Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài giảng khác

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trọng Lăng
Ngày gửi: 09h:19' 11-12-2018
Dung lượng: 30.5 MB
Số lượt tải: 95
Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Trọng Lăng)
CHƯƠNG III.
CÁC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CƠ BẢN CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC






Sự phát triển hệ thần kinh
( 6- 11 tuổi )

Não bộ không đáng kể nhưng đến lúc trẻ 8 tuổi tế bào thần kinh ở bán cầu đại não bằng số lượng tế bào thần kinh ở bán cầu đại não của người lớn.
Trọng lượng não là 1400g (11 tuổi ) bằng người lớn .
chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não phát triển, đặc biệt là thùy trán ( tạo điều kiện phát triển bậc cao ).
Quan hệ hưng phấn- ức chế có hướng cân bằng so với tuổi mẫu giáo. Tuy nhiên các em lứa tuổi nhi đồng vẫn hiếu động và dễ bị kích động.
Sự phát triển cơ thể
Hệ xương tiếp tục phát triển nhưng chưa cốt hóa hoàn toàn, còn nhiều mô sụn .
Xương của trẻ nhi đồng rất dẻo dai, có nhiều khả năng trong các lĩnh vực thể thao .
ở những năm đầu tiểu học trẻ thường gặp nhiều khó khăn dễ bị mệt mỏi khi tập viết (9 tuổi các đốt ngón tay được cốt hóa, đến 10-11 tuổi xương cổ tay được cốt hóa ).

Xương sọ của trẻ em
Sự phát triển của cơ thể
Cơ bắp, dây chằng cơ bắp được tăng cường : các cơ lớn phát triển mạnh, trẻ có nhiều khả năng thực hiện các vận động tương đối mạnh.


Sức khỏe và bệnh tật ở tuổi nhi đồng.
Các cơ tim phát triển mạnh và được cung cấp máu đầy đủ giúp trẻ có thể chịu đựng được các các vận động với cường độ tương đối lớn và thời gian dài.
Sự phát triển thể chất của trẻ trong giai đoạn này diễn ra với tốc độ chậm hơn các giai đoạn trước . Sự hoàn thiện cơ thể của giai đoạn này là để chuẩn bị cho bước phát triển đột phá lần thứ 2 trong đời người ( 12-15 tuổi )


I. Các hoạt động cơ bản.
1. Hoạt động học của học sinh tiểu học.
Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học (từ 6 đến 11, 12 tuổi). Hoạt động này có những đặc điểm sau:
- Lần đầu tiên hoạt động học được tổ chức chuyên biệt đó là hoạt động có đối tượng, có phương pháp và được tổ chức chặt chẽ tạo nên sự phát triển tâm lý mạnh mẽ ở trẻ em.
Giai đoạn: nhi đồng .
Ở giai đoạn này cấu tạo và chức năng trong cơ thể đã hoàn thiện nhưng trẻ dễ bị tư thế sai lệch: cong vẹo cột sống, gù lưng… do tư thế ngồi không đúng
- Nhờ có hoạt động học tập ở trường, các quá trình tâm lý phát triển, từng bước hình thành các thuộc tính tâm lý của nhân cách học sinh. Đặc điệt ở lứa tuổi học sinh tiểu học là sự phát triển về trí tuệ.
- Hoạt động học tập của các em được các thầy cô giáo có tay nghề, tổ chức, hướng dẫn, thông qua các hành động học tập, học sinh chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Như vậy, hoạt động học tập là một dạng hoạt động đặc trưng của con người. Hoạt động đó nhằm chuẩn bị cho trẻ, cho cá nhân bước vào cuộc sống, bước vào lao động.
 Hoạt động chủ đạo của học sinh được thể hiện:
+ Với học sinh những lớp đầu bậc tiểu học thì vui chơi và học tập là hai hoạt động chủ đạo.
+ Với học sinh từ giữa tuổi tiểu học trở đi thì học tập giữ vai trò chủ đạo. Thông qua học tập học sinh thiết lập mối quan hệ: trẻ em - thầy cô giáo và hệ thống tri thức môn học, cách học tạo nên bước ngoặt trong cuộc đời trẻ.
Học tập đã đưa học sinh tiểu học đến với các yếu tố thực tại là nguồn gốc của sự phát triển tâm lý và biến đổi tâm lý cơ bản của các em.
+ Các em học sinh tiểu học còn tham gia vào các hình thức hoạt động vui chơi, hoạt động lao động, hoạt động xã hội do phong trào đội thiếu nên tiền phong Hồ Chí Minh tổ chức.
Nội dung hoạt động học của học sinh là vấn đề mà mọi nhà giáo và những người quan tâm đến giáo dục thế hệ trẻ quan tâm.
Nội dung có tính chuẩn mực ở mức tối thiểu và cần thiết cho cuộc sống của trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học thuộc về khoa học tự nhiên, xã hội và về con người.

