Tìm kiếm Bài giảng
Chương II - Quản lý NN về GD&ĐT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Trần Hoàng
Người gửi: Trần Xuân Hoàng (trang riêng)
Ngày gửi: 02h:04' 09-01-2026
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn: Trần Hoàng
Người gửi: Trần Xuân Hoàng (trang riêng)
Ngày gửi: 02h:04' 09-01-2026
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Chương 2:
ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƯỚC VỀ GD & ĐT
NỘI DUNG CHÍNH:
2.1. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong
GD&ĐT hiện nay
2. 2. Những quan điểm chỉ đạo về đổi mới GD&ĐT
2. 3. Mục tiêu phát triển GD&ĐT
2. 4. Các giải pháp phát triển GD&ĐT
2.1. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong GD&ĐT hiện nay
2.1.1. Thành tựu của Giáo dục Việt Nam
Sau 12 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản
toàn diện giáo dục và đào tạo, Năm 2021,Bộ trưởng GD-ĐT cho
biết ngành giáo dục và đào tạo đã có một số kết quả nổi bật:
(1) Hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cơ bản
được hoàn thiện
(2) Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non (mẫu giáo 5 tuổi); duy trì,
nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở;
(3) Ban hành và tích cực triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới
(4) Công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục ngày
càng thực chất, hiệu quả hơn
(5) Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều
được nâng lên, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao
(6) Tự chủ đại học được đẩy mạnh, chất lượng đào tạo đại
học có nhiều chuyển biến tích cực
(7) Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, kỹ năng
sống cho học sinh, sinh viên có nhiều chuyển biến tích cực
(8) Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
trong giáo dục, đào tạo.
(9) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh
chuyển đổi số trong ngành giáo dục
• Minh chứng:
(1) Hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáo
dục và đào tạo cơ bản được hoàn thiện
- Tham mưu ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục đại học năm 2018 và Luật Giáo dục (sửa đổi,
ban hành mới) năm 2019.
- Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khung cơ cấu hệ
thống giáo dục quốc dân.
Minh chứng:
(2) Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non; duy trì, nâng cao chất
lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở
Chỉ tiêu về đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trên toàn quốc
cho trẻ 5 tuổi đã hoàn thành ngay từ đầu năm 2017 với tỷ lệ huy động trẻ
mẫu giáo 5 tuổi đạt 99,98%.
Cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, trong
đó có 18/63 tỉnh, thành phố đạt mức độ; cả nước đạt chuẩn phổ cập giáo
dục trung học cơ sở mức độ 1, trong đó có 19/63 tỉnh, thành phố đạt mức
độ 2, mức độ 3...
? Phổ cập GD là gì
• Điều 11. Phổ cập giáo dục – Luật GD
• 1. Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là
các cấp học phổ cập. Nhà nước quyết định kế hoạch
phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện
phổ cập giáo dục trong cả nước.
• 2. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ
học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.
• 3. Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các
thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được
học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.
Minh chứng:
(5) Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều được
nâng lên, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao
• Theo báo cáo năm 2020 của Ngân hàng Thế giới về Vốn nhân lực,
thành phần kết quả giáo dục của Việt Nam đứng thứ 15, tương đương
với các nước như Hà Lan, New Zealand, Thụy Điển.
• Nhiều chỉ số về Giáo dục của Việt Nam được đánh giá cao trong khu
vực
• Kết quả thi Olympic của học sinh Việt Nam những năm vừa qua có
bước tiến bộ vượt bậc với 49 huy chương Vàng trong giai đoạn
2016-2020 so với 27 huy chương Vàng trong giai đoạn 2011-2015;
nhiều học sinh Việt Nam đạt điểm số cao nhất ở các nội dung thi.
Các năm 2020 và 2021 đánh dấu bước chuyển đổi linh
hoạt của hệ thống giáo dục Việt Nam trong giai đoạn
dịch bệnh.
Với chủ trương “tạm dừng đến trường, không
ngừng việc học”, các cấp bậc học (trừ mầm non) đã
chuyển sang hình thức dạy học trực tuyến qua internet
và truyền hình, đây là lần đầu tiên việc dạy học trực
tuyến được triển khai trên quy mô cả nước.
Đối với GDMN
•Mạng lưới trường lớp mầm non được củng cố, mở rộng và phân bố đến
hầu hết các địa bàn dân cư xã, phường, thôn, bản đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu đưa trẻ đến trường và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ
mầm non, mỗi phường xã có ít nhất 1 trường mầm non công lập.
•Tổng số trường tăng khoảng trên 2.600 trường so với năm 2010; cơ sở vật
chất, phòng học được tăng cường: cả nước hiện có 201.605 phòng học, (số
phòng học được xây mới trong 10 năm là 105.639 phòng: giai đoạn 20102015 tăng 48.240 phòng; giai đoạn 2015-2020 tăng 57.399), trong đó, có
156.642 phòng kiên cố (chiếm tỷ lệ 77,7%, tăng 28,3%); phòng học tạm còn
3.284 phòng (tỷ lệ 1,6%, giảm 14.180 phòng); đồ dùng đồ chơi tối thiểu được
trang bị ở hầu hết các lớp 5 tuổi.
•Đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) được nâng cao cả về số
lượng và chất lượng, chế độ chính sách được đảm bảo. Toàn
ngành hiện có 364.776 GV (tăng 148.072 GV). Tỷ lệ giáo
viên/lớp đạt 1,82 GV/lớp. GVMN từ chỗ phần lớn chưa được
hưởng chế độ của viên chức mà chỉ được chi trả theo hợp đồng
lao động với mức lương thấp, thậm chí có nơi GVMN có cuộc
sống rất bấp bênh thì đến nay tất cả GVMN đều được hưởng chế
độ chính sách như viên chức nhà nước.
