Lễ hội Cao Bằng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Lành
Ngày gửi: 23h:50' 06-02-2025
Dung lượng: 23.8 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Lành
Ngày gửi: 23h:50' 06-02-2025
Dung lượng: 23.8 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Lịch các Lễ hội lớn
trên địa bàn
tỉnh Cao Bằng
Tháng Giêng
CAO BẰNG
Presented By: Đặng Thị Lành
Cao Bằng có núi, rừng, sông, suối
trải dài hùng vĩ, bao la, thiên nhiên còn
nhiều nét hoang sơ, nguyên sinh. Vào
mỗi mùa, Cao Bằng lại mang trong
mình một vẻ đẹp riêng. Vì vậy tùy theo
mục đích chuyến đi để lựa chọn thời
gian đến thích hợp. Du xuân Cao Bằng
ngoài những điểm đến nổi tiếng như
hang Pắc Bó, suối Lê Nin, hồ Thang
Hen, thác Bản Giốc du khách còn được
tham gia nhiều lễ hội xuân độc đáo.
1. Lễ hội pháo hoa Quảng
Uyên
Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên là
lễ hội truyền thống độc đáo với màn
tranh pháo hoa đầu xuân của các xã
tại thị trấn Quảng Uyên, Cao Bằng
để cầu mong cho một năm mới may
mắn, phát tài, phát lộc. Hàng năm,
cứ vào ngày 2/2 âm lịch, nhân dân
và du khách thập phương lại nô nức
về Quảng Uyên trảy hội.
02/0
1. Lễ hội pháo hoa Quảng
Uyên
Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên là lễ hội lớn
nhất trong năm của nhân dân huyện Quảng
Uyên, gắn với các yếu tố về lịch sử, tâm
linh của miếu Bách Linh. Miếu được xây từ
thời Lý dưới chân núi Cốc Bó, đến thời nhà
Nguyễn được xây dựng lại hoàn toàn theo
kiến trúc thời Nguyễn. Trước cổng có tam
quan, sân tiền đường, hậu đường và hậu
cung, hoành phi, câu đối. Trên cổng khắc 3
chữ “Bách Linh miếu”, có đắp nổi con rồng
uốn khúc, xây bằng gạch vồ (gạch thời
Mạc), có bức trạm rồng ngậm ngọc, bên
cạnh có chim phượng cùng long ly tụ hội.
2. Lễ hội Lồng Tồng
Lễ hội Lồng Tồng (còn gọi là lễ xuống đồng) là lễ hội
quan trọng bậc nhất vào dịp đầu năm mới, gắn liền với nền
nông nghiệp trồng trọt, được tổ chức trong các bản làng để
cầu cúng thần nông – vị thần cai quản ruộng đồng, vườn
tược, gia súc, làng bản cho được cây cối xanh tươi, mùa
màng bội thu, gia súc sinh sôi, mọi người no ấm, bản làng
yên lành. Lễ hội Lồng tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền
từ đời này sang đời khác trong cộng đồng người dân tộc Tày,
Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc – Thái Nguyên, Cao Bằng,
Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc. Lễ hội của dân tộc Tày –
Nùng ở Cao Bằng diễn ra từ ngày 2 đến 30 tháng giêng âm
lịch để mở mùa gieo trồng mới (tùy theo từng địa phương).
2. Lễ hội Lồng Tồng
Ở xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang, lễ hội được tổ chức vào ngày Dậu, sau ngày
mùng 3 tết Âm lịch hằng năm. Đây là ngày bà con nông dân cầu cho mưa
thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đồng thời là dịp để những người con xa
quê hương trở về vui xuân.
2. Lễ hội Lồng Tồng
Mùa xuân, mùa của khát vọng chờ mong, mùa của các lễ hội. Với người
Tày ở Bảo Lạc thì hội Lồng tồng hay còn gọi là lễ hội cầu mùa là lễ hội lớn nhất,
đặc sắc và vui nhất. Lễ hội được tổ chức vào mùng 9 tháng Giêng âm lịch hằng
năm, với ước mong, cầu cho mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở, người
người ấm no, hạnh phúc
3. Lễ hội đền Kỳ
Sầm
Lễ hội đền Kỳ Sâm được tổ chức vào ngày 10 tháng
Giêng hàng năm, tại xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng.
3. Lễ hội đền Kỳ
Sầm
Đền Kỳ Sầm thờ Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao ở xã Tượng
Cần, huyện Thạch Lâm nay là Bản Ngần, xã Vĩnh Quang, thành phố
Cao Bằng, cách trung tâm thành phố Cao Bằng 5km. Đền được xây
dựng để thờ danh nhân lịch sử Nùng Trí Cao, người Dân tộc Tày, một
nhân vật lịch sử có công trong sự nghiệp mở nước ở thời Lý (vua Lý
Thái Tông thế kỷ XI). Ông là con của thủ lĩnh Nùng Tôn Phúc và bà A
Nùng. Vốn thông minh, lại được về kinh đô Thăng Long theo học,
Nùng Trí Cao trở thành người có tài thao lược. Chính vì vậy, vua Lý đã
nhiều lần cử người lên thuyết phục Nùng Trí Cao không theo nhà Tống.
Sau này ông còn đánh tan giặc Tống xâm lược nước ta, được vua
phong Thái Bảo và cho trấn giữ châu Quảng Nguyên và được nhân dân
kính trọng. Sau khi ông mất vua lại phong cho là Khâu Sầm Đại
Vương. Câu chuyện về Nùng Trí Cao đã trở thành huyền thoại. Công
lao của ông đã được người đời sau tưởng nhớ và lập đền thờ.
3. Lễ hội đền Kỳ
Sầm
Sau phần lễ, phần hội với
nhiều trò chơi như: Tung còn, đấu
vật, đấu võ, đá bóng, múa sư tử,
múa rồng, múa lân… thu hút sự
hưởng ứng nhiệt tình của du
khách.
Lễ hội cũng là dịp để mọi
người đi vãn cảnh và hái lộc đầu
xuân. Ở nhiều địa phương khác
trong tỉnh nhân dân cũng lập đền
thờ ông.
4. Lễ hội Nàng Hai của dân
tộc Tày
Hội được bắt đầu vào tháng
giêng và kéo dài đến trung tuần
tháng ba. Theo tín ngưỡng dân gian
dân tộc Tày thì trên cung trăng có Mẹ
Trăng và mười hai nàng tiên – con gái
của mẹ. Mẹ cùng các nàng hằng năm
chăm lo bảo vệ mùa màng cho dân.
Hội Nàng Hai được tổ chức với ý
nghĩa tượng trưng các mẹ các nàng ở
dưới trần gian hành trình lên trời đón
Mẹ Trăng và các nàng tiên xuống
thăm trần gian và giúp trần gian
trong công việc làm ăn để sinh sống.
4. Lễ hội Nàng Hai của dân
tộc Tày
Thời gian tổ chức hội Nàng Hai phụ thuộc vào thời gian đã quy định ở
từng xóm từ thời xa xưa truyền lại; như ở Bản Guống đón trăng vào ngày
mùng 6 tháng hai và đưa tiễn trăng vào ngày 24 tháng 3. Bản Nưa Khau
đón trăng vào ngày 11 tháng 2 và đưa tiễn trăng vào ngày 22 tháng 3.