1.2. Nội dung hoạt động học tập của học sinh tiểu học

Trong dạy học, giáo viên cần hình thành cho học sinh động cơ học tập chân chính, đích thực, đó là động cơ bên trong. Vì thế mà ở Tiểu học tiêu chí cơ bản để đánh giá việc học của học sinh là nhu cầu – thái độ học tập, hay nói khác là động cơ học tập.
Biểu hiện của động cơ học tập chân chính đích thực là học sinh thích học, tự giác tham gia vào hoạt động học. Yêu thích việc học thì học sinh sẽ chăm chú học tập và chắc chắn sẽ đạt kết quả nếu như giáo viên biết tổ chức cho các em học tập.
1.3. Động cơ học tập

Nhiệm vụ học tập là cơ cấu được cụ thể hoá từng đơn vị nội dung học tập thành tình huống có chứa mục đích và phương tiện cần và đủ để đạt được mục đích đó, như từ lâu người ta vẫn thường nói là “tình huống có vấn đề”.
Học sinh, với sự tổ chức dẫn dắt của giáo viên, tiến hành hoạt động học để tạo ra cho mình sản phẩm học tập, cũng là tạo ra cái mới trong tâm lí, tạo ra năng lực mới chứ không đơn thuần là tích luỹ thêm, không phải là gộp thêm vào vốn kinh nghiệm đã có.
1.4. Nhiệm vụ học tập

Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập bằng các hành động chuyên biệt như hành động phân tích, hành động mô hình hoá, hành động cụ thể hoá, hành động kiểm tra và đánh giá.
1.5.Các hành động học

Hoạt động học của học sinh tiểu học được hình thành bằng phương pháp nhà trường.
Phương pháp nhà trường tiểu học là phương thức học tập bậc Tiểu học, được hình thành từ nội dung, phương pháp và phương thức tổ chức học tập. Về vấn đề này, theo Hồ Ngọc Đại thì nó được tập trung vào CÁI và CÁCH(1). Vấn đề này sẽ được trình bày kĩ hơn ở chủ đề 4, chủ đề này chỉ nói về sự hình thành hoạt động học ở học sinh tiểu học.
1.10. Sự hình thành hoạt động học ở học sinh tiểu học
Mục đích của tiết học này là nhằm hình thành ở học sinh cái mới, cái chưa hề có trong các em. Để thực hiện tiết học này, giáo viên cần xác định rõ mục đích - yêu cầu và phương tiện cần thiết để học sinh thực hiện các hành động học tập, các thao tác học tập để đạt mục đích theo yêu cầu về sản phẩm (kết quả).
1.11. Tiết hình thành

– Giáo viên giao nhiệm vụ học tập cho học sinh, nghĩa là nêu mục đích – chỉ ra yêu cầu của việc học và những phương tiện cần thiết để thực hiện việc học cụ thể đó.
– Giáo viên hướng dẫn cách làm và làm mẫu cho học sinh quan sát (có thể theo từng bước hoặc cả quá trình) với mục đích chỉ ra cách làm để mỗi học sinh đều làm được theo sự chỉ dẫn qua việc làm mẫu của giáo viên chứ không phải chỉ là nghe để nhớ mà là nghe, là quan sát theo dõi để hiểu và làm.

Tiết học này được tổ chức theo lôgic sau:

– Học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập: học sinh chỉ có thể thực hiện nhiệm vụ học tập khi chính mỗi em đã tiếp nhận nhiệm vụ cụ thể đó (nghĩa là hiểu được việc mình cần thực hiện) và biết cách làm. Nhiệm vụ cụ thể này được mỗi học sinh thực hiện có sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên.
– Trong quá trình và khi học sinh kết thúc tiết học cần có sự nhận xét đánh giá và điều chỉnh kịp thời của giáo viên và cũng cần có sự tự nhìn nhận đánh giá việc học tập và kết quả thu được của chính mỗi học sinh.
Khi tổ chức cho học sinh thực hiện các tiết luyện tập giáo viên cần chú ý:
– Xác định rõ mục đích – yêu cầu, cụ thể là xác định rõ cái mới của tiết học hình thành trước đó, cái cần đọng lại và chuyển thành kĩ năng trong mỗi học sinh qua tiết luyện tập.
1.12. Tiết luyện tập