•Tỷ lệ huy động trẻ đến trường tăng nhanh. Tổng số trẻ mầm
non được đến trường là 5.306.501 trẻ em (tăng 1.535.018 trẻ so
với năm học 2010-2011); trong đó có 1.637.266 trẻ mẫu giáo 5
tuổi (tăng 333.489 trẻ), tỷ lệ huy động trẻ em 5 tuổi đạt 99,6%.
•Chương trình GDMN được đổi mới, chất lượng nuôi dưỡng,
chăm sóc giáo dục trẻ được nâng cao rõ rệt, các trường thực hiện
phù hợp, linh hoạt, sáng tạo với điều kiện thực tiễn của các đơn
vị. Trẻ được chuẩn bị sẵn sàng về thể chất, tâm lý, ngôn ngữ,
nhận thức, tình cảm kỹ năng xã hội để vào lớp 1, mạnh dạn, tự
tin, ham hiểu biết, thích đi học. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em
trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm dần qua các năm. Tỷ lệ
thừa cân béo phì được khống chế. Trẻ em mẫu giáo có hoàn cảnh
khó khăn được Nhà nước hỗ trợ tiền ăn trưa; trẻ em có hoàn cảnh
khó khăn, trẻ khuyết tật được quan tâm phát hiện sớm, can thiệp
sớm, học hòa nhập góp phần nâng cao tỷ lệ huy động trẻ em đến
trường, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ được nâng cao nhờ Đề
án PCGDMNT5T.
Nguyên nhân của những thành tựu:
- Truyền thống hiếu học của dân tộc;
- Sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của
mỗi gia đình và toàn xã hội;
- Sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục;
- Sự ổn định về chính trị cùng với những thành
tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Đầu
tư cho giáo dục.
2.1.2. Những bất cập và yếu kém
- Công tác quản lý nhà nước, quản trị nhà trường còn bất cập,
trách nhiệm còn chồng chéo; việc kiện toàn,phát huy vai trò
của Hội đồng trường chưa hiệu quả.
- Tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải
quyết triệt để ở một số địa phương; chất lượng đội ngũ giáo
viên chưa đồng đều.
- Quy hoạch mạng lưới cơ sở GD ở một số địa phương chưa phù
hợp, còn tình trạng thiếu trường, lớp; quy hoạch mạng lưới các
cơ sở giáo dục đại học và sư phạm còn chậm.
- Hệ thống quản lý, quản trị, kết nối, khai thác dữ liệu phục vụ
công tác quản lý, điều hành, dạy học còn chưa đồng bộ; một số
nơi hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị kết nối còn thiếu,
- Công tác truyền thông về giáo dục còn hạn chế, chưa tạo được
đồng thuận cao trong xã hội
Những bất cập và yếu kém
• Có thể thấy, trong khung cơ cấu hệ thống GDQD, tại
bậc giáo dục phổ thông, thời lượng 12 năm là quá dài.
Cùng với đó, sự chuyển tiếp giữa bậc giáo dục phổ
thông sang giáo dục nghề nghiệp còn chậm (sau tốt
nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông). Sự
phân luồng đối với giáo dục nghề nghiệp chậm,
không tương thích với sự phát triển của công nghệ và
cơ hội tiếp cận, chia sẻ thông tin của học sinh.
• Những bất cập và yếu kém
• Về chương trình giáo dục: đã có khá nhiều ý kiến đề xuất giảm
tải chương trình giáo dục hiện hành từ bậc giáo dục phổ thông
đến giáo dục đại học, với lý do: còn nặng tính hàn lâm, kinh
viện, chương trình quá tải, chưa thực sự phù hợp với bối cảnh
thực tế. Trong khi yêu cầu của bối cảnh hiện nay là tăng cường
các kỹ năng để bảo đảm sự thích ứng, sự chuyển đổi.
• Cuộc CMCN 4.0 thể hiện sự giao thoa về tri thức giữa các lĩnh
vực khác nhau. Do đó, đội ngũ viên chức làm công tác giảng
dạy phải có vốn tri thức và kỹ năng tích hợp, phải “hội nhập”
trước khi dạy cho học sinh hội nhập.
• Minh họa:
Những Sự kiện GD nổi bật năm 2018
* Xây dựng môi trường đạo đức, cởi mở và thân thiện
ở trường
Cần được thiết lập trên nền tảng các giá trị cơ bản:
+ Được an toàn
+ Được có giá trị
+ Được yêu thương
+ Được hiểu
+ Được tôn trọng
* Môi trường nhà trường trong đó các mối quan hệ của
GV, HS được dựa trên các nền tảng của giá trị:
+ Tin tưởng, cởi mở, tôn trọng, đồng cảm, hợp tác, sẻ
chia, không bạo lực, không áp đặt
* Để xây dựng môi trường đạo đức, cởi mở và thân
thiện người quản lý và GV cần có kỹ năng gì?
+ KN lắng nghe, tạo động lực làm việc, giải quyết
xung đột tích cực, giao tiếp, ứng xử, quan tâm, tôn
trọng, chia sẻ, thấu hiểu, công bằng minh bạch, ghi
nhận và khen thưởng kịp thời, khích lệ động viên,…
2.1.2. Bối cảnh, thời cơ, thách thức đối GD nước ta
a). Bối cảnh quốc tế và trong nước
* Bối cảnh quốc tế:
- Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu
thế tất yếu.
- Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và
truyền thông
- Kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã đem đến những thay đổi
sâu sắc và nhanh chóng đối với cả nhân loại; nó tác động trực
tiếp đến quan niệm, lối sống và tư duy của con người; đồng
thời, chi phối các mối quan hệ kinh tế, chính trị - xã hội của mỗi
quốc gia. Cuộc cách mạng này tác động mạnh mẽ đến nhiều
lĩnh vực, nhiều khía cạnh trong đời sống xã hội, trong đó đặc
biệt không thể thiếu một nguồn nhân lực chất lượng cao, mà
nguồn nhân lực lại là đối tượng trực tiếp của giáo dục - đào tạo.
* Bối cảnh trong nước:
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã
khẳng định phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại
- Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới: phát
triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển
và ứng dụng khoa học, công nghệ.
b). Thời cơ và thách thức
* Thời cơ
- Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển
- Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cùng với Chiến lược và Quy
hoạch phát triển nhân lực trong thời kỳ dân số vàng là tiền đề cơ
bản để ngành giáo dục cùng các bộ, ngành, địa phương phát
triển giáo dục.
Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin và truyền thông, CN 4.0 đặt ra nhiều vấn đề cho GDVN
- Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang
diễn ra ở quy mô toàn cầu
* Thách thức
- Sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng
- Nhu cầu phát triển nhanh giáo dục đáp ứng đòi hỏi
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát
triển kinh tế theo chiều sâu tri thức với công nghệ tiên tiến và
hội nhập quốc tế, trong khi đó nguồn lực đầu tư cho giáo dục
là có hạn, sẽ tạo sức ép đối với phát triển giáo dục.
- Nguy cơ tụt hậu có thể làm cho khoảng cách kinh tế,
tri thức, giáo dục giữa Việt Nam và các nước ngày càng gia
tăng. Hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường làm nảy
sinh những vấn đề mới
• Cuộc CMCN 4.0 là sự tổng hòa của các thành tựu
công nghệ trước đó với những bước nhảy vọt. Chính
vì vậy, nó đặt ra nhiều thách thức và tạo ra thêm
nhiều ngành nghề mới trên thị trường lao động. Sự
thay đổi này đòi hỏi giáo dục phải đem lại cho người
học cả tư duy và kiến thức kỹ năng mới, khả năng
sáng tạo, tính thích ứng với thách thức và yêu cầu
mới mà các phương pháp giáo dục truyền thống
không thể đáp ứng.
• Cuộc CMCN 4.0 với những đặc trưng cốt lõi liên
quan đến trí tuệ nhân tạo, sự chia sẻ dữ liệu và quá
trình tự động hóa có tác động mạnh mẽ đến giáo dục,
làm thay đổi căn bản tư duy giáo dục. Phương pháp
giảng dạy truyền thống cùng với chương trình, sách
giáo khoa sẽ phải thay đổi cho phù hợp với bối cảnh
mới. Sử dụng công nghệ sẽ xuyên suốt cả quá trình
dạy và học. Hình thức đào tạo, giáo dục trực tuyến trở
nên phổ biến hơn, từng bước thay thế việc lên lớp
thường nhật của giáo viên.
• Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết
định nền kinh tế tri thức gắn liền với cuộc CMCN 4.0, vai trò
của Nhà nước trong việc hoạch định các chính sách vĩ mô là
vô cùng quan trọng. Các chính sách này phải nhất quán và gắn
bó giữa tiểu học, trung học và đại học, là kết quả của hệ thống
học tập suốt đời thực sự. Đòi hỏi Chính phủ phải có các chính
sách nhất quán ở các lĩnh vực khác, như việc làm, khoa học –
công nghệ, thông tin và tuyên truyền. Các chính sách này phải
được cam kết thực hiện trong cả xã hội và các cộng đồng địa
phương.
2.2. Những quan điểm chỉ đạo
về đổi mới GD&ĐT
Quan điểm về đổi mới GD&ĐT
- GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và nhân dân
- Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, là động lực then
chốt để phát triển đất nước. Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu
phát triển KT-XH, tiến bộ KH-CN. Giáo dục và đào tạo tham gia
vào quá trình phát triển trên nhiều lĩnh vực, là nhân tố quan
trọng tác động trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế – xã
hội, do vậy, để giáo dục Việt Nam có thể hòa vào dòng chảy của
xu thế phát triển trên thế giới, các chính sách giáo dục cần phải
thay đổi một cách bản chất. Quá trình hoạch định chính sách
giáo dục không tách rời khỏi các chính sách về chính trị, văn
hóa, kinh tế.
- Xây dựng nền giáo dục có tính dân tộc, nhân dân, khoa học,
hiện đại
Đầu tư vào tiềm năng con người giúp Việt Nam nâng cao lợi
thế cạnh tranh và được hưởng lợi đầy đủ khi tham gia hội nhập
kinh tế quốc tế. Cần quan tâm đến chỉ số phát triển con người
(HDI): là chỉ số tổng hợp từ nhiều biến số như mức thu nhập,
tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia
trên thế giới. Để duy trì tiến trình tăng chỉ số HDI, cần đầu tư
nhiều hơn nữa vào con người. Nếu không đầu tư vào con
người thì những lợi ích thu được từ thị trường quốc tế hoặc từ
đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ rất hạn chế.
- Đổi mới những vấn đề cốt lõi
chương trình và đội ngũ làm công tác giảng
dạy phải bảo đảm sự cân đối, phù hợp giữa kiến
thức và kỹ năng. Kết nối giữa giáo dục và đào
tạo với thực tiễn cuộc sống, vững vàng trong
thực hiện 4 trụ cột căn bản mà UNESCO đã đề
ra: học để biết, học để làm, học để chung sống
và để phát triển bản thân.
QUAN ĐIỂM CỦA UNESCO VỀ BỐN TRỤ CỘT
CỦA GIÁO DỤC
• “Giáo dục phải được tổ chức xoay quanh bốn loại hình cơ bản
mà trong một cuộc đời mỗi con người, chúng sẽ là những trụ
cột của kiến thức:
• - Học để biết là nắm những công cụ để hiểu.