Bản Ngườm Cuông đón trăng vào ngày 15 tháng 2 và đưa tiễn trăng vào
ngày 21 tháng 3.
5. Đền Vua
Lê
Nằm cách trung tâm thị xã Cao Bằng 11km, thuộc làng Đền, xã
Hoàng Tung- Hoà An. Đền do Nùng Tồn Phúc dựng lên vào thời nhà
Lý (thế kỷ XI). Đền thờ vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi Cao Hoàng Đế).
5. Đền Vua
Lê
Dưới chế độ phong kiến, đền vừa là
cung điện, vừa là trung tâm hoạt động
kinh tế, văn hoá, quân sự của các vua
quan. Không chỉ thế, đền còn là một
di tích lịch sử gắn liền với những hoạt
động của Đảng ta trong thời kỳ vận
động cách mạng dân tộc, dân chủ.
Hiện nay, đền Vua Lê được xem là một di tích có giá trị đặc biệt
về mặt kiến trúc nghệ thuật và là nơi tập trung lễ hội, sinh hoạt văn
hoá, văn nghệ của nhân dân nơi đây. Lễ hội đền vua Lê được tổ chức
vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch.
6. Chùa Sùng Phúc
Trước kia có tên gọi là chùa Sùng Khánh,
ở làng Huyền Ru, xã Thanh Nhật, huyện Hạ
Lang. Chùa được xây dựng vào khoảng giữa
thế kỷ XIII. Bên trong chánh điện thờ Thành
Hoàng, Quan Thế Âm Bồ Tát, chàng Vi Đồ và
ông Thổ Thần. Sùng Phúc có ý nghĩa là sự
suy tôn và sùng bái phúc đức, hướng tới điều
thiện. Chùa là nơi sinh hoạt văn hoá cổ
truyền của nhân dân quanh vùng. Hàng năm,
vào ngày 15 -16 tháng Giêng âm lịch nơi đây
trở thành địa điểm trẩy hội xuân với các trò
chơi dân gian vui nhộn độc đáo. Chùa đã
được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng là di
tích lịch sử văn hoá.
7. Chùa Phố Cũ
Chùa Phố Cũ là ngôi chùa cổ
kính lớn có kiến trúc cổ còn nguyên
vẹn nằm ở tổ dân phố số 1, phố Cũ
phường Hợp Giang, Thành phố Cao
Bằng, tỉnh Cao Bằng. Lễ hội Chùa
Phố Cũ diễn ra vào ngày mồng 2/2
Âm lịch hàng năm là hoạt động văn
hóa sôi nổi, được coi là ngày hội
đoàn kết của bà con nhân dân trên
địa bàn phường. Đồng thời thông
qua đó nhằm giới thiệu và quảng bá
đến nhân dân, đông đảo du khách
thập phương về giá trị lịch sử – văn
hóa của di tích.
8. Lễ hội Pháo hoa huyện
Thạch An
Lễ hội được tổ chức vào ngày 2/2 Âm Lịch hàng năm. Hội xuân tổ chức các
hoạt động: đồng diễn thể dục, triển lãm ảnh, biểu diễn múa lân, hát giao duyên
và các trò chơi dân gian: tung còn, kéo co, cờ tướng, nhảy bao, bịt mắt bắt vịt,
đẩy gậy, lày cỏ, chọi chim và giao hữu bóng chuyền, bóng đá, tranh đầu pháo.
Tranh đầu pháo gồm các chàng trai lực lưỡng khỏe mạnh tham gia tranh tài.
Đội thắng cuộc được Ban tổ chức trao phần thưởng là một con lợn quay, được đưa
về tạ lễ trời đất cầu cho một năm lao động sản xuất thuận lợi, mùa màng tươi tốt
bội thu.
9. Lễ hội chùa Đống
Lântổ chức vào ngày mùng 8 tháng Giêng, nhân dân
Lễ hội được
trong vùng và du khách thập phương nô nức trẩy hội chùa Đống Lân, xã
Hưng Đạo (Thành phố).
Chùa Đống Lân có lịch sử lâu đời, được kiến tạo từ thời Lê - Mạc.
Năm 1997, chùa được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
9. Lễ hội chùa Đống
Lân
Dưới thời nhà Lý (cuối thế kỷ XI), chùa Đống Lân được xây dựng
để thờ Phật. Trước khi chùa được xây dựng, tại gò Đống Lân có đền thờ
Trần Qúy, Trần Kiên. Sách “Cao Bằng thực lục” có ghi chép nhiều chi
tiết về nguồn gốc và tài năng đặc biệt của anh em Trần Quý, Trần Kiên.
Cha của hai ông là Trần Triệu vì lấy được vợ tiên nên hai con trai được
truyền cho nhiều phép lạ. Khi đến tuổi trưởng thành, mẹ tiên phải
quay về trời, cha cũng bỏ vào núi cầu học đạo tiên, hai anh em Trần
Quý, Trần Kiên ghi nhớ lời dặn dò của cha mẹ, mang kiếm đi khắp
trong vùng tìm diệt yêu quái, trừ hại cho dân. Đến triều Lê, Trần Kiên
được phong làm Cai Cộng Đại Vương, Hạ đẳng thần; Trần Quý là Đống
Lân Đại Vương, Trung đẳng thần. Nhớ ơn công đức hai chàng trai, nhân
dân lập miếu xuân thu phụng tự.
9. Lễ hội chùa Đống
Lân
Hằng năm, vào mùng 8 tháng Giêng âm lịch, chùa mở hội. Phần
lễ được thực hiện từ tối mùng 7. Trong ngày hội, nhiều trò chơi dân gian
được tổ chức thu hút khách thập phương đến trẩy hội đông vui.
10. Lễ hội chùa Đà
Quận
Đến với lễ hội, ai cũng mong muốn được tận tay thắp những nén
hương thơm cầu nguyện với mong muốn cầu sự bình an, vạn điều phúc
lộc, mưa thuận gió hòa, mọi người có cuộc sống ấm no hạnh phúc.
10. Lễ hội chùa Đà
Quận
Chùa Đà Quận tên chữ là Viên Minh Tự thuộc thôn Đà Quận, xã
Hưng Đạo, thành Phố Cao Bằng. Chùa thờ Phật bà Quan Âm. Đây là
một trong ba ngôi chùa cổ nhất Cao Bằng. Tương truyền chùa được xây
dựng từ thời Lý trên một gò đất có biểu tượng con rồng, có phong cảnh
đẹp nổi tiếng trong vùng thời bấy giờ. Trải qua năm tháng và những
biến cố trong lịch sử, năm 2008, chùa được Nhà nước xếp hạng di tích
lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Chùa nổi tiếng với 2 quả chuông lớn, ước nặng nghìn cân được
xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 1993. Đối diện chùa Đà Quận là đền
Quan Triều thờ tướng Dương Tự Minh là một vị tướng có tài. Ông đã có
những đóng góp to lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ
vững chắc vùng biên cương phía Bắc của nước Đại Việt.
10. Lễ hội chùa Đà
Quận
Lễ hội chùa Đà Quận là một trong những lễ hội có quy mô lớn
trong mùa lễ hội đầu xuân hằng năm. Đây là một nét đẹp văn hóa
trong đời sống tâm linh, thể hiện truyền thống hướng về cội nguồn,
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc ta.