– Mục đích – yêu cầu trên cần thiết kế thành các bài tập cùng loại nhưng là những bài điển hình với số lượng vừa đủ để hình thành được kĩ năng, nếu ít thì không đủ độ, nhưng nếu nhiều quá và không được chọn lọc thì sẽ kém hiệu quả.
– Các bài tập trên cần được học sinh thực hiện theo đúng phương pháp, theo quy trình hợp lí và theo tiến độ và số lượng phù hợp với đặc điểm riêng của mỗi học sinh (chú ý tính cá thể).
2. Hoạt động giao tiếp của học sinh tiểu học.
Giao tiếp là mối quan hệ giữa con người với con người thể hiện qua sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc và tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau.
Bằng giao tiếp con người xác lập và vận hành các quan hệ người-người, bằng giao tiếp con người hiện thực hóa các quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác.
- Cuộc sống tâm lý của con người bắt đầu từ nhu cầu giao tiếp với con người, trước tiên là với những người xung quanh.
- Việc đi học ở trường tiểu học là một bước ngoặt trong cuộc đời của trẻ. Những mối quan hệ mới với giáo viên với các bạn cùng tuổi được hình thành, trẻ được hoà nhập với tập thể để sinh hoạt  đề ra hàng loạt các quy tắc, yêu cầu phục tùng tổ chức…
- Ở lứa tuổi tiểu học, bằng hoạt động học tập và giao tiếp với thầy cô giáo, với người lớn xung quanh với bạn cùng tuổi mà học sinh tiếp thu lĩnh hội các chuẩn mực và quy tắc đạo đức xã hội, tạo nên ý thức đạo đức, ý thức tập thể, tình cảm đạo đức, hành vi và thói quen đạo đức.
- Lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi có nhiều khả năng để giáo dục những quan hệ được xây dựng trên nguyên tắc của chủ nghĩa tập thể. Vai trò gương mẫu hướng dẫn và chỉ đạo hành vi của người lớn cho lứa tuổi này.
- Ở lứa tuổi này những sai lệch, thói hư, tật xấu và cả hành vi phạm pháp ở một số trẻ cũng đều bắt nguồn từ quan hệ giao tiếp với nhóm tiêu cực không lành mạnh.
- Thông qua giao tiếp trẻ dần dần hình thành ý thức tự khẳng định mình, ý thức về “cái tôi”, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ về hứng thú, tình cảm, tính cách - những chuyển biến quan trọng trong sự hình thành phát triển nhân cách chuẩn bị cho trẻ bước vào giai đoạn quan trọng của cuộc sống ở lứa tuổi thiếu niên.
- Phạm vi giao tiếp của học sinh tiểu học chưa rộng chủ yếu trẻ quan hệ giao tiếp hàng ngày với người thân trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn cùng lớp, cùng làng, cùng phố.
Nội dung giao tiếp của trẻ ở lứa tuổi này tập trung xung quanh các vấn đề học tập và cuộc sống vui chơi, hoạt động tập thể trong nhà trường hoặc ở địa phương  Ngôn ngữ của trẻ đang được phát triển mạnh mẽ.
* Chức năng giao tiếp của học sinh tiểu học.
+ Chức năng thông tin: Qua giao tiếp HS tiểu học trao đổi, truyền đạt cho nhau những tri thức, những kinh nghiệm. Mỗi học sinh tiểu học vừa là nguồn phát ra thông tin, vừa là nơi tiếp nhận thông tin. Thu nhận và xử lý thông tin là con đường quan trọng để hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách.
+ Chức năng cảm xúc: Giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng, những xúc cảm mới giữa chủ thể này với chủ thể khác, giữa từng học sinh với những học sinh khác, những người khác. Vì vậy, mà giao tiếp là một trong những con đường quan trọng hình thành tình cảm cho học sinh tiểu học.
+ Chức năng nhận thức lẫn nhau và đánh giá lẫn nhau: Trong giao tiếp, mỗi học sinh tự bộc lộ ý nghĩ, thái độ, thói quen của mình, do đó các chủ thể nhận thức về nhau, làm cơ sở đánh giá lẫn nhau, so sánh mình với người khác và tự đánh giá bản thân mình.
+ Chức năng điều chỉnh hành vi: Trên cơ sở nhận thức lẫn nhau, đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá bản thân mình mà mỗi học sinh, bước đầu có thể tự điều chỉnh hành vi của mình, tác động đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của học sinh khác.
+ Chức năng phối hợp hoạt động: Nhờ có quá trình giao tiếp mà học sinh tiểu học có thể phối hợp hoạt động để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ học tập và các nhiệm vụ khác nhằm đạt tới mục tiêu chung. Đây là chức năng giao tiếp phục vụ các nhu cầu chung của tập thể lớp, của tổ, của Đội…
3. Hoạt động vui chơi và các hoạt động khác của học sinh tiểu học.
- Hoạt động vui chơi của học sinh tiểu học gần gũi với đời thường, với cuộc sống dân gian của cộng đồng, ngoại trừ một số trò chơi điện tử…
- Hoạt động vui chơi là hoạt động tự giác, phục vụ nhu cầu theo sở thích cá nhân về vận động cơ bắp, về thử sức trí tuệ, hòa nhập giao lưu bạn bè,…
Các em học sinh quên ăn, quên ngủ để chơi những trò chơi độc hại mang tính bạo lực.
Những trò chơi dân gian mang đậm truyền
thống văn hoá dân tộc ngày càng bị mai một dần.
Từng lớp, GV có thể hướng dẫn các học sinh chơi các trò chơi DG.
Trong các hoạt động ngoại khoá, các trò chơi dân gian cũng sẽ được đưa vào, để giúp các hoạt động sôi nổi.
- Tiêu chí đánh giá hoạt động vui chơi không theo thông lệ mà có tính chủ quan, đó là sự thỏa mãn, sự khoái cảm của từng cá nhân sau khi tham gia trò chơi.
- Vui chơi giúp cho trẻ vui vẻ, thoải mái và có ý nghĩa giải trí nhiều hơn và đáp ứng nhu cầu vận động của trẻ.
- Vui chơi làm cho tâm hồn các em phát triển phong phú nhiều hình, nhiều vẻ, nó sẽ tác động đến sự phát triển trí tuệ mạnh mẽ hơn, tình cảm sâu đậm hơn.
- Vui chơi là hình thức giải toả tâm lý đỡ căng thẳng trong học tập, là hình thức thức duy trì sự dẻo dai trong hoạt động trí tuệ của các em.
Các giờ thủ công, thầy cô sẽ hướng dẫn cho các học sinh cách làm những trò chơi dân gian đơn giản. Tạo sự hứng thú, niềm đam mê nghệ thuật cho học sinh.
Đầu tuần GV giới thiệu các trò chơi dân gian mang tính địa phương vùng miền. Giúp các em tìm hiểu đặc trưng văn hoá cộng đồng.
Ô ăn quan.
Là trò chơi chủ yếu dành
Cho các bé gái. Mang tính
Chất chiến thuật. Dành
cho 2 người chơi, có thể
sử dụng vật liệu đa dạng,
dễ kiếm.
- đồng dao: Hàng trầu hàng
cau/là hàng con gái/Hàng
Bánh hàng trái/là hàng bà
già/hàng hương hàng hoa/ là
hàng cúng Phật.
 Rèn luyện kĩ năng kĩ xảo cá nhân, khả năng tính toán, phán đoán chính xác

Rồng rắn lên mây.
là trò chơi mang tính chất diễn sướng. Có hát đồng dao. Người chơi 4 12 em, kết hợp đối đáp.