• - Học để làm là phải có những khả năng hoạt động sáng tạo tác
động vào môi trường sống của mình.
• - Học để cùng chung sống là tham gia và hợp tác với những
người khác trong mọi hoạt động của con người.
• - Học để làm người là sự tiến triển quan trọng nảy sinh từ ba
loại hình trên”.
“Cả bốn con đường kiến thức trên là một thể thống nhất, bởi vì
có rất nhiều mối quan hệ liên hệ và tác động giữa chúng với
nhau”.
a) CHIẾN LƯỢC
Phát triển giáo dục 2011 - 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐTTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ
tướng Chính phủ)
QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
1. Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là
sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân
2. Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến,
hiện đại, xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
3. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập
quốc tế
4. Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn
và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định
hướng xã hội chủ nghĩa
►
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẾN NĂM
2020
1. Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản
và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá,
dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được
nâng cao một cách toàn diện
b) Nghị quyết 29-NQ/TW, 4/11/2013
«ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO
DỤC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VÀ HỘI NHẬP QUỐC
TẾ»
Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
* Quan điểm chỉ đạo
• 1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
• 2- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
• 3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài
• 4- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã
hội và bảo vệ Tổ quốc,....
• 5- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông.
• 6- Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt
khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và
các đối tượng chính sách.
• 7- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo,
đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để
phát triển đất nước.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo là đổi mới như thế nào?
• Là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết,
• - Từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung,
phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm
thực hiện;
• - Đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà
nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào
tạo
• - Đổi mới việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội
và bản thân người học;
• - Đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Đổi mới toàn diện
• Là đổi mới những vấn đề cấp thiết: Từ quan điểm, tư
tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, phương pháp, cơ chế,
chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện.
• Tức là nhìn rộng hơn, toàn diện hơn, có tính hệ thống
hơn nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao phẩm chất và
năng lực của con người trong thế kỷ XXI.
Đổi mới căn bản
• Là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, đổi mới về chất, đổi mới
từ gốc rễ, đổi mới có tính chất bước ngoặt với tinh thần và thái
độ kiên quyết để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất và hiệu
quả giáo dục.
• Đổi mới căn bản tập trung vào 2 ý:
-Chuyển nền giáo dục từ nhiệm vụ trọng tâm trang bị kiến thức
cho người học sang phát triển phẩm chất năng lực người học.
Nghĩa là chuyển từ chương trình định hướng giáo dục sang
định hướng năng lực.
-Chuyển hệ thống giáo dục hiện nay sang hệ thống giáo dục mở,
xây dựng xã hội học tập và định hướng học tập suốt đời.
Giải pháp Then chốt:
• Phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lí
giáo dục
• Đổi mới cơ chế quản lí theo hướng dân chủ hóa,
phát huy tính chủ động sáng tạo, phát huy sức
mạnh tập thể, sức mạnh của từng cá nhân.
QĐ 33 –TTg, ngày 08/01/2019 phê duyệt Đề án ĐT,BD
nhà giáo và CBQL GDMN gđ 2018-2025
Mục tiêu chung: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non bảo
đảm chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất
nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo
dục mầm non; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội
ngũ giảng viên và cán bộ quản lý ở các cơ sở đào tạo,
bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm
non góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo.
Mục tiêu cụ thể: Giai đoạn 2021 - 2025
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục mầm non:
+ Đào tạo nâng cao trình độ, ít nhất 90% giáo viên mầm non đạt
trình độ từ cao đẳng sư phạm mầm non trở lên, 85% giáo viên mầm
non đạt chuẩn nghề nghiệp mức độ khá trở lên; đào tạo bổ sung,
thay thế đủ số giáo viên mầm non nghỉ hưu, số giáo viên tăng thêm
theo tỷ lệ huy động trẻ;
+ Phấn đấu 100% giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm
non cốt cán được bồi dưỡng năng lực hỗ trợ đồng nghiệp tự học, tự
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên, liên tục, ngay tại
trường; từng bước tiếp cận với trình độ của giáo viên các nước tiên
tiến trong khu vực ASEAN; 100% bồi dưỡng nâng cao năng lực
theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non mới, chuẩn hiệu trưởng
mới.
– Giải pháp Đột phá:
• Đổi mới thi, kiểm tra đánh giá là khâu đột phá
sau đó mới đến đổi mới quản lí. Từ đó mới có thể
thay đổi được cách dạy, cách học.
* Mục tiêu tổng quát:
• Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng,
hiệu quả giáo dục, đào tạo; Giáo dục con người Việt
Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm
năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân.
• Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp,
dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức
giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo
đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa,
hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập
quốc tế.
2- Mục tiêu cụ thể
- Đối với giáo dục mầm non: giúp trẻ phát triển thể
chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu
tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước
vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong
những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020.
Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát
triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp
với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục.
• - Đối với giáo dục phổ thông:
- Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất,
năng lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
nghiệp cho học sinh.
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục lý tưởng,
truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực
và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
- Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt
đời. Bảo đảm cho học sinh có trình độ THCS có tri thức phổ
thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS;
THPTphải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học
sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập
giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.
• Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt
trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương.
c) Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10
năm 2021-2030
Quan điểm: Phát huy tối đa nhân tố con người,
coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực
quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển
ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC
• 2. Tiếp tục phát triển toàn diện
nguồn nhân lực, khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với khơi
dậy khát vọng phát triển đất nước
ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƯỚC VỀ GD & ĐT
NỘI DUNG CHÍNH:
2.1. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong
GD&ĐT hiện nay
2. 2. Những quan điểm chỉ đạo về đổi mới GD&ĐT
2. 3. Mục tiêu phát triển GD&ĐT
2. 4. Các giải pháp phát triển GD&ĐT
2.1. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong GD&ĐT hiện nay
2.1.1. Thành tựu của Giáo dục Việt Nam
Sau 12 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản
toàn diện giáo dục và đào tạo, Năm 2021,Bộ trưởng GD-ĐT cho
biết ngành giáo dục và đào tạo đã có một số kết quả nổi bật:
(1) Hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo cơ bản
được hoàn thiện
(2) Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non (mẫu giáo 5 tuổi); duy trì,
nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở;
(3) Ban hành và tích cực triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới
(4) Công tác tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục ngày
càng thực chất, hiệu quả hơn
(5) Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều
được nâng lên, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao
(6) Tự chủ đại học được đẩy mạnh, chất lượng đào tạo đại
học có nhiều chuyển biến tích cực
(7) Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, kỹ năng
sống cho học sinh, sinh viên có nhiều chuyển biến tích cực
(8) Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế
trong giáo dục, đào tạo.
(9) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh
chuyển đổi số trong ngành giáo dục
• Minh chứng:
(1) Hệ thống cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáo
dục và đào tạo cơ bản được hoàn thiện
- Tham mưu ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục đại học năm 2018 và Luật Giáo dục (sửa đổi,
ban hành mới) năm 2019.
- Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khung cơ cấu hệ
thống giáo dục quốc dân.
Minh chứng:
(2) Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non; duy trì, nâng cao chất
lượng phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở
Chỉ tiêu về đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trên toàn quốc
cho trẻ 5 tuổi đã hoàn thành ngay từ đầu năm 2017 với tỷ lệ huy động trẻ
mẫu giáo 5 tuổi đạt 99,98%.
Cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, trong
đó có 18/63 tỉnh, thành phố đạt mức độ; cả nước đạt chuẩn phổ cập giáo
dục trung học cơ sở mức độ 1, trong đó có 19/63 tỉnh, thành phố đạt mức
độ 2, mức độ 3...
? Phổ cập GD là gì
• Điều 11. Phổ cập giáo dục – Luật GD
• 1. Giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là
các cấp học phổ cập. Nhà nước quyết định kế hoạch
phổ cập giáo dục, bảo đảm các điều kiện để thực hiện
phổ cập giáo dục trong cả nước.
• 2. Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ
học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.
• 3. Gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các
thành viên của gia đình trong độ tuổi quy định được
học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập.
Minh chứng:
(5) Chất lượng giáo dục phổ thông cả đại trà và mũi nhọn đều được
nâng lên, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao
• Theo báo cáo năm 2020 của Ngân hàng Thế giới về Vốn nhân lực,
thành phần kết quả giáo dục của Việt Nam đứng thứ 15, tương đương
với các nước như Hà Lan, New Zealand, Thụy Điển.
• Nhiều chỉ số về Giáo dục của Việt Nam được đánh giá cao trong khu
vực
• Kết quả thi Olympic của học sinh Việt Nam những năm vừa qua có
bước tiến bộ vượt bậc với 49 huy chương Vàng trong giai đoạn
2016-2020 so với 27 huy chương Vàng trong giai đoạn 2011-2015;
nhiều học sinh Việt Nam đạt điểm số cao nhất ở các nội dung thi.
Các năm 2020 và 2021 đánh dấu bước chuyển đổi linh
hoạt của hệ thống giáo dục Việt Nam trong giai đoạn
dịch bệnh.
Với chủ trương “tạm dừng đến trường, không
ngừng việc học”, các cấp bậc học (trừ mầm non) đã
chuyển sang hình thức dạy học trực tuyến qua internet
và truyền hình, đây là lần đầu tiên việc dạy học trực
tuyến được triển khai trên quy mô cả nước.
Đối với GDMN
•Mạng lưới trường lớp mầm non được củng cố, mở rộng và phân bố đến
hầu hết các địa bàn dân cư xã, phường, thôn, bản đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu đưa trẻ đến trường và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ
mầm non, mỗi phường xã có ít nhất 1 trường mầm non công lập.
•Tổng số trường tăng khoảng trên 2.600 trường so với năm 2010; cơ sở vật
chất, phòng học được tăng cường: cả nước hiện có 201.605 phòng học, (số
phòng học được xây mới trong 10 năm là 105.639 phòng: giai đoạn 20102015 tăng 48.240 phòng; giai đoạn 2015-2020 tăng 57.399), trong đó, có
156.642 phòng kiên cố (chiếm tỷ lệ 77,7%, tăng 28,3%); phòng học tạm còn
3.284 phòng (tỷ lệ 1,6%, giảm 14.180 phòng); đồ dùng đồ chơi tối thiểu được
trang bị ở hầu hết các lớp 5 tuổi.
•Đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) được nâng cao cả về số
lượng và chất lượng, chế độ chính sách được đảm bảo. Toàn
ngành hiện có 364.776 GV (tăng 148.072 GV). Tỷ lệ giáo
viên/lớp đạt 1,82 GV/lớp. GVMN từ chỗ phần lớn chưa được
hưởng chế độ của viên chức mà chỉ được chi trả theo hợp đồng
lao động với mức lương thấp, thậm chí có nơi GVMN có cuộc
sống rất bấp bênh thì đến nay tất cả GVMN đều được hưởng chế
độ chính sách như viên chức nhà nước.
