Bài Làng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 07h:09' 05-08-2023
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 07h:09' 05-08-2023
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG THCS TẢN LĨNH – BA VÌ
KIỂM TRA BÀI CŨ
Câu 1: Bài thơ “ Ánh trăng” thuộc thể thơ nào? Hãy cho biết hoàn
cảnh ra đời của bài thơ ấy?
Câu 2: Đọc kĩ các câu thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“ Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ
“ Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
1. Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong các câu thơ
trên?
2. Theo em, tri kỉ nghĩa là gì? Trong một bài thơ đã học cũng xuất
hiện từ tri kỉ. Hãy chỉ ra câu thơ có từ tri kỉ và cho biết câu thơ ấy
nằm trong tác phẩm nào? Của ai?
CHỦ ĐỀ THƠ HIỆN ĐẠI
VĂN BẢN: “LÀNG”
- KIM LÂN-
I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tác giả
- Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, (1920-2007), quê ở
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có sáng tác đăng báo
trước Cách mạng tháng Tám 1945.
- Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn. Kim Lân
hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông
dân.
- Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ
thuật.
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh: truyện ngắn “Làng” được viết trong thời kỳ đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm
1948.
- Thể loại: truyện ngắn
- Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
+ Phần 1: Từ đầu đến “ Ruột gan ông lão cứ múa cả lên,
vui quá!
-> Tâm trạng của ông Hai khi ở nơi tản cư.
- Bố cục
+ Phần 2: Tiếp theo đến “ nỗi khổ trong lòng ông cũng
vơi đi được đôi phần”
-> Tâm trạng của ông Hai từ khi nghe tin làng theo giặc.
+ Phần 3: Còn lại
-> Tâm trạng của ông Hai khi nghi tin cải chính.
GIẢI THÍCH Ý NGHĨA NHAN ĐỀ
- Nhan đề của truyện là “Làng” không phải là “Làng Dầu” vì nếu là
“Làng Dầu” thì vấn đề mà tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ
hẹp, cụ thể ở một làng.
- Đặt tên là “Làng” vì truyện đã khai thác một tình cảm bao trùm, phổ
biến trong con người thời kì kháng chiến chống Pháp: tình cảm với quê
hương, với đất nước.
- Nhan đề “Làng” vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của ông
Hai, đồng thời qua cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung: tấm lòng
của những người dân quê đất Việt đối với đất nước.
- Qua đó bộc lộ tư tưởng, chủ đề của truyện: nhằm ca ngợi tình yêu
làng quê tha thiết và những chuyển biến mới trong tình cảm, nhận thức
của những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
II. PHÂN TÍCH
1. Tình huống truyện
Bàng hoàng, sững sờ
Ông Hai nghe tin
làng theo giặc
- Tình
huống
Đau đớn, tủi nhục
Bế tắc, tuyệt vọng
Tình huống
gay cấn -> bộc
lộ đầy đủ sâu
sắc tình yêu
làng, yêu nước
Tình huống thắt nút
Ông Hai nghe tin
cải chính
Giải tỏa bế tắc
Sung sướng khoe tin
nhà mình bị giặc đốt
Tình huống mở nút
Vì quê hương
đất nước sẵn
sàng hy sinh
tất cả
2. Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai
a. Trước khi nghe tin làng theo giặc
- Tâm
trạng
Hay nghĩ về làng,
nhớ làng da diết
Thấy vui, thấy mình như trẻ ra
Muốn về làng để
cùng anh em tham
gia kháng chiến
Thấy náo nức hẳn lên
Quan tâm đến tình
hình kháng chiến
Ngày nào cũng ra phòng thông
tin nghe ngóng tin tức
Nghe tin chiến thắng của dân
quân, du kích, ruột gan ông lão
cứ mứa cả lên, vui quá!
Mong nắng cho Tây chết.
Yêu thương, gắn bó với làng quê, tự hào và có trách nhiệm với cuộc
kháng chiến của làng -> Tình yêu làng hòa quyện trong tình yêu
b. Khi nghe tin làng theo giặc
* Khi nghe tin xấu, ông Hai sững sờ, bàng hoàng:
- “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi
tưởng như không thở được”.