Chơi chuyền
Là trò chơi dành cho các bé gái, kết hợp kĩ thuật tung hứng,
đòi hỏi khả năng khéo léo,nhanh tay nhanh mắt.Vừa chơi,
vừa hát..(cái mốt, cái mai, con trai con hến, con nhện chăng
tơ, quả mơ quả mít, chuột chít lên bànđôi.
Kéo co là trò chơi tập thể quen thuộc. Vận dụng sức kéo. Lôi đối phương sang vạch.Trò chơi rất cần sự ủng hộ phía khán giả.
Là trò chơi giúp các em phát triển thể lực, sức dẻo dai, tinh thần đoàn kết.
Là trò chơi giúp các em phát triển thể lực, sức dẻo dai, tinh thần đoàn kết.
Đi cầu kiều
Còn rất nhiều trò chơi dân gian có thể áp dụng vào trong trường học.
Nhảy dây
Bịt mắt bắt dê
Bắn bi
- Trong hoàn cảnh hiện nay nhà trường tiểu học cần chú ý đến các hoạt động lao động tự phục vụ, tự quản, hoạt động Sao, hoạt động Đội và các hoạt động ngoại khoá khác… để học sinh tham gia từ đó phát triển nhân cách cho trẻ.
-Khi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác đối với trẻ, có tác dụng như hình thức nghỉ ngơi tích cực, kích thích, bổ trợ cho hoạt động hoạc và góp phần tích cực đối với sự phát triển tâm lý của học sinh tiểu học.
Tóm lại: ở giai đoạn này trẻ phát triển rất nhanh. Vì vậy trong giai đoạn này những tác động tốt hay xấu của môi trường xung quanh rất dễ ảnh hưởng đến trẻ.
VD: tác động tốt, tác dộng xấu
Hoạt động học
Hoạt động chơi
Bản thân quá trình chơi



Phương tiện để trẻ tương tác với đồ vật và người lớn

Bản thân hoạt động học và sản phẩm học


Phương tiện tác động tới đối tượng nhận thức và kĩ năng
So sánh
Động cơ




Chức năng




Đặc trưng của Hoạt động học và
hoạt động vui chơi
Hoạt động học
Hoạt động chơi
- Tính thực và giả
Tự do
Xúc cảm trí tuệ

- Độc lập
- Tự điều khiển


Thực
Bắt buộc
Trí tuệ - cảm xúc

Tương tác Thầy – trò
Điều khiển và tự điều khiển

So sánh
Tính chất


Phương thức tiến hành




Hoạt động học
Hoạt động chơi
- Thỏa mãn nhu cầu chơi



Là sản phẩm đi kèm với hoạt động chơi là kết quả không định trước, không chủ định
Thảo mãn nhu cầu nhận thức