11. Lễ hội chọi bò huyện
Bảo Lâm
Lễ hội chọi bò huyện Bảo Lâm được tổ chức định kỳ vào ngày 20
tháng Giêng âm lịch hằng năm. Lễ hội là nơi gặp gỡ, giao lưu trao đổi
kinh nghiệm chăn nuôi, phát triển đàn gia súc nói chung và phát triển
đàn bò nói riêng giữa các hộ nông dân trên địa bàn huyện, đồng thời
cũng là nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống của mọi tầng lớp nhân dân
trong toàn huyện.
12. Lễ hội “Chọi bò, bò đẹp” huyện
Hà Quảng
Hội thi Bò xuân của huyện Hà Quảng được tổ chức vào
ngày 29 tháng giêng âm lịch.
12. Lễ hội “Chọi bò, bò đẹp” huyện
Hà Quảng
Hội thi bò xuân là nhằm xây dựng và phát triển các lễ hội của địa
phương, góp phần bảo tồn, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá truyền
thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn huyện. qua đó quảng bá,
xây dựng thương hiệu bò huyện Hà Quảng và khuyến khích, động viên
các hộ nông dân đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng
tăng số lượng, chất lượng để nâng cao thu nhập từng bước vươn lên
làm giàu từ chăn nuôi bò hàng hóa theo chương trình phát triển kinh
tế mũi nhọn của huyện.
Đây cũng là dịp để các hộ gia đình thể hiện thành tựu chăn nuôi bò
cũng như được trao đổi, học tập kinh nghiệm trong việc chăn nuôi,
phát triển đàn bò ở địa phương góp phần đẩy nhanh tiến độ xóa đói,
giảm nghèo của địa phương.
12. Lễ hội “Chọi bò, bò đẹp” huyện
Hà Quảng
Qua Hội thi, bà con nhân dân có dịp được thưởng thức các giá trị
văn hoá tinh thần của dân tộc, phản ánh đức tính lao động cần cù,
sáng tạo của người nông dân, tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho
mọi tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc góp
phần đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực xã hội, phục vụ tốt nhiệm vụ
chính trị của địa phương
13. Lễ hội Co Sầu huyện Trùng
Khánh
Hội Co Sầu là một trong những
hội mang nét đặc sắc về văn hóa
của đồng bào các dân tộc tại
huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao
Bằng. Lễ hội phố Co Sầu có lịch sử
từ xa xưa, thường được tổ chức
vào ngày 15/2 âm lịch hàng năm.
Là nơi hội tụ văn hóa tâm linh
cùng những giá trị lịch sử, góp
phần tạo nên giá trị đặc sắc riêng
về văn hóa của huyện Trùng
Khánh.
13. Lễ hội Co Sầu huyện Trùng
Khánh
Tương truyền rằng Co Sầu xưa (Trùng Khánh nay) là một vùng đất
tập trung đông người, nền kinh tế phát triển “Co Sầu Thượng Lang, đa
hào phong phú”, văn hóa đa dạng. Đây cũng là nơi hội tụ các vùng
miền qua lại trao đổi hàng hóa, hơi hẹn hò của tình yêu lứa đôi.
Hội Phố Co Sầu mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, khơi dậy tinh thần
đoàn kết dân tộc, mang đậm sắc màu văn hóa riêng biệt của nhân dân
các dân tộc trên địa bàn. Lễ hội mặc dù còn mang tính địa phương, nhỏ
lẻ nhưng hội tụ các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, tín ngưỡng, được coi
là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thu hút mọi tầng lớp
tham gia.
13. Lễ hội Co Sầu huyện Trùng
Khánh
Phố "Co Sầu" ở Trung tâm Thị trấn Trùng Khánh, nằm dưới chân
ngọn núi Phia Phủ (núi võ), tại đây có rất nhiều hang động, tương
truyền là nơi luyện võ của thanh niên, trai tráng huyện Trùng Khánh.
Giặc "Cờ Vàng" do Ngô Côn, Hoàng Sùng Anh, Diệp Tài cầm đầu bất
ngờ nổi lên cướp phá ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang... Năm
1868, Ngô Côn cho quân đánh chiếm thành Cao Bằng, trong đó có khu
vực Trùng Khánh.
Các võ sĩ Phia Phủ anh dũng chống lại giặc cướp "cờ vàng" trả lại
thanh bình cho phố chợ và vùng thượng lang. Để ca ngợi công lao của
các anh hùng hảo hán một thời, nhân dân đã lập nên miếu thờ thần núi
Phia Phủ có tên gọi Miếu Phú Sơn. Trên thành miếu có khắc chữ: "Quan
sơn vệ dân" ca ngợi các anh hùng hảo hán ngày xưa.
13. Lễ hội Co Sầu huyện Trùng
Khánh
Vào một đêm nọ, có một quả
cầu lửa to bay qua phố "Co Sầu", rơi
xuống trước cửa miếu Phú Sơn đúng
vào dịp các võ sĩ đi dẹp giặc cướp
chiến thắng trở về, dân chúng cho
rằng miếu linh thiêng nên mọi người
góp công, góp của và nâng cấp miếu
Phú Sơn thành đền Phú Sơn. Sau đó,
đưa quan Vân Trường, Bách Linh,
Phật bà Quan Âm vào thờ từ đó.
Nhân dân Thị trấn một số vẫn gọi là
đền Phú Sơn, một số gọi là Đền Quan
Thánh cho đến ngày nay.
14. Lễ hội Lồng Tồng huyện Bảo
Lạc
Lễ hội được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng Giêng hàng năm.
Lễ hội bắt đầu với nghi lễ dâng hương và phát lộc đầu năm tại chùa Vân
An, tọa lạc tại chân núi Vân Trung, thuộc xóm Nà Chùa, Thị trấn huyện
Bảo Lạc. Chùa Vân An thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Quan thế âm Bồ Tát.
Năm 2006, chùa được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
14. Lễ hội Lồng Tồng huyện Bảo
Lạc
Phần hội diễn ra với các phần thi của 17 xã, thị trấn, như: Trình
diễn văn nghệ, dựng trại; gói bánh chưng đen, bánh "gù", trang trí
mâm ngũ quả; trưng bày các sản phẩm nổi tiếng của huyện Bảo Lạc.
Các trò chơi dân gian: tung còn, lày cỏ, bịt mắt đập bóng, cờ tướng và
giao hữu bóng chuyền... thu hút đông đảo du khách đến xem, cổ vũ.
Lễ hội được tổ chức với ước mong mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh
sôi nảy nở, người người ấm no, hạnh phúc. Qua đó bảo tồn, phát huy
bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào, đồng thời quảng bá tiềm
năng du lịch của huyện, giới thiệu những ẩm thực nổi tiếng của địa
phương, như: thịt treo, cá gắp, thịt chua, thịt bò khô...
15. Lễ hội Xuân huyện
Nguyên Bình
Đã trở thành truyền thống, hằng năm cứ vào dịp đầu xuân ngày 15
tháng Giêng, thị trấn Nguyên Bình huyện Nguyên Bình lại diễn ra lễ
hội xuân, thu hút đông đảo du khách thập phương đến trẩy hội.
Lễ hội xuân thị trấn Nguyên Bình được chính thức bắt đầu ở chùa
Tam Bảo. Những người cao tuổi tại thị trấn kể lại, chùa được xây dựng
từ thế kỷ XVII, thời nhà Mạc lên Cao Bằng, thờ Phật Tam Bảo, với 3 vị
Phật: Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh và thờ các vị thần cai
quản thổ địa tại đây.