- Khi trấn tĩnh được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng
rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở
dưới ấy lên”, làm ông không thể không tin.
* Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm,
nó thành một nỗi ám ảnh, day dứt.
- Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”.
- Về đến nhà, ông “nằm vật ra giường”, rồi tủi thân khi nhìn đàn
con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng
Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy
ư?”.
- Căm giận những kẻ Việt gian bán nước; kiểm điểm lại từng người
ở làng -> khẳng định “ không có lửa làm sao có khói” -> xấu hổ,
nhục nhã, lo lắng.
- Nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm
nớp, hễ thấy đám đông nào tụ tập nhắc đến hai từ “Việt gian”, “Cam
nhông” thì ông lại tự nhủ “Thôi lại chuyện ấy rồi”.
=> Tác giả diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi
thường xuyên trong ông Hai cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước
cái tin làng mình theo giặc.
* Khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi đi:
- Ông Hai rơi vào tình trạng tuyệt vọng, bế tắc hoàn toàn.
+ Ông không biết đi đâu.
+ Thoáng có ý nghĩ: hay là quay về làng?
- Trong lòng ông xảy ra cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt giữa tình
yêu làng quê và tình yêu đất nước, kháng chiến.
+ Làng thì yêu thật
+ Nhưng làng theo giặc thì phải thù
Tình yêu nước rộng lớn,
bao trùm lên tình yêu làng.
* Đau đớn, dằn vặt, giằng xé không biết chia sẻ cùng ai, ông Hai đã
trút nỗi lòng của mình cùng đứa con út:
- Húc kia! … con là con ai?
- Thế nhà con ở đâu?
- Thế con có thích về làng Chợ Dầu
không?
- Thế con ủng hộ ai?
Khắc ghi tình cảm nguồn
cội, bày tỏ tình yêu sâu nặng
với làng Chợ Dầu
Khẳng định tấm lòng thủy chung son sắc
với kháng chiến, với cụ Hồ.
c. Khi nghe tin cải chính
- Tươi vui rạng rỡ hẳn lên, miệng bỏm bẻm nhai trầu, ông mua
quà cho con.
- Vui mừng khôn xiết, đi khắp nơi khoe nhà ông bị tây đốt
cháy : “Múa tay lên mà khoe… Tây nó đốt nhà tôi rồi, bác ạ, đốt
nhẵn…”
- Vén quần lên tận bẹn mà kể chuyện về cái làng của ông.
- Lấy làm tự hào vì đó là bằng chứng làng ông không theo tây.
-> Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai thật chân thật, giản dị
mà sâu sắc
=> Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, lối kể
chuyện tự nhiên, chân thực, sinh động qua những từ ngữ giản dị,
gần gũi, đậm tính khẩu ngữ, kết hợp hình thức độc thoại, độc thoại
nội tâm Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai – hình
tiêu biểu của người nông dân thời kì đầu cuộc kháng chiến với tình
yêu làng hòa trong tình yêu nước; tình yêu nước bao trùm, thống
nhất và chi phối các tình cảm khác trong đó có tình yêu làng.
Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai
Trước khi
nghe tin
làng theo
giặc
- Tâm
trạng
Khi nghe
tin làng
theo giặc
Khi nghe
tin cải
chính
Hay nghĩ về làng, nhớ làng da diết
Muốn về làng để cùng anh em tham gia k/chiến.
Quan tâm đến tình hình kháng chiến của đất nước.
Khi vừa mới nghe tin
Bàng hoàng, sững sờ
Khi về đến nhà
Những ngày sau đó
Tủi nhục, đau xót, dằn
vặt
Lo sợ, ám ảnh
Khi mụ chủ nhà đánh
tiếng đuổi đi
Tuyệt vọng, bế tắc, đấu
tranh nội tâm.
Khi trò chuyện với
đứa con út
Khẳng định tình yêu làng,
yêu nước.
Vui mừng, sung sướng
báo tin nhà bị giặc đốt
Sẵn sàng hy sinh tất cả
cho quê hương đất
nước.