Kết quả định trước, có mục đích
So sánh
Sản phẩm



Sự và phát triển tâm lí cá nhân


II. Các đặc điểm tâm lý cơ bản của học sinh tiểu học.
1. Đặc điểm của quá trình nhận thức ở học sinh tiểu học.
1.1. Tri giác: tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn. Học sinh các lớp đầu cấp tiểu học tri giác còn yếu nên thường thâu tóm sự vật về toàn bộ, về đại thể để tri giác. Chẳng hạn các em khó phân biệt giữa cây mía và cây sậy.
Về tri giác độ lớn thì học sinh đã có thể tri giác được đúng độ lớn của một vật thông thường, nhưng đối với những vật quá nhỏ hay quá lớn thì các em chưa tri giác được. Chẳng hạn có em cho “Quả đất to bằng mấy tỉnh” hoặc “vi trùng bé bằng hạt tấm”
Tri giác của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan và mang tính cảm xúc nhiều. Nên trong quá trình dạy học giáo viên không nên chỉ dạy trẻ kỹ năng nhìn mà còn phải biết xem xét sự vật, biết phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng. Không chỉ dạy trẻ nghe mà còn phải dạy trẻ biết cách lắng nghe.
Hình ảnh về tri giác của HS
Tri giác quan sát
1.2. Chú ý của học sinh tiểu học:
+ Chú ý có chủ định của các em còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý thức chưa mạnh. Các em lứa tuổi này rất hiếu động, hoạt động nhận thức mang đậm màu sắc xúc cảm nên dễ phân tán chú ý.
+ Chú ý không chủ định của học sinh tiểu học phát triển nhờ những thứ mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ lôi cuốn sự chú ý của các em, không có sự nỗ lực của ý chí. Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ gợi cho các em cảm xúc tích cực.
1.2. Chú ý của học sinh tiểu học (tt)
+ Khối lượng chú ý của học sinh tiểu học không lớn lắm, thường bị hạn chế ở hai, ba đối tượng trong cùng một thời gian. Khả năng phân phối chú ý bị hạn chế nhiều vì chưa hình thành được nhiều kỹ năng, kỹ xảo trong học tập.
+ Sự di chuyển chú ý của học sinh tiểu học nhanh hơn người lớn tuổi vì quá trình hưng phấn và ức chế ở chúng rất linh hoạt, rất nhạy cảm. Khả năng chú ý của học sinh tiểu học còn phụ thuộc vào nhịp độ học tập, nếu nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý.
Hình ảnh về chú ý của HS
1.3. Tư duy của học sinh tiểu học
- Khi mới đến trường mang tính trực quan cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của sự vật hiện tượng cụ thể. J. Piagie cho rằng: Tư duy của trẻ từ 7 đến 10 tuổi về cơ bản còn ở giai đoạn những thao tác cụ thể. Chẳng hạn, trong giờ toán đầu tiên của bậc học, khi giải các bài toán học sinh thường dùng que tính, dùng các ngón tay làm phương tiện tính toán.
TƯ DUY TiỀN THAO TÁC VÀ TƯ DUY THAO TÁC CỤ THỂ
TÍNH BẰNG QUE TÍNH, TÍNH BẰNG NGÓN TAY
BÀI TẬP: Một con gà có 3 chân, hỏi 5 con gà có mấy chân?
Câu hỏi: Nếu trồng cây mà không tưới nước thì sẽ xảy ra điều?
Tại sao cái cây bị héo?
1.3. Tư duy của học sinh tiểu học (tt)
- Tư duy của học sinh tiểu học chưa thoát khỏi tính trực quan cụ thể, chưa nhận thức được ý nghĩa của từ “nếu”. Chẳng hạn khi cô giáo ra bài toán: “Nếu một con vịt có 3 chân thì hai con vịt có bao nhiêu chân?” Nhiều học sinh đã lúng túng, các em thắc mắc làm gì có vịt 3 chân. Ở đây các em chưa biết suy luận từ giả định để rút ra kết luận, chính điểm này làm các em dễ mắc sai lầm trong tư duy.
- Nhờ ảnh hưởng của việc học tập, học sinh tiểu học dần dần chuyển từ nhận thức các mặt bên ngoài của các hiện tượng đến nhận thức được những thuộc tính và dấu hiệu bản chất của sự vật hiện tượng vào tư duy. Điều đó tạo khả năng so sánh, khái quát đầu tiên để xây dựng lý luận sơ đẳng.
1.3. Tư duy của học sinh tiểu học (tt)
- Năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa của học sinh tiểu học đang phát triển mạnh, lúc đầu còn dựa trên những cái không bản chất và dần dần đi vào bản chất, nhưng chưa đầy đủ và dựa trên những sự vật, tài liệu trực quan. Các em chưa biết suy luận một cách lôgic, mà thường đi chệch đối tượng suy luận.
- Tư duy của học sinh tiểu học còn mang tính cảm xúc. Trẻ dễ xúc cảm với tất cả những điều suy nghĩ. Giáo viên phải dạy cho các em cách suy luận phải có căn cứ khách quan, phán đoán phải có dẫn chứng thực tế, kết luận phải có tính chất đúng đắn logic, suy nghĩ phải có mục đích. Sự phát triển tư duy logic là một khâu quan trọng trong sự phát triển trí tuệ của học sinh tiểu học.
Hình ảnh về tư duy của HS
1.4. Tưởng tượng của học sinh tiểu học
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ tuổi mẫu giáo lớn. Nó được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em. Tuy nhiên tưởng tượng của học sinh tiểu học còn tản mạn, ít có tổ chức, hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi chưa bền vững.