Bên phải thờ thần Nông, vị thần bảo vệ che chở cho cây trồng
mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa. Trên bài vị tại cung thờ Phật
ghi bằng chữ Hán. Chùa trước đây được làm bằng gỗ, trải qua nhiều lần
tu sửa, nay chùa đã được xây dựng lại vững chắc. Đến chùa Tam Bảo
trong ngày lễ hội, đông đảo nhân dân địa phương và du khách thành
kính thắp hương.
15. Lễ hội Xuân huyện
Nguyên Bình
Lễ hội trở thành một hoạt động văn hoá quen thuộc đối với người dân
nơi đây, chính vì thế, công tác tổ chức thực hiện quy củ, hài hoà cả hai
phần lễ và hội, tạo nên không khí vui tươi trong ngày xuân. Trước khi đánh
trống khai hội, lãnh đạo thị trấn dâng hương và hoa tại nhà bia ghi tên
liệt sỹ trước cổng chùa, tưởng nhớ, biết ơn những người đã hy sinh xương
máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Thắp hương thành kính các vị phật tại
15. Lễ hội Xuân huyện
Trong ngày hội, phần lễ được tổ chức nhằm
Nguyên Bình
khơi gợi về mục đích, ý nghĩa văn hoá, lịch sử, nét
văn hoá tâm linh của người dân và dâng lên các vị
Phật những sản vật của quê hương với mong ước
một năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt
tươi, mọi người, mọi nhà đều mạnh khoẻ, làm ăn
gặp nhiều may mắn.
Trong phần hội, chú trọng các trò chơi dân
gian truyền thống như: kéo co, chui bao bố đơn,
đẩy gậy, bịp mắt đập bóng, tung bóng vào chậu,
đi cầu kiều, đi cà kheo, hái hoa dân chủ, lày cỏ, cờ
tướng. Trong ngày hội còn có các đội bóng chuyền
da nam, nữ, bóng chuyền hơi, bóng đá, là những
đội đã thắng vòng loại của buổi chiều hôm trước
tham gia thi đấu tranh giải trong ngày hội, đã tạo
nên những giây phút sôi động và hồi hộp cho
khán giả đến xem và cổ vũ.
16. Lễ hội Xuân Thông Nông
Lễ hội được tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng (âm lịch), nhân
dân huyện Hà Quảng và các huyện lân cận lại nô nức trẩy Hội xuân Nà
Én, xã Cần Nông (Hà Quảng) - một trong những lễ hội lớn nhất trong
năm của huyện, chứa đựng nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc.
16. Lễ hội Xuân Thông Nông
Theo các cụ cao niên, Hội xuân Nà Én không có nguồn gốc lịch sử,
thời gian cụ thể diễn ra từ khi nào nhưng từ đời cha ông, hội xuân
hằng năm được tổ chức và trở thành một lễ hội cổ truyền, do các vị có
chức sắc trong làng, xã đứng ra tổ chức để mọi người có dịp gặp gỡ,
trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi, sản xuất, tâm tư, tình cảm sau một
năm làm lụng vất vả. Hội xuân chủ yếu tổ chức các hoạt động vui chơi,
giải trí, như: tung còn, đánh yến, đánh cù quay... Các đôi nam nữ thanh
niên hát lượn giao duyên, các cụ già chơi cờ tướng, bài tam cúc, tổ
tôm... Đến nay vẫn được bảo tồn, giữ gìn và phát huy.
17. Lễ hội Xuân Phục
Hoà
Lễ hội được tổ chức vào ngày 18/3 âm lịch
hàng năm. Theo sử sách ghi lại, năm 1592, nhà Mạc
lên Cao Bằng. Năm 1594, xưng vua là Càn Thống,
đặt vương phủ ở Na Lữ - Cao Bình, thuộc xã Hoàng
Tung (Hòa An). Trước tình cảnh đất nước bị chia cắt,
vua Lê đã cử tướng Đinh Văn Tả, một vị tướng tài
giỏi của triều Lê mở cuộc tấn công lên Cao Bằng
đánh chiếm thành Na Lữ. Quân Mạc thất thủ chạy về
Phục Hòa củng cố quân cơ, xây đắp thành lũy tiếp
tục chống lại nhà Lê. Lúc đó, vua Mạc là Kính Vũ.
Sau 8 năm bị vây hãm, quân Mạc quy thuận nhà Lê,
thành Phục Hòa thất thủ, giang sơn thu về một mối.
Nhớ ơn công đức vua Lê nên nhân dân đã lập đền
thờ, tạc tượng coi vua Lê là vị thánh cứu nhân độ
thế. Từ đó, ngày 18/3 âm lịch hằng năm trở thành
ngày lễ hội lớn nhất của huyện Phục Hòa.
17. Lễ hội Xuân Phục
Hoà
Trong phần lễ, ban tổ chức làm nghi lễ rước ảnh Bác Hồ, đoàn múa
rồng, múa kỳ lân đến tế lễ. Đồ tế lễ được đem đến đền vua Lê tại phố
Phục Hòa cầu cho mưa thuận, gió hòa, nhà nhà ấm no, hạnh phúc.
Phần hội được tổ chức với chương trình văn nghệ đặc sắc với những
màn múa hát dao duyên của đồng bào các dân tộc trong vùng và Đoàn
Nghệ thuật huyện Long Châu (Trung Quốc), các điệu sli, lượn, hà lều,
múa rồng, múa kỳ lân và kéo co… Ngoài ra, lễ hội còn tổ chức giao lưu
bóng chuyền với đội bóng của huyện Long Châu, Trung Quốc.
Lễ hội cổ truyền dân tộc huyện Phục Hòa đã tồn tại từ lâu trong
tâm thức nhiều thế hệ người dân, trở thành nét đẹp văn hóa truyền
thống của địa phương, khuyến khích nhân dân gìn giữ các loại hình
sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian truyền thống, các trò chơi, các
môn thể thao cổ truyền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của địa
phương.
18. Lễ hội Háng Tán Trà
Cứ đến ngàyLĩnh
14 tháng 2 âm lịch
hàng năm thị trấn Hùng Quốc huyện Trà
Lĩnh (nay là thị trấn Trà Lĩnh, huyện Trùng Khánh) lại long trọng tổ chức lễ hội Háng Tán.
Lễ hội “Háng Tán” là hội chợ xuân, được tổ chức lần đầu tiên vào khoảng những năm
1940, với mục đích tưởng nhớ công lao to lớn của danh tướng Nông Thống Lang, người
đã có công đánh đuổi quân giặc phương Bắc, giữ yên bờ cõi non sông đất nước và cầu
cho năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bán buôn thuận lợi.
18. Lễ hội Háng Tán Trà
Lĩnh
Phần lễ của lễ hội được thực hiện bằng nghi lễ dâng hương tại đền
thờ Nông Thống Lang, hay còn gọi là lễ cầu mật. Bao gồm những sản
vật nông nghiệp do người dân bản địa làm ra, mỗi sản vật đều mang ý
nghĩa nhân văn sâu sắc.