•Tỷ lệ huy động trẻ đến trường tăng nhanh. Tổng số trẻ mầm
non được đến trường là 5.306.501 trẻ em (tăng 1.535.018 trẻ so
với năm học 2010-2011); trong đó có 1.637.266 trẻ mẫu giáo 5
tuổi (tăng 333.489 trẻ), tỷ lệ huy động trẻ em 5 tuổi đạt 99,6%.
•Chương trình GDMN được đổi mới, chất lượng nuôi dưỡng,
chăm sóc giáo dục trẻ được nâng cao rõ rệt, các trường thực hiện
phù hợp, linh hoạt, sáng tạo với điều kiện thực tiễn của các đơn
vị. Trẻ được chuẩn bị sẵn sàng về thể chất, tâm lý, ngôn ngữ,
nhận thức, tình cảm kỹ năng xã hội để vào lớp 1, mạnh dạn, tự
tin, ham hiểu biết, thích đi học. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em
trong các cơ sở giáo dục mầm non giảm dần qua các năm. Tỷ lệ
thừa cân béo phì được khống chế. Trẻ em mẫu giáo có hoàn cảnh
khó khăn được Nhà nước hỗ trợ tiền ăn trưa; trẻ em có hoàn cảnh
khó khăn, trẻ khuyết tật được quan tâm phát hiện sớm, can thiệp
sớm, học hòa nhập góp phần nâng cao tỷ lệ huy động trẻ em đến
trường, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ được nâng cao nhờ Đề
án PCGDMNT5T.
Nguyên nhân của những thành tựu:
- Truyền thống hiếu học của dân tộc;
- Sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước,
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của
mỗi gia đình và toàn xã hội;
- Sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản
lý giáo dục;
- Sự ổn định về chính trị cùng với những thành
tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Đầu
tư cho giáo dục.
2.1.2. Những bất cập và yếu kém
- Công tác quản lý nhà nước, quản trị nhà trường còn bất cập,
trách nhiệm còn chồng chéo; việc kiện toàn,phát huy vai trò
của Hội đồng trường chưa hiệu quả.
- Tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ vẫn chưa được giải
quyết triệt để ở một số địa phương; chất lượng đội ngũ giáo
viên chưa đồng đều.
- Quy hoạch mạng lưới cơ sở GD ở một số địa phương chưa phù
hợp, còn tình trạng thiếu trường, lớp; quy hoạch mạng lưới các
cơ sở giáo dục đại học và sư phạm còn chậm.
- Hệ thống quản lý, quản trị, kết nối, khai thác dữ liệu phục vụ
công tác quản lý, điều hành, dạy học còn chưa đồng bộ; một số
nơi hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị kết nối còn thiếu,
- Công tác truyền thông về giáo dục còn hạn chế, chưa tạo được
đồng thuận cao trong xã hội
Những bất cập và yếu kém
• Có thể thấy, trong khung cơ cấu hệ thống GDQD, tại
bậc giáo dục phổ thông, thời lượng 12 năm là quá dài.
Cùng với đó, sự chuyển tiếp giữa bậc giáo dục phổ
thông sang giáo dục nghề nghiệp còn chậm (sau tốt
nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông). Sự
phân luồng đối với giáo dục nghề nghiệp chậm,
không tương thích với sự phát triển của công nghệ và
cơ hội tiếp cận, chia sẻ thông tin của học sinh.
• Những bất cập và yếu kém
• Về chương trình giáo dục: đã có khá nhiều ý kiến đề xuất giảm
tải chương trình giáo dục hiện hành từ bậc giáo dục phổ thông
đến giáo dục đại học, với lý do: còn nặng tính hàn lâm, kinh
viện, chương trình quá tải, chưa thực sự phù hợp với bối cảnh
thực tế. Trong khi yêu cầu của bối cảnh hiện nay là tăng cường
các kỹ năng để bảo đảm sự thích ứng, sự chuyển đổi.
• Cuộc CMCN 4.0 thể hiện sự giao thoa về tri thức giữa các lĩnh
vực khác nhau. Do đó, đội ngũ viên chức làm công tác giảng
dạy phải có vốn tri thức và kỹ năng tích hợp, phải “hội nhập”
trước khi dạy cho học sinh hội nhập.
• Minh họa:
Những Sự kiện GD nổi bật năm 2018
* Xây dựng môi trường đạo đức, cởi mở và thân thiện
ở trường
Cần được thiết lập trên nền tảng các giá trị cơ bản:
+ Được an toàn
+ Được có giá trị
+ Được yêu thương
+ Được hiểu
+ Được tôn trọng
* Môi trường nhà trường trong đó các mối quan hệ của
GV, HS được dựa trên các nền tảng của giá trị:
+ Tin tưởng, cởi mở, tôn trọng, đồng cảm, hợp tác, sẻ
chia, không bạo lực, không áp đặt
* Để xây dựng môi trường đạo đức, cởi mở và thân
thiện người quản lý và GV cần có kỹ năng gì?
+ KN lắng nghe, tạo động lực làm việc, giải quyết
xung đột tích cực, giao tiếp, ứng xử, quan tâm, tôn
trọng, chia sẻ, thấu hiểu, công bằng minh bạch, ghi
nhận và khen thưởng kịp thời, khích lệ động viên,…
2.1.2. Bối cảnh, thời cơ, thách thức đối GD nước ta
a). Bối cảnh quốc tế và trong nước
* Bối cảnh quốc tế:
- Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu
thế tất yếu.
- Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và
truyền thông
- Kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã đem đến những thay đổi
sâu sắc và nhanh chóng đối với cả nhân loại; nó tác động trực
tiếp đến quan niệm, lối sống và tư duy của con người; đồng
thời, chi phối các mối quan hệ kinh tế, chính trị - xã hội của mỗi
quốc gia. Cuộc cách mạng này tác động mạnh mẽ đến nhiều
lĩnh vực, nhiều khía cạnh trong đời sống xã hội, trong đó đặc
biệt không thể thiếu một nguồn nhân lực chất lượng cao, mà
nguồn nhân lực lại là đối tượng trực tiếp của giáo dục - đào tạo.