1.4. Tưởng tượng của học sinh tiểu học (tt)
Những năm cuối của bậc tiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gần hiện thực hơn. Vì các em đã có kinh nghiệm phong phú hơn, đã lĩnh hội được tri thức khoa học từ quá trình học tập, ví dụ như đồ chơi của học sinh tiểu học đòi hỏi phải “thật” hơn đồ chơi của trẻ mẫu giáo.
Trong dạy học, giáo viên cần hình thành cho học sinh biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của mình, điều này cũng được xem như là phương tiện trực quan trong dạy học.
1.5. Ngôn ngữ của học sinh tiểu học
Thể hiện ở chỗ kỹ xảo tập đọc, được rèn luyện, trẻ nhận thức đúng và khá nhanh chóng những chữ cái và các mối liên hệ giữa chúng, hoặc biến chúng thành những ký hiệu nghe được. Môn tập đọc làm cho trẻ biết nhận ra ngữ điệu của lời nói, chú ý đến các dấu dùng sau mỗi câu: dấu chấm, dấu hỏi, dấu than.
Sự thay đổi về chất trong ngôn ngữ nói và đặc biệt sự hình thành ngôn ngữ viết có ảnh hưởng căn bản đến sự phát triển các quá trình tâm lý của học sinh. Học sinh tiểu học chưa sử dụng tốt ngôn ngữ bên trong để học bài. Một số em còn nói ngọng, phát âm sai, viết sai chính tả, sai ngữ pháp, câu rườm rà.
Nhiệm vụ của giáo viên là phải kịp thời sửa những sai sót đó trong các giờ học, nhất là giờ tập đọc và ngữ pháp.
Xin chào bạn !
Bạn dễ thương quá ^^
Ngôn ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ tiếng nói để giao tiếp, để truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử hoặc kế hoạch hoá hoạt động của mình.
Hello !
My name is Tom
Em rất yêu quý con mèo nhà em
- Được hình thành trong quá trình hoạt động và giao lưu của mỗi cá nhân với người khác trong xã hội.
Nói chuyện với bạn bè
Hoạt động dạy và học
- Chức năng chỉ nghĩa:
+ Ngôn ngữ được dùng để chỉ chính sự vật, hiện tượng tức là làm “vật thay thế” chúng.
 Giúp con người có thể nhận thức được ngay cả khi chúng không có trước mặt, tức là ở ngoài phạm vi của nhận thức cảm tính.
Ví dụ: qua lời kể của cô các em tưởng tượng ra hình ảnh tòa lâu đài và nàng công chúa.
Ngày xửa ngày xưa có 1 nàng công chúa rất xinh đẹp, cô sống trong tòa lâu đài rộng lớn…
Những trận chiến đấu của nhân dân Việt Nam trong lịch sử. Qua các từ ngữ miêu tả, các em có thể tưởng tượng hình dung ra hoàn cảnh lịch sử lúc đó.
Chiến thắng Điện Biên Phủ trên không
Lừng lẫy năm châu
Chấn động địa cầu
- Chức năng thông báo (chức năng giao tiếp)
+ Ngôn ngữ giúp con người giao tiếp, thông báo cho nhau.
Hôm nay cô kiểm tra đó.
Ừ. Tớ ôn bài rồi ^^
+ Nhờ có chức năng này mà con người biết được họ cần xử sự, hành động như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, môi trường hoặc quan hệ xã hội.
Đây là chị gái tớ.
Em chào chị ạ
Chào em !
Ví dụ: An vừa nhận được học bổng của nhà trường, các bạn chúc mừng An.
Chúc mừng An nhé
An vừa được học bổng đó các bạn
Khao đi
+ Tuy nhiên khả năng biểu cảm của ngôn ngữ rất đa dạng, phong phú và phức tạp.
+ Cùng một nội dung nhưng với nhịp điệu và âm điệu diễn tả khác nhau cũng có thể biểu đạt những tình cảm, cảm xúc khác nhau.
+ Do đó khi đánh giá chức năng thông báo của ngôn ngữ chúng ta cần chú ý đến tính biểu cảm của ngôn ngữ.
Ví dụ: Với những từ ngữ giản dị nhưng dân ta có những câu ca dao mang hàm ý châm biếm rất hay và sâu sắc.
Sống thì cơm chẳng cho ăn
Chết thì xôi thịt, làm văn tế ruồi.
Nói thì đâm năm chém mười
Đến bữa tối trời chẳng dám ra sân.
Học hành ba chữ lem nhem
Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua
- Chức năng khái quát hóa:
+ Ngôn ngữ không chỉ một sự vật, hiện tượng riêng rẽ, mà chỉ một lớp, một loại các sự vật, hiện tượng có chung thuộc tính, bản chất → là phương tiện đắc lực của hoạt động trí tuệ ( tri giác, tưởng tượng, trí nhớ, tư duy,…).
Ví dụ: khi nhắc đến “cá”: loài động vật có vây sống ở dưới nước
Hình học
Thực chất là 1 quá trình tự giao tiếp với bản thân.
Mình sẽ thử kẻ thêm hình ở bên này, có ra không nhỉ ?????
Trong 3 chức năng của ngôn ngữ thì chức năng thông báo là cơ bản nhất, chi phối các chức năng khác. Vì:
Cơ sở
- Ngôn ngữ bên ngoài: hướng về người khác, dùng để truyền đạt và tiếp thu tư tưởng, ý nghĩa.
+ Tồn tại dưới dạng vật chất là âm thanh và vật chất hoá là chữ viết.
+ Gồm 2 loại: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
- Ngôn ngữ bên trong: hướng vào chính mình, dùng để suy nghĩ, tự điều chỉnh và tự giáo dục bản thân.
+ Chỉ là hình ảnh âm thanh, là biểu tượng về âm thanh hay con chữ, tồn tại dưới dạng những cảm giác vận động do cơ chế đặc biệt của nó quy định.
+ Nó chính là phương tiện của tư duy (cái vỏ từ ngữ của tư duy).