“Cao Bằng gạo trắng nước
trong
Ai lên đến đó cũng không
muốn về”
trên địa bàn
tỉnh Cao Bằng
Tháng Giêng
CAO BẰNG
Presented By: Đặng Thị Lành
Cao Bằng có núi, rừng, sông, suối
trải dài hùng vĩ, bao la, thiên nhiên còn
nhiều nét hoang sơ, nguyên sinh. Vào
mỗi mùa, Cao Bằng lại mang trong
mình một vẻ đẹp riêng. Vì vậy tùy theo
mục đích chuyến đi để lựa chọn thời
gian đến thích hợp. Du xuân Cao Bằng
ngoài những điểm đến nổi tiếng như
hang Pắc Bó, suối Lê Nin, hồ Thang
Hen, thác Bản Giốc du khách còn được
tham gia nhiều lễ hội xuân độc đáo.
1. Lễ hội pháo hoa Quảng
Uyên
Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên là
lễ hội truyền thống độc đáo với màn
tranh pháo hoa đầu xuân của các xã
tại thị trấn Quảng Uyên, Cao Bằng
để cầu mong cho một năm mới may
mắn, phát tài, phát lộc. Hàng năm,
cứ vào ngày 2/2 âm lịch, nhân dân
và du khách thập phương lại nô nức
về Quảng Uyên trảy hội.
02/0
1. Lễ hội pháo hoa Quảng
Uyên
Lễ hội pháo hoa Quảng Uyên là lễ hội lớn
nhất trong năm của nhân dân huyện Quảng
Uyên, gắn với các yếu tố về lịch sử, tâm
linh của miếu Bách Linh. Miếu được xây từ
thời Lý dưới chân núi Cốc Bó, đến thời nhà
Nguyễn được xây dựng lại hoàn toàn theo
kiến trúc thời Nguyễn. Trước cổng có tam
quan, sân tiền đường, hậu đường và hậu
cung, hoành phi, câu đối. Trên cổng khắc 3
chữ “Bách Linh miếu”, có đắp nổi con rồng
uốn khúc, xây bằng gạch vồ (gạch thời
Mạc), có bức trạm rồng ngậm ngọc, bên
cạnh có chim phượng cùng long ly tụ hội.
2. Lễ hội Lồng Tồng
Lễ hội Lồng Tồng (còn gọi là lễ xuống đồng) là lễ hội
quan trọng bậc nhất vào dịp đầu năm mới, gắn liền với nền
nông nghiệp trồng trọt, được tổ chức trong các bản làng để
cầu cúng thần nông – vị thần cai quản ruộng đồng, vườn
tược, gia súc, làng bản cho được cây cối xanh tươi, mùa
màng bội thu, gia súc sinh sôi, mọi người no ấm, bản làng
yên lành. Lễ hội Lồng tồng đã có từ rất lâu đời, được truyền
từ đời này sang đời khác trong cộng đồng người dân tộc Tày,
Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc – Thái Nguyên, Cao Bằng,
Lạng Sơn và một số tỉnh Tây Bắc. Lễ hội của dân tộc Tày –
Nùng ở Cao Bằng diễn ra từ ngày 2 đến 30 tháng giêng âm
lịch để mở mùa gieo trồng mới (tùy theo từng địa phương).
2. Lễ hội Lồng Tồng
Ở xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang, lễ hội được tổ chức vào ngày Dậu, sau ngày
mùng 3 tết Âm lịch hằng năm. Đây là ngày bà con nông dân cầu cho mưa
thuận gió hòa, mùa màng bội thu, đồng thời là dịp để những người con xa
quê hương trở về vui xuân.
2. Lễ hội Lồng Tồng
Mùa xuân, mùa của khát vọng chờ mong, mùa của các lễ hội. Với người
Tày ở Bảo Lạc thì hội Lồng tồng hay còn gọi là lễ hội cầu mùa là lễ hội lớn nhất,
đặc sắc và vui nhất. Lễ hội được tổ chức vào mùng 9 tháng Giêng âm lịch hằng
năm, với ước mong, cầu cho mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi nảy nở, người
người ấm no, hạnh phúc
3. Lễ hội đền Kỳ
Sầm
Lễ hội đền Kỳ Sâm được tổ chức vào ngày 10 tháng
Giêng hàng năm, tại xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng.
3. Lễ hội đền Kỳ
Sầm
Đền Kỳ Sầm thờ Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao ở xã Tượng
Cần, huyện Thạch Lâm nay là Bản Ngần, xã Vĩnh Quang, thành phố
Cao Bằng, cách trung tâm thành phố Cao Bằng 5km. Đền được xây
dựng để thờ danh nhân lịch sử Nùng Trí Cao, người Dân tộc Tày, một
nhân vật lịch sử có công trong sự nghiệp mở nước ở thời Lý (vua Lý
Thái Tông thế kỷ XI). Ông là con của thủ lĩnh Nùng Tôn Phúc và bà A
Nùng. Vốn thông minh, lại được về kinh đô Thăng Long theo học,
Nùng Trí Cao trở thành người có tài thao lược. Chính vì vậy, vua Lý đã
nhiều lần cử người lên thuyết phục Nùng Trí Cao không theo nhà Tống.
Sau này ông còn đánh tan giặc Tống xâm lược nước ta, được vua
phong Thái Bảo và cho trấn giữ châu Quảng Nguyên và được nhân dân
kính trọng. Sau khi ông mất vua lại phong cho là Khâu Sầm Đại
Vương. Câu chuyện về Nùng Trí Cao đã trở thành huyền thoại. Công
lao của ông đã được người đời sau tưởng nhớ và lập đền thờ.
3. Lễ hội đền Kỳ
Sầm
Sau phần lễ, phần hội với
nhiều trò chơi như: Tung còn, đấu
vật, đấu võ, đá bóng, múa sư tử,
múa rồng, múa lân… thu hút sự
hưởng ứng nhiệt tình của du
khách.
Lễ hội cũng là dịp để mọi
người đi vãn cảnh và hái lộc đầu
xuân. Ở nhiều địa phương khác
trong tỉnh nhân dân cũng lập đền
thờ ông.
4. Lễ hội Nàng Hai của dân
tộc Tày
Hội được bắt đầu vào tháng
giêng và kéo dài đến trung tuần
tháng ba. Theo tín ngưỡng dân gian
dân tộc Tày thì trên cung trăng có Mẹ
Trăng và mười hai nàng tiên – con gái
của mẹ. Mẹ cùng các nàng hằng năm
chăm lo bảo vệ mùa màng cho dân.
Hội Nàng Hai được tổ chức với ý
nghĩa tượng trưng các mẹ các nàng ở
dưới trần gian hành trình lên trời đón
Mẹ Trăng và các nàng tiên xuống
thăm trần gian và giúp trần gian
trong công việc làm ăn để sinh sống.
4. Lễ hội Nàng Hai của dân
tộc Tày
Thời gian tổ chức hội Nàng Hai phụ thuộc vào thời gian đã quy định ở
từng xóm từ thời xa xưa truyền lại; như ở Bản Guống đón trăng vào ngày
mùng 6 tháng hai và đưa tiễn trăng vào ngày 24 tháng 3. Bản Nưa Khau
đón trăng vào ngày 11 tháng 2 và đưa tiễn trăng vào ngày 22 tháng 3.
Bản Ngườm Cuông đón trăng vào ngày 15 tháng 2 và đưa tiễn trăng vào
ngày 21 tháng 3.