* Bối cảnh trong nước:
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã
khẳng định phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại
- Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới: phát
triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng
cao, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển
và ứng dụng khoa học, công nghệ.
b). Thời cơ và thách thức
* Thời cơ
- Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển
- Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 cùng với Chiến lược và Quy
hoạch phát triển nhân lực trong thời kỳ dân số vàng là tiền đề cơ
bản để ngành giáo dục cùng các bộ, ngành, địa phương phát
triển giáo dục.
Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin và truyền thông, CN 4.0 đặt ra nhiều vấn đề cho GDVN
- Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang
diễn ra ở quy mô toàn cầu
* Thách thức
- Sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng
- Nhu cầu phát triển nhanh giáo dục đáp ứng đòi hỏi
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát
triển kinh tế theo chiều sâu tri thức với công nghệ tiên tiến và
hội nhập quốc tế, trong khi đó nguồn lực đầu tư cho giáo dục
là có hạn, sẽ tạo sức ép đối với phát triển giáo dục.
- Nguy cơ tụt hậu có thể làm cho khoảng cách kinh tế,
tri thức, giáo dục giữa Việt Nam và các nước ngày càng gia
tăng. Hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường làm nảy
sinh những vấn đề mới
• Cuộc CMCN 4.0 là sự tổng hòa của các thành tựu
công nghệ trước đó với những bước nhảy vọt. Chính
vì vậy, nó đặt ra nhiều thách thức và tạo ra thêm
nhiều ngành nghề mới trên thị trường lao động. Sự
thay đổi này đòi hỏi giáo dục phải đem lại cho người
học cả tư duy và kiến thức kỹ năng mới, khả năng
sáng tạo, tính thích ứng với thách thức và yêu cầu
mới mà các phương pháp giáo dục truyền thống
không thể đáp ứng.
• Cuộc CMCN 4.0 với những đặc trưng cốt lõi liên
quan đến trí tuệ nhân tạo, sự chia sẻ dữ liệu và quá
trình tự động hóa có tác động mạnh mẽ đến giáo dục,
làm thay đổi căn bản tư duy giáo dục. Phương pháp
giảng dạy truyền thống cùng với chương trình, sách
giáo khoa sẽ phải thay đổi cho phù hợp với bối cảnh
mới. Sử dụng công nghệ sẽ xuyên suốt cả quá trình
dạy và học. Hình thức đào tạo, giáo dục trực tuyến trở
nên phổ biến hơn, từng bước thay thế việc lên lớp
thường nhật của giáo viên.
• Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết
định nền kinh tế tri thức gắn liền với cuộc CMCN 4.0, vai trò
của Nhà nước trong việc hoạch định các chính sách vĩ mô là
vô cùng quan trọng. Các chính sách này phải nhất quán và gắn
bó giữa tiểu học, trung học và đại học, là kết quả của hệ thống
học tập suốt đời thực sự. Đòi hỏi Chính phủ phải có các chính
sách nhất quán ở các lĩnh vực khác, như việc làm, khoa học –
công nghệ, thông tin và tuyên truyền. Các chính sách này phải
được cam kết thực hiện trong cả xã hội và các cộng đồng địa
phương.
2.2. Những quan điểm chỉ đạo
về đổi mới GD&ĐT
Quan điểm về đổi mới GD&ĐT
- GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và nhân dân
- Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, là động lực then
chốt để phát triển đất nước. Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu
phát triển KT-XH, tiến bộ KH-CN. Giáo dục và đào tạo tham gia
vào quá trình phát triển trên nhiều lĩnh vực, là nhân tố quan
trọng tác động trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế – xã
hội, do vậy, để giáo dục Việt Nam có thể hòa vào dòng chảy của
xu thế phát triển trên thế giới, các chính sách giáo dục cần phải
thay đổi một cách bản chất. Quá trình hoạch định chính sách
giáo dục không tách rời khỏi các chính sách về chính trị, văn
hóa, kinh tế.
- Xây dựng nền giáo dục có tính dân tộc, nhân dân, khoa học,
hiện đại
Đầu tư vào tiềm năng con người giúp Việt Nam nâng cao lợi
thế cạnh tranh và được hưởng lợi đầy đủ khi tham gia hội nhập
kinh tế quốc tế. Cần quan tâm đến chỉ số phát triển con người
(HDI): là chỉ số tổng hợp từ nhiều biến số như mức thu nhập,
tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia
trên thế giới. Để duy trì tiến trình tăng chỉ số HDI, cần đầu tư
nhiều hơn nữa vào con người. Nếu không đầu tư vào con
người thì những lợi ích thu được từ thị trường quốc tế hoặc từ
đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ rất hạn chế.
- Đổi mới những vấn đề cốt lõi
chương trình và đội ngũ làm công tác giảng
dạy phải bảo đảm sự cân đối, phù hợp giữa kiến
thức và kỹ năng. Kết nối giữa giáo dục và đào
tạo với thực tiễn cuộc sống, vững vàng trong
thực hiện 4 trụ cột căn bản mà UNESCO đã đề
ra: học để biết, học để làm, học để chung sống
và để phát triển bản thân.
QUAN ĐIỂM CỦA UNESCO VỀ BỐN TRỤ CỘT
CỦA GIÁO DỤC
• “Giáo dục phải được tổ chức xoay quanh bốn loại hình cơ bản
mà trong một cuộc đời mỗi con người, chúng sẽ là những trụ
cột của kiến thức:
• - Học để biết là nắm những công cụ để hiểu.