+ Trong đời sống cá thể, ngôn ngữ bên trong được hình thành sau ngôn ngữ bên ngoài và do ngôn ngữ bên ngoài chuyển vào, rút gọn lại.
- Liên quan đến tất cả quá trình tâm lí của con người, đặc biệt là quá trình nhận thức.
- Với nhận thức cảm tính: ngôn ngữ có vai trò quan trọng:
+ Ảnh hưởng đến ngưỡng nhạy cảm của cảm giác, làm cho cảm giác được thu nhận rõ ràng, đậm nét và chính xác hơn.
Mùa hè khi ai nói “Trời nóng quá” ta cũng cảm thấy nóng hơn
Khi ăn 1 loại trái cây chua, nghe “chua quá” ta cũng cảm thấy chua hơn
Chua quá dị nè (((
Nóng thế này ai mà chịu nổi
+ Làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và làm cho những cái tri giác được trở thành khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn.
Ví dụ: việc tách đối tượng ra khỏi bối cảnh, việc xây dựng 1 hình ảnh trọn vẹn về đối tượng tuỳ theo nhiệm vụ của tri giác.
Các em hãy nhìn vào ngôi nhà có nhiều cửa sổ nhất
+ Đặc biệt đối với quan sát, nhờ có quan sát mà tính có ý thức, có mục đích và có chủ định được biểu đạt và điều khiển, điều chỉnh.
Mẹ ơi mua cho con cái áo màu nâu nhé
- Với nhận thức lí tính, ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với tư duy của con người.
+ Nhờ ngôn ngữ mà tư duy của người mang tính trừu tượng và khái quát.
+ Ngôn ngữ bên trong là công cụ quan trọng của tư duy.
+ Ngôn ngữ là phương tiện chủ yếu để hình thành, biểu đạt và duy trì các hình ảnh mới của tưởng tượng.  Tưởng tượng trở thành một quá trình có ý thức và được điều khiển.  
+ Không có ngôn ngữ thì không có sự ghi nhớ có chủ định, ghi nhớ ý nghĩa và cả sự ghi nhớ máy móc.
Tổng 3 góc trong một tam giác luôn bằng 180 độ
- Phát triển mạnh về cả ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng.
+ Ngữ âm: nắm được ngôn ngữ nói một cách thành thạo, tuy nhiên vẫn còn một số từ phát âm chưa đúng.
+ Ngữ pháp: đã hoàn chỉnh hơn mẫu giáo nhưng vẫn còn viết câu dại, câu cụt, chưa biết đặt câu.
+ Từ vựng: phong phú, chính xác và giàu hình ảnh.
- Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển.
- Hình thức mới của ngôn ngữ - ngôn ngữ viết được hình thành và phát triển mạnh.
- Trên cơ sở của sự phát triển những mặt trên, kĩ năng đọc của trẻ được hoàn thiện.
Dễ bị phát âm sai do đặc trưng vùng miền
- Cái gổ
- Hôm nay đi học dề dui ghê
- Bắt cá gô bỏ vào gổ kêu gồ gồ
Kết luận sư phạm
Chương trình ở tiểu học có rất nhiều môn học, trong đó môn Tiếng Việt có một vị trí và vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển ngôn ngữ của trẻ.
Kết luận sư phạm
- Hướng hứng thú của trẻ vào các loại sách báo có lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng,...
Kết luận sư phạm
- Kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể chuyện, đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí,...
Kết luận sư phạm
- Sử dụng trò chơi để kích hoạt vốn ngôn ngữ cho trẻ (các trò chơi ghép nối, dạy trẻ cách miêu tả những thứ chúng đang tìm kiếm, các bài hát, trò bịt mắt miêu tả đồ vật,...)
+ Hướng dẫn trẻ đọc hiểu, để khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển.
Kết luận sư phạm
Ví dụ: “mặc niệm”, trẻ vẫn thường gắn với hình ảnh cụ thể của những người đứng ở tư thế mặc niệm (đứng yên, cúi đầu) mà chưa hiểu được nội dung (tưởng nhớ người đã khuất).
+ Quan tâm, phát hiện sớm các trường hợp trẻ bị chậm phát triển ngôn ngữ để từ đó tìm cách khắc phục.
Kết luận sư phạm
Ngày nay, có nhiều gia đình bố mẹ chỉ mải làm việc mà không quan tâm, trò chuyện nhiều với con của mình hoặc cho trẻ tiếp cận quá sớm với các thiết bị công nghệ dẫn đến việc chậm phát triển về mặt ngôn ngữ của trẻ
Kết luận sư phạm
TRÒ CHƠI
Nhanh trí
Luật chơi
- Mỗi đội có 10 từ khóa
- Trong vòng 2 phút, một người trong đội sẽ diễn tả từng từ khóa để người còn lại đoán từ đó.
- Người diễn tả có thể sử dụng hành động, cử chỉ, lời nói.
Đói
Hoảng hốt
Con chuột
Múa
Đạo diễn
Áo dài
Đá bóng
Giáo viên
Con ngựa
Hắt xì
Lượt chơi thứ nhất
Ăn
Ngạc nhiên
Con mèo
Nhảy
Diễn viên
Con cóc
Xin chào
Bác sĩ
Áo sơ mi
Chán nản
Lượt chơi thứ hai
Uống
Lo lắng
Áo bà ba
Run
Ca sĩ
Con gà
Tạm biệt
Mệt mỏi
Chụp hình
Nông dân
Lượt chơi thứ ba
Đuổi hình bắt chữ
Đuổi chữ bắt hình
Luật chơi
- Trò chơi gồm có 7 câu hỏi, sau 10 giây câu hỏi sẽ tự động chuyển.
- Nhiệm vụ của mỗi đội: trong thời gian đó hãy suy nghĩ ra dòng chữ nằm bên dưới mà bức hình gợi ý.
- Số ô cũng chính là số lượng chữ của đáp án.
- Khi đã có đáp án, các đội hãy ghi vào giấy. Sau khi chiếu hết 5 bức hình, đội nào có nhiều đáp án đúng nhất sẽ là đội chiến thắng.
Câu 1
Câu 2
Câu 3
Câu 4
Câu 5
Câu 6
Câu 7
HẾT GIỜ RỒI !!!
ĐÁP ÁN
Câu 1
Câu 2
Câu 3
Câu 4
Câu 5
Câu 6