5. Đền Vua
Lê
Nằm cách trung tâm thị xã Cao Bằng 11km, thuộc làng Đền, xã
Hoàng Tung- Hoà An. Đền do Nùng Tồn Phúc dựng lên vào thời nhà
Lý (thế kỷ XI). Đền thờ vua Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi Cao Hoàng Đế).
5. Đền Vua
Lê
Dưới chế độ phong kiến, đền vừa là
cung điện, vừa là trung tâm hoạt động
kinh tế, văn hoá, quân sự của các vua
quan. Không chỉ thế, đền còn là một
di tích lịch sử gắn liền với những hoạt
động của Đảng ta trong thời kỳ vận
động cách mạng dân tộc, dân chủ.
Hiện nay, đền Vua Lê được xem là một di tích có giá trị đặc biệt
về mặt kiến trúc nghệ thuật và là nơi tập trung lễ hội, sinh hoạt văn
hoá, văn nghệ của nhân dân nơi đây. Lễ hội đền vua Lê được tổ chức
vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch.
6. Chùa Sùng Phúc
Trước kia có tên gọi là chùa Sùng Khánh,
ở làng Huyền Ru, xã Thanh Nhật, huyện Hạ
Lang. Chùa được xây dựng vào khoảng giữa
thế kỷ XIII. Bên trong chánh điện thờ Thành
Hoàng, Quan Thế Âm Bồ Tát, chàng Vi Đồ và
ông Thổ Thần. Sùng Phúc có ý nghĩa là sự
suy tôn và sùng bái phúc đức, hướng tới điều
thiện. Chùa là nơi sinh hoạt văn hoá cổ
truyền của nhân dân quanh vùng. Hàng năm,
vào ngày 15 -16 tháng Giêng âm lịch nơi đây
trở thành địa điểm trẩy hội xuân với các trò
chơi dân gian vui nhộn độc đáo. Chùa đã
được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng là di
tích lịch sử văn hoá.
7. Chùa Phố Cũ
Chùa Phố Cũ là ngôi chùa cổ
kính lớn có kiến trúc cổ còn nguyên
vẹn nằm ở tổ dân phố số 1, phố Cũ
phường Hợp Giang, Thành phố Cao
Bằng, tỉnh Cao Bằng. Lễ hội Chùa
Phố Cũ diễn ra vào ngày mồng 2/2
Âm lịch hàng năm là hoạt động văn
hóa sôi nổi, được coi là ngày hội
đoàn kết của bà con nhân dân trên
địa bàn phường. Đồng thời thông
qua đó nhằm giới thiệu và quảng bá
đến nhân dân, đông đảo du khách
thập phương về giá trị lịch sử – văn
hóa của di tích.
8. Lễ hội Pháo hoa huyện
Thạch An
Lễ hội được tổ chức vào ngày 2/2 Âm Lịch hàng năm. Hội xuân tổ chức các
hoạt động: đồng diễn thể dục, triển lãm ảnh, biểu diễn múa lân, hát giao duyên
và các trò chơi dân gian: tung còn, kéo co, cờ tướng, nhảy bao, bịt mắt bắt vịt,
đẩy gậy, lày cỏ, chọi chim và giao hữu bóng chuyền, bóng đá, tranh đầu pháo.
Tranh đầu pháo gồm các chàng trai lực lưỡng khỏe mạnh tham gia tranh tài.
Đội thắng cuộc được Ban tổ chức trao phần thưởng là một con lợn quay, được đưa
về tạ lễ trời đất cầu cho một năm lao động sản xuất thuận lợi, mùa màng tươi tốt
bội thu.
9. Lễ hội chùa Đống
Lântổ chức vào ngày mùng 8 tháng Giêng, nhân dân
Lễ hội được
trong vùng và du khách thập phương nô nức trẩy hội chùa Đống Lân, xã
Hưng Đạo (Thành phố).
Chùa Đống Lân có lịch sử lâu đời, được kiến tạo từ thời Lê - Mạc.
Năm 1997, chùa được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
9. Lễ hội chùa Đống
Lân
Dưới thời nhà Lý (cuối thế kỷ XI), chùa Đống Lân được xây dựng
để thờ Phật. Trước khi chùa được xây dựng, tại gò Đống Lân có đền thờ
Trần Qúy, Trần Kiên. Sách “Cao Bằng thực lục” có ghi chép nhiều chi
tiết về nguồn gốc và tài năng đặc biệt của anh em Trần Quý, Trần Kiên.
Cha của hai ông là Trần Triệu vì lấy được vợ tiên nên hai con trai được
truyền cho nhiều phép lạ. Khi đến tuổi trưởng thành, mẹ tiên phải
quay về trời, cha cũng bỏ vào núi cầu học đạo tiên, hai anh em Trần
Quý, Trần Kiên ghi nhớ lời dặn dò của cha mẹ, mang kiếm đi khắp
trong vùng tìm diệt yêu quái, trừ hại cho dân. Đến triều Lê, Trần Kiên
được phong làm Cai Cộng Đại Vương, Hạ đẳng thần; Trần Quý là Đống
Lân Đại Vương, Trung đẳng thần. Nhớ ơn công đức hai chàng trai, nhân
dân lập miếu xuân thu phụng tự.
9. Lễ hội chùa Đống
Lân
Hằng năm, vào mùng 8 tháng Giêng âm lịch, chùa mở hội. Phần
lễ được thực hiện từ tối mùng 7. Trong ngày hội, nhiều trò chơi dân gian
được tổ chức thu hút khách thập phương đến trẩy hội đông vui.
10. Lễ hội chùa Đà
Quận
Đến với lễ hội, ai cũng mong muốn được tận tay thắp những nén
hương thơm cầu nguyện với mong muốn cầu sự bình an, vạn điều phúc
lộc, mưa thuận gió hòa, mọi người có cuộc sống ấm no hạnh phúc.
10. Lễ hội chùa Đà
Quận
Chùa Đà Quận tên chữ là Viên Minh Tự thuộc thôn Đà Quận, xã
Hưng Đạo, thành Phố Cao Bằng. Chùa thờ Phật bà Quan Âm. Đây là
một trong ba ngôi chùa cổ nhất Cao Bằng. Tương truyền chùa được xây
dựng từ thời Lý trên một gò đất có biểu tượng con rồng, có phong cảnh
đẹp nổi tiếng trong vùng thời bấy giờ. Trải qua năm tháng và những
biến cố trong lịch sử, năm 2008, chùa được Nhà nước xếp hạng di tích
lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Chùa nổi tiếng với 2 quả chuông lớn, ước nặng nghìn cân được
xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 1993. Đối diện chùa Đà Quận là đền
Quan Triều thờ tướng Dương Tự Minh là một vị tướng có tài. Ông đã có
những đóng góp to lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ
vững chắc vùng biên cương phía Bắc của nước Đại Việt.
10. Lễ hội chùa Đà
Quận
Lễ hội chùa Đà Quận là một trong những lễ hội có quy mô lớn
trong mùa lễ hội đầu xuân hằng năm. Đây là một nét đẹp văn hóa
trong đời sống tâm linh, thể hiện truyền thống hướng về cội nguồn,
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc ta.
