định tính chất chính nghĩa của quân ta
+ Vạch trần tính chất phi nghĩa của quân địch
=> Cổ vũ quân ta, nhụt chí quân địch
TÂM CÔNG: ĐÁNH VÀO TÂM LÝ

V. VẬN DỤNG
YÊU
CẢNH
ĐẸP

BẢO VỆ
ĐẤT
NƯỚC

YÊU
NƯỚC

CA NGỢI
ĐẤT
NƯỚC

XÂY
DỰNG
ĐẤT
NƯỚC

Yêu cầu:

Điền các từ chỉ hành động yêu nước của em theo
câu mẫu sau đây:
Em yêu nước nên em sẽ…
Ví dụ: Em yêu nước nên em sẽ ủng hộ người
nghèo.

- Làm việc theo nhóm
-Trình bày ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc
- Thời gian: 5 phút
 
Gửi ý kiến