Đề bài
Trong văn bản “Làng”của Kim Lân có đoạn:
“Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được?Mà thằng Chánh
Bệu thì đích là người làng không sai rồi.Không có lửa làm sao có
khói?Ai người ta hơi đâu bịa ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi!
Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra
sao?Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước
Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt
gian bán nước… Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người
một phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?…”
(SGK Ngữ văn 9, tập một, trang 166)
Câu 1. Tâm trạng của nhân vật được nói đến trong đoạn trích trên
là ai? “Cái cơ sự này” trong đoạn trích là điều gì?
Câu 2. Việc sử dụng liên tiếp các câu nghi vấn trong đoạn văn trên
có tác dụng gì trong khi diễn tả những cảm xúc, suy nghĩ của nhân
vật?
Câu 3. Bằng sự hiểu biết về truyện ngắn “Làng”, hãy viết một đoạn
văn nghị luận khoảng 12 – 15 câu theo theo phép lập luận tổng –
phân – hợp, phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật khi
biết “cái cơ sự này”. Trong đoạn văn có sử dụng thành phần tình
thái và khởi ngữ (Gạch chân và chú thích rõ).
Câu 4. Tại sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hướng
về làng chợ Dầu, nhưng tác giả lại đặt tên tác phẩm của mình là
“Làng” chứ không phải “Làng chợ Dầu”?
Câu 5. Trong chương trình Ngữ văn THCS cũng có một tác phẩm
viết về người nông dân với nỗi đau sâu sắc bộc lộ qua cử chỉ, ngoại
hình. Đó là tác phẩm nào? Tác giả là ai?
Câu 1. Tâm trạng của nhân vật được nói đến trong đoạn trích trên
là ai? “Cái cơ sự này” trong đoạn trích là điều gì?
- Tâm trạng của nhân vật được nói đến trong đoạn trích trên là: Ông
Hai. (0,25 đ)
- “Cái cơ sự này” trong đoạn trích là: cái tin làng Chợ Dầu theo giặc
làm Việt gian. (0,25 đ)
Câu 2. Việc sử dụng liên tiếp các câu nghi vấn trong đoạn văn trên
có tác dụng gì trong khi diễn tả những cảm xúc, suy nghĩ của nhân
vật?
–> Tác dụng: Thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt, dằn vặt, đau
khổ… không nguôi của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo
giặc. (0,5 đ)
Câu 3. Bằng sự hiểu biết về truyện ngắn “Làng”,
hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 12 – 15
câu theo theo phép lập luận tổng – phân – hợp,
phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật khi
biết “cái cơ sự này”. Trong đoạn văn có sử dụng
thành phần tình thái và khởi ngữ (Gạch chân và
chú thích rõ).
Hình thức
Yêu
cầu
Nội dung:
Diễn biến
tâm trạng
ông Hai khi
nghe tin làng
theo giặc
Đoạn văn T – P – H ( 12 – 15 )
Thành phần tình thái và khởi ngữ
Khi vừa mới nghe tin
Bàng hoàng, sững sờ
Khi về đến nhà
Tủi nhục, đau xót, dằn vặt
Những ngày sau đó
Lo sợ, ám ảnh
Khi mụ chủ nhà đánh
tiếng đuổi đi
Tuyệt vọng, bế tắc, đấu
tranh nội tâm.
Khi trò chuyện với
đứa con út
Khẳng định tình yêu làng,
yêu nước.
Xây dựng tình huống truyện
Nghệ thuật
Miêu tả tâm lí nhân vật
Ngôn ngữ mộc mạc, đậm tính khẩu ngữ kết hợp hình
thức độc thoại và độc thoại nội tâm.
Câu 4.Tại sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hướng
về làng chợ Dầu, nhưng tác giả lại đặt tên tác phẩm của mình là
“Làng” chứ không phải “Làng chợ Dầu”?
- Nhan đề của truyện là “Làng” không phải là “Làng Dầu” vì nếu
là “Làng Dầu” thì vấn đề mà tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm
vi nhỏ hẹp, cụ thể ở một làng.