11. Lễ hội chọi bò huyện
Bảo Lâm
Lễ hội chọi bò huyện Bảo Lâm được tổ chức định kỳ vào ngày 20
tháng Giêng âm lịch hằng năm. Lễ hội là nơi gặp gỡ, giao lưu trao đổi
kinh nghiệm chăn nuôi, phát triển đàn gia súc nói chung và phát triển
đàn bò nói riêng giữa các hộ nông dân trên địa bàn huyện, đồng thời
cũng là nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống của mọi tầng lớp nhân dân
trong toàn huyện.
12. Lễ hội “Chọi bò, bò đẹp” huyện
Hà Quảng
Hội thi Bò xuân của huyện Hà Quảng được tổ chức vào
ngày 29 tháng giêng âm lịch.
12. Lễ hội “Chọi bò, bò đẹp” huyện
Hà Quảng
Hội thi bò xuân là nhằm xây dựng và phát triển các lễ hội của địa
phương, góp phần bảo tồn, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá truyền
thống tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn huyện. qua đó quảng bá,
xây dựng thương hiệu bò huyện Hà Quảng và khuyến khích, động viên
các hộ nông dân đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đại gia súc theo hướng
tăng số lượng, chất lượng để nâng cao thu nhập từng bước vươn lên
làm giàu từ chăn nuôi bò hàng hóa theo chương trình phát triển kinh
tế mũi nhọn của huyện.
Đây cũng là dịp để các hộ gia đình thể hiện thành tựu chăn nuôi bò
cũng như được trao đổi, học tập kinh nghiệm trong việc chăn nuôi,
phát triển đàn bò ở địa phương góp phần đẩy nhanh tiến độ xóa đói,
giảm nghèo của địa phương.
12. Lễ hội “Chọi bò, bò đẹp” huyện
Hà Quảng
Qua Hội thi, bà con nhân dân có dịp được thưởng thức các giá trị
văn hoá tinh thần của dân tộc, phản ánh đức tính lao động cần cù,
sáng tạo của người nông dân, tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho
mọi tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc góp
phần đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực xã hội, phục vụ tốt nhiệm vụ
chính trị của địa phương
13. Lễ hội Co Sầu huyện Trùng
Khánh
Hội Co Sầu là một trong những
hội mang nét đặc sắc về văn hóa
của đồng bào các dân tộc tại
huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao
Bằng. Lễ hội phố Co Sầu có lịch sử
từ xa xưa, thường được tổ chức
vào ngày 15/2 âm lịch hàng năm.
Là nơi hội tụ văn hóa tâm linh
cùng những giá trị lịch sử, góp
phần tạo nên giá trị đặc sắc riêng
về văn hóa của huyện Trùng
Khánh.
13. Lễ hội Co Sầu huyện Trùng
Khánh
Tương truyền rằng Co Sầu xưa (Trùng Khánh nay) là một vùng đất
tập trung đông người, nền kinh tế phát triển “Co Sầu Thượng Lang, đa
hào phong phú”, văn hóa đa dạng. Đây cũng là nơi hội tụ các vùng
miền qua lại trao đổi hàng hóa, hơi hẹn hò của tình yêu lứa đôi.
Hội Phố Co Sầu mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, khơi dậy tinh thần
đoàn kết dân tộc, mang đậm sắc màu văn hóa riêng biệt của nhân dân
các dân tộc trên địa bàn. Lễ hội mặc dù còn mang tính địa phương, nhỏ
lẻ nhưng hội tụ các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, tín ngưỡng, được coi
là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thu hút mọi tầng lớp
tham gia.
13. Lễ hội Co Sầu huyện Trùng
Khánh
Phố "Co Sầu" ở Trung tâm Thị trấn Trùng Khánh, nằm dưới chân
ngọn núi Phia Phủ (núi võ), tại đây có rất nhiều hang động, tương
truyền là nơi luyện võ của thanh niên, trai tráng huyện Trùng Khánh.
Giặc "Cờ Vàng" do Ngô Côn, Hoàng Sùng Anh, Diệp Tài cầm đầu bất
ngờ nổi lên cướp phá ở vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang... Năm
1868, Ngô Côn cho quân đánh chiếm thành Cao Bằng, trong đó có khu
vực Trùng Khánh.
Các võ sĩ Phia Phủ anh dũng chống lại giặc cướp "cờ vàng" trả lại
thanh bình cho phố chợ và vùng thượng lang. Để ca ngợi công lao của
các anh hùng hảo hán một thời, nhân dân đã lập nên miếu thờ thần núi
Phia Phủ có tên gọi Miếu Phú Sơn. Trên thành miếu có khắc chữ: "Quan
sơn vệ dân" ca ngợi các anh hùng hảo hán ngày xưa.
13. Lễ hội Co Sầu huyện Trùng
Khánh
Vào một đêm nọ, có một quả
cầu lửa to bay qua phố "Co Sầu", rơi
xuống trước cửa miếu Phú Sơn đúng
vào dịp các võ sĩ đi dẹp giặc cướp
chiến thắng trở về, dân chúng cho
rằng miếu linh thiêng nên mọi người
góp công, góp của và nâng cấp miếu
Phú Sơn thành đền Phú Sơn. Sau đó,
đưa quan Vân Trường, Bách Linh,
Phật bà Quan Âm vào thờ từ đó.
Nhân dân Thị trấn một số vẫn gọi là
đền Phú Sơn, một số gọi là Đền Quan
Thánh cho đến ngày nay.
14. Lễ hội Lồng Tồng huyện Bảo
Lạc
Lễ hội được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng Giêng hàng năm.
Lễ hội bắt đầu với nghi lễ dâng hương và phát lộc đầu năm tại chùa Vân
An, tọa lạc tại chân núi Vân Trung, thuộc xóm Nà Chùa, Thị trấn huyện
Bảo Lạc. Chùa Vân An thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Quan thế âm Bồ Tát.
Năm 2006, chùa được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
14. Lễ hội Lồng Tồng huyện Bảo
Lạc
Phần hội diễn ra với các phần thi của 17 xã, thị trấn, như: Trình
diễn văn nghệ, dựng trại; gói bánh chưng đen, bánh "gù", trang trí
mâm ngũ quả; trưng bày các sản phẩm nổi tiếng của huyện Bảo Lạc.
Các trò chơi dân gian: tung còn, lày cỏ, bịt mắt đập bóng, cờ tướng và
giao hữu bóng chuyền... thu hút đông đảo du khách đến xem, cổ vũ.
Lễ hội được tổ chức với ước mong mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh
sôi nảy nở, người người ấm no, hạnh phúc. Qua đó bảo tồn, phát huy
bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào, đồng thời quảng bá tiềm
năng du lịch của huyện, giới thiệu những ẩm thực nổi tiếng của địa
phương, như: thịt treo, cá gắp, thịt chua, thịt bò khô...
15. Lễ hội Xuân huyện
Nguyên Bình
Đã trở thành truyền thống, hằng năm cứ vào dịp đầu xuân ngày 15
tháng Giêng, thị trấn Nguyên Bình huyện Nguyên Bình lại diễn ra lễ
hội xuân, thu hút đông đảo du khách thập phương đến trẩy hội.
Lễ hội xuân thị trấn Nguyên Bình được chính thức bắt đầu ở chùa
Tam Bảo. Những người cao tuổi tại thị trấn kể lại, chùa được xây dựng
từ thế kỷ XVII, thời nhà Mạc lên Cao Bằng, thờ Phật Tam Bảo, với 3 vị
Phật: Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh và thờ các vị thần cai
quản thổ địa tại đây.