• - Học để làm là phải có những khả năng hoạt động sáng tạo tác
động vào môi trường sống của mình.
• - Học để cùng chung sống là tham gia và hợp tác với những
người khác trong mọi hoạt động của con người.
• - Học để làm người là sự tiến triển quan trọng nảy sinh từ ba
loại hình trên”.
“Cả bốn con đường kiến thức trên là một thể thống nhất, bởi vì
có rất nhiều mối quan hệ liên hệ và tác động giữa chúng với
nhau”.
a) CHIẾN LƯỢC
Phát triển giáo dục 2011 - 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐTTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ
tướng Chính phủ)
QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
1. Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là
sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân
2. Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến,
hiện đại, xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
3. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập
quốc tế
4. Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn
và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định
hướng xã hội chủ nghĩa
►
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẾN NĂM
2020
1. Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản
và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá,
dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được
nâng cao một cách toàn diện
b) Nghị quyết 29-NQ/TW, 4/11/2013
«ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO
DỤC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA TRONG ĐIỀU KIỆN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VÀ HỘI NHẬP QUỐC
TẾ»
Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
* Quan điểm chỉ đạo
• 1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
• 2- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
• 3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài
• 4- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã
hội và bảo vệ Tổ quốc,....
• 5- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông.
• 6- Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt
khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và
các đối tượng chính sách.
• 7- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo,
đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để
phát triển đất nước.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo là đổi mới như thế nào?
• Là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết,
• - Từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung,
phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm
thực hiện;
• - Đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà
nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào
tạo
• - Đổi mới việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội
và bản thân người học;
• - Đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
Đổi mới toàn diện
• Là đổi mới những vấn đề cấp thiết: Từ quan điểm, tư
tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, phương pháp, cơ chế,
chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện.
• Tức là nhìn rộng hơn, toàn diện hơn, có tính hệ thống
hơn nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao phẩm chất và
năng lực của con người trong thế kỷ XXI.
Đổi mới căn bản
• Là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, đổi mới về chất, đổi mới
từ gốc rễ, đổi mới có tính chất bước ngoặt với tinh thần và thái
độ kiên quyết để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất và hiệu
quả giáo dục.
• Đổi mới căn bản tập trung vào 2 ý:
-Chuyển nền giáo dục từ nhiệm vụ trọng tâm trang bị kiến thức
cho người học sang phát triển phẩm chất năng lực người học.
Nghĩa là chuyển từ chương trình định hướng giáo dục sang
định hướng năng lực.
-Chuyển hệ thống giáo dục hiện nay sang hệ thống giáo dục mở,
xây dựng xã hội học tập và định hướng học tập suốt đời.
Giải pháp Then chốt:
• Phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lí
giáo dục
• Đổi mới cơ chế quản lí theo hướng dân chủ hóa,
phát huy tính chủ động sáng tạo, phát huy sức
mạnh tập thể, sức mạnh của từng cá nhân.
QĐ 33 –TTg, ngày 08/01/2019 phê duyệt Đề án ĐT,BD
nhà giáo và CBQL GDMN gđ 2018-2025
Mục tiêu chung: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non bảo
đảm chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất
nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo
dục mầm non; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội
ngũ giảng viên và cán bộ quản lý ở các cơ sở đào tạo,
bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục mầm
non góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo.
Mục tiêu cụ thể: Giai đoạn 2021 - 2025
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở
giáo dục mầm non:
+ Đào tạo nâng cao trình độ, ít nhất 90% giáo viên mầm non đạt
trình độ từ cao đẳng sư phạm mầm non trở lên, 85% giáo viên mầm
non đạt chuẩn nghề nghiệp mức độ khá trở lên; đào tạo bổ sung,
thay thế đủ số giáo viên mầm non nghỉ hưu, số giáo viên tăng thêm
theo tỷ lệ huy động trẻ;
+ Phấn đấu 100% giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm
non cốt cán được bồi dưỡng năng lực hỗ trợ đồng nghiệp tự học, tự
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên, liên tục, ngay tại
trường; từng bước tiếp cận với trình độ của giáo viên các nước tiên
tiến trong khu vực ASEAN; 100% bồi dưỡng nâng cao năng lực
theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non mới, chuẩn hiệu trưởng
mới.
– Giải pháp Đột phá:
• Đổi mới thi, kiểm tra đánh giá là khâu đột phá
sau đó mới đến đổi mới quản lí. Từ đó mới có thể
thay đổi được cách dạy, cách học.
* Mục tiêu tổng quát:
• Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng,
hiệu quả giáo dục, đào tạo; Giáo dục con người Việt
Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm
năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân.
• Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp,
dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức
giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo
đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa,
hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập
quốc tế.
2- Mục tiêu cụ thể
- Đối với giáo dục mầm non: giúp trẻ phát triển thể
chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu
tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước
vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ
5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong
những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020.
Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát
triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp
với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục.
• - Đối với giáo dục phổ thông:
- Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất,
năng lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
nghiệp cho học sinh.
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục lý tưởng,
truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực
và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
- Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt
đời. Bảo đảm cho học sinh có trình độ THCS có tri thức phổ
thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS;
THPTphải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học
sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập
giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.
• Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt
trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương.
c) Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10
năm 2021-2030
Quan điểm: Phát huy tối đa nhân tố con người,
coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực
quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển
ĐỘT PHÁ CHIẾN LƯỢC
• 2. Tiếp tục phát triển toàn diện
nguồn nhân lực, khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với khơi
dậy khát vọng phát triển đất nước
 








Các ý kiến mới nhất