Câu 7
1.6. Trí nhớ của học sinh tiểu học
- Trí nhớ của học sinh tiểu học được diễn ra theo hai hướng ghi nhớ: có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ - lôgic có vai trò to lớn so với ghi nhớ trực quan - hình tượng.
- Học sinh tiểu học đã biết nhớ lại nhận lại một cách có ý thức, có chủ định.
- Các em nhớ và gìn giữ chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn, và tốt hơn những định nghĩa, những câu giải thích bằng lời. Học sinh lớp một và lớp hai có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ của tài liệu học tập cần ghi nhớ.
Các em thường học thuộc lòng tài liệu theo từng câu, từng chữ mà không sắp xếp lại, sửa đổi lại, diễn đạt lại bằng lời lẽ của mình.
1.6. Trí nhớ của học sinh tiểu học (tt)
- Nhiều học sinh tiểu học còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa sử dụng sơ đồ logic và dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết xây dựng dàn ý tài liệu cần ghi nhớ, không biết chia tài liệu cần ghi nhớ ra từng phần nhỏ, không biết dùng sơ đồ, hình vẽ… để ghi nhớ.
Các em thường ghi nhớ máy móc, theo trang. Nếu được hướng dẫn thì trẻ em biết cách ghi nhớ tài liệu một cách hợp lý, biết lập dàn ý để ghi nhớ, khuynh hướng nhớ từng câu, từng chữ giảm dần, ghi nhớ ý nghĩa tăng lên.
Hình ảnh về trí nhớ của HS
2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học.
Nhân cách học sinh tiểu học có một số đặc điểm điển hình nổi trội sau:
+ Việc lĩnh hội những chuẩn mực đạo đức và những quy tắc đạo đức của hành vi đưa đến hình thành xu hướng xã hội của nhân cách dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của người lớn, đặc biệt là thầy cô giáo.
+ Tình cảm của sinh tiểu học được hình thành trong đời sống và trong quá trình học tập của các em. Tình cảm của các em có một số điểm đặc trưng
2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học (tt).
Học sinh tiểu học rất dễ cảm xúc:
- Tính dễ cảm xúc thể hiện qua màu sắc xúc cảm của nhận thức.
- Chưa biết kiềm chế và kiểm tra tình cảm của mình.
- Xúc cảm thiếu ổn định và thiên về xúc động.
- Học sinh tiểu học có tính hồn nhiên.
- Tình cảm của học sinh tiểu học còn mong manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc.
2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học (tt).
+ Hứng thú và ước mơ ngày càng được bộc lộ và phát triển rất rõ rệt. Đặc biệt là hứng thú nhận thức tìm hiểu thế giới xung quanh và các em thể hiện tính tò mò ham hiểu biết. Sự phát triển hứng thú học tập của học sinh tiểu học phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức công tác học tập.
+ Ý chí của các em chưa phát triển đầy đủ, các em chưa có khả năng theo đuổi mục đích lâu dài đã đề ra, chưa kiên trì khắc phục khó khăn và trở ngại. Khi gặp thất bại, các em có thể mất lòng tin vào sức lực và khả năng của mình.
2. Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học (tt).
+ Tính cách mới chỉ được hình thành. Thể hiện:
- Các em có tính ham hiểu biết, hồn nhiên, chân thật, bắt chước… là đặc điểm quan trọng của lứa tuổi này. Các em bắt chước người lớn và một số bạn cùng tuổi, cũng như một số nhân vật trong sách, trong phim được các em yêu thích.
- Tính cách của các em có tính xung động - khuynh hướng hành động ngay tức khắc do ảnh hưởng của các kích thích trực tiếp. Ngoài ra trong tính cách ở các em có tính mâu thuẫn và chưa bền vững.
- Tính cách của các em thể hiện khá rõ nét ở đặc tính bướng bỉnh, tính khí thất thường, hay phản ứng lại những yêu cầu cứng nhắc của người lớn.
Tóm lại: Ở lứa tuổi học sinh tiểu học dưới ảnh hưởng chủ đạo của việc giảng dạy và giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, Đoàn - Đội có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách các em. Những chuyển biến này chuẩn bị cho trẻ bước vào giai đoạn, bước ngoặt mới, vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người, đó là tuổi thiếu niên.
III. Sự chín muồi đến trường và sự thích nghi học đường của học sinh lớp 1.
1. Sự chín muồi đến trường của trẻ em 6 tuổi chuẩn bị bước vào lớp 1.
- Ở độ tuổi mẫu giáo lớn là thời kỳ trẻ đang tiến vào bước ngoặt với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo. Hoạt động vui chơi giữ vị trí trong suốt thời kỳ mẫu giáo các hoạt động còn giữ nguyên dạng và đang phát triển để bước vào lớp 1.
- Cuối giai đoạn mẫu giáo lớn, sự chín muồi đến trường về mặt tâm sinh lý, nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ và tâm thế để trẻ thích nghi vào lớp 1.
- Về mặt cơ thể: Hệ xương đang phát triển, trọng lượng của não gần bằng trọng lượng của người trưởng thành 1,2 - 1,3 kg. Não
 
Gửi ý kiến