Bên phải thờ thần Nông, vị thần bảo vệ che chở cho cây trồng
mùa màng tươi tốt, mưa thuận gió hòa. Trên bài vị tại cung thờ Phật
ghi bằng chữ Hán. Chùa trước đây được làm bằng gỗ, trải qua nhiều lần
tu sửa, nay chùa đã được xây dựng lại vững chắc. Đến chùa Tam Bảo
trong ngày lễ hội, đông đảo nhân dân địa phương và du khách thành
kính thắp hương.
15. Lễ hội Xuân huyện
Nguyên Bình
Lễ hội trở thành một hoạt động văn hoá quen thuộc đối với người dân
nơi đây, chính vì thế, công tác tổ chức thực hiện quy củ, hài hoà cả hai
phần lễ và hội, tạo nên không khí vui tươi trong ngày xuân. Trước khi đánh
trống khai hội, lãnh đạo thị trấn dâng hương và hoa tại nhà bia ghi tên
liệt sỹ trước cổng chùa, tưởng nhớ, biết ơn những người đã hy sinh xương
máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Thắp hương thành kính các vị phật tại
15. Lễ hội Xuân huyện
Trong ngày hội, phần lễ được tổ chức nhằm
Nguyên Bình
khơi gợi về mục đích, ý nghĩa văn hoá, lịch sử, nét
văn hoá tâm linh của người dân và dâng lên các vị
Phật những sản vật của quê hương với mong ước
một năm mới mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt
tươi, mọi người, mọi nhà đều mạnh khoẻ, làm ăn
gặp nhiều may mắn.
Trong phần hội, chú trọng các trò chơi dân
gian truyền thống như: kéo co, chui bao bố đơn,
đẩy gậy, bịp mắt đập bóng, tung bóng vào chậu,
đi cầu kiều, đi cà kheo, hái hoa dân chủ, lày cỏ, cờ
tướng. Trong ngày hội còn có các đội bóng chuyền
da nam, nữ, bóng chuyền hơi, bóng đá, là những
đội đã thắng vòng loại của buổi chiều hôm trước
tham gia thi đấu tranh giải trong ngày hội, đã tạo
nên những giây phút sôi động và hồi hộp cho
khán giả đến xem và cổ vũ.
16. Lễ hội Xuân Thông Nông
Lễ hội được tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng (âm lịch), nhân
dân huyện Hà Quảng và các huyện lân cận lại nô nức trẩy Hội xuân Nà
Én, xã Cần Nông (Hà Quảng) - một trong những lễ hội lớn nhất trong
năm của huyện, chứa đựng nhiều nét văn hóa truyền thống đặc sắc.
16. Lễ hội Xuân Thông Nông
Theo các cụ cao niên, Hội xuân Nà Én không có nguồn gốc lịch sử,
thời gian cụ thể diễn ra từ khi nào nhưng từ đời cha ông, hội xuân
hằng năm được tổ chức và trở thành một lễ hội cổ truyền, do các vị có
chức sắc trong làng, xã đứng ra tổ chức để mọi người có dịp gặp gỡ,
trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi, sản xuất, tâm tư, tình cảm sau một
năm làm lụng vất vả. Hội xuân chủ yếu tổ chức các hoạt động vui chơi,
giải trí, như: tung còn, đánh yến, đánh cù quay... Các đôi nam nữ thanh
niên hát lượn giao duyên, các cụ già chơi cờ tướng, bài tam cúc, tổ
tôm... Đến nay vẫn được bảo tồn, giữ gìn và phát huy.
17. Lễ hội Xuân Phục
Hoà
Lễ hội được tổ chức vào ngày 18/3 âm lịch
hàng năm. Theo sử sách ghi lại, năm 1592, nhà Mạc
lên Cao Bằng. Năm 1594, xưng vua là Càn Thống,
đặt vương phủ ở Na Lữ - Cao Bình, thuộc xã Hoàng
Tung (Hòa An). Trước tình cảnh đất nước bị chia cắt,
vua Lê đã cử tướng Đinh Văn Tả, một vị tướng tài
giỏi của triều Lê mở cuộc tấn công lên Cao Bằng
đánh chiếm thành Na Lữ. Quân Mạc thất thủ chạy về
Phục Hòa củng cố quân cơ, xây đắp thành lũy tiếp
tục chống lại nhà Lê. Lúc đó, vua Mạc là Kính Vũ.
Sau 8 năm bị vây hãm, quân Mạc quy thuận nhà Lê,
thành Phục Hòa thất thủ, giang sơn thu về một mối.
Nhớ ơn công đức vua Lê nên nhân dân đã lập đền
thờ, tạc tượng coi vua Lê là vị thánh cứu nhân độ
thế. Từ đó, ngày 18/3 âm lịch hằng năm trở thành
ngày lễ hội lớn nhất của huyện Phục Hòa.
17. Lễ hội Xuân Phục
Hoà
Trong phần lễ, ban tổ chức làm nghi lễ rước ảnh Bác Hồ, đoàn múa
rồng, múa kỳ lân đến tế lễ. Đồ tế lễ được đem đến đền vua Lê tại phố
Phục Hòa cầu cho mưa thuận, gió hòa, nhà nhà ấm no, hạnh phúc.
Phần hội được tổ chức với chương trình văn nghệ đặc sắc với những
màn múa hát dao duyên của đồng bào các dân tộc trong vùng và Đoàn
Nghệ thuật huyện Long Châu (Trung Quốc), các điệu sli, lượn, hà lều,
múa rồng, múa kỳ lân và kéo co… Ngoài ra, lễ hội còn tổ chức giao lưu
bóng chuyền với đội bóng của huyện Long Châu, Trung Quốc.
Lễ hội cổ truyền dân tộc huyện Phục Hòa đã tồn tại từ lâu trong
tâm thức nhiều thế hệ người dân, trở thành nét đẹp văn hóa truyền
thống của địa phương, khuyến khích nhân dân gìn giữ các loại hình
sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian truyền thống, các trò chơi, các
môn thể thao cổ truyền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc của địa
phương.
18. Lễ hội Háng Tán Trà
Cứ đến ngàyLĩnh
14 tháng 2 âm lịch
hàng năm thị trấn Hùng Quốc huyện Trà
Lĩnh (nay là thị trấn Trà Lĩnh, huyện Trùng Khánh) lại long trọng tổ chức lễ hội Háng Tán.
Lễ hội “Háng Tán” là hội chợ xuân, được tổ chức lần đầu tiên vào khoảng những năm
1940, với mục đích tưởng nhớ công lao to lớn của danh tướng Nông Thống Lang, người
đã có công đánh đuổi quân giặc phương Bắc, giữ yên bờ cõi non sông đất nước và cầu
cho năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bán buôn thuận lợi.
18. Lễ hội Háng Tán Trà
Lĩnh
Phần lễ của lễ hội được thực hiện bằng nghi lễ dâng hương tại đền
thờ Nông Thống Lang, hay còn gọi là lễ cầu mật. Bao gồm những sản
vật nông nghiệp do người dân bản địa làm ra, mỗi sản vật đều mang ý
nghĩa nhân văn sâu sắc.
“Cao Bằng gạo trắng nước
trong
Ai lên đến đó cũng không
muốn về”
 







Các ý kiến mới nhất