- Đặt tên là “Làng” vì truyện đã khai thác một tình cảm bao trùm,
phổ biến trong con người thời kì kháng chiến chống Pháp: tình cảm
với quê hương, với đất nước.
- Nhan đề “Làng” vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của
ông Hai, đồng thời qua cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung:
tấm lòng của những người dân quê đất Việt đối với đất nước.
- Qua đó bộc lộ tư tưởng, chủ đề của truyện: nhằm ca ngợi tình
yêu làng quê tha thiết và những chuyển biến mới trong tình cảm,
nhận thức của những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến
chống Pháp.
Câu 5. Trong chương trình Ngữ văn THCS cũng
có một tác phẩm viết về người nông dân với nỗi
đau sâu sắc bộc lộ qua cử chỉ, ngoại hình. Đó là
tác phẩm nào? Tác giả là ai?
-> Tác phẩm: “Lão Hạc” – Nam Cao: (0.5 đ)
KIỂM TRA BÀI CŨ
Câu 1: Bài thơ “ Ánh trăng” thuộc thể thơ nào? Hãy cho biết hoàn
cảnh ra đời của bài thơ ấy?
Câu 2: Đọc kĩ các câu thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“ Hồi nhỏ sống với đồng
với sông rồi với bể
hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thành tri kỉ
“ Trần trụi với thiên nhiên
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
1. Chỉ ra và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ trong các câu thơ
trên?
2. Theo em, tri kỉ nghĩa là gì? Trong một bài thơ đã học cũng xuất
hiện từ tri kỉ. Hãy chỉ ra câu thơ có từ tri kỉ và cho biết câu thơ ấy
nằm trong tác phẩm nào? Của ai?
CHỦ ĐỀ THƠ HIỆN ĐẠI
VĂN BẢN: “LÀNG”
- KIM LÂN-
I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tác giả
- Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, (1920-2007), quê ở
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn và đã có sáng tác đăng báo
trước Cách mạng tháng Tám 1945.
- Vốn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống ở nông thôn. Kim Lân
hầu như chỉ viết về sinh hoạt làng quê và cảnh ngộ của người nông
dân.
- Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ
thuật.
2. Tác phẩm
- Hoàn cảnh: truyện ngắn “Làng” được viết trong thời kỳ đầu của cuộc
kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm
1948.
- Thể loại: truyện ngắn
- Phương thức biểu đạt: Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
+ Phần 1: Từ đầu đến “ Ruột gan ông lão cứ múa cả lên,
vui quá!
-> Tâm trạng của ông Hai khi ở nơi tản cư.
- Bố cục
+ Phần 2: Tiếp theo đến “ nỗi khổ trong lòng ông cũng
vơi đi được đôi phần”
-> Tâm trạng của ông Hai từ khi nghe tin làng theo giặc.
+ Phần 3: Còn lại
-> Tâm trạng của ông Hai khi nghi tin cải chính.
GIẢI THÍCH Ý NGHĨA NHAN ĐỀ
- Nhan đề của truyện là “Làng” không phải là “Làng Dầu” vì nếu là
“Làng Dầu” thì vấn đề mà tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm vi nhỏ
hẹp, cụ thể ở một làng.
- Đặt tên là “Làng” vì truyện đã khai thác một tình cảm bao trùm, phổ
biến trong con người thời kì kháng chiến chống Pháp: tình cảm với quê
hương, với đất nước.
- Nhan đề “Làng” vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của ông
Hai, đồng thời qua cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung: tấm lòng
của những người dân quê đất Việt đối với đất nước.
- Qua đó bộc lộ tư tưởng, chủ đề của truyện: nhằm ca ngợi tình yêu
làng quê tha thiết và những chuyển biến mới trong tình cảm, nhận thức
của những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
II. PHÂN TÍCH
1. Tình huống truyện
Bàng hoàng, sững sờ
Ông Hai nghe tin
làng theo giặc
- Tình
huống
Đau đớn, tủi nhục
Bế tắc, tuyệt vọng
Tình huống
gay cấn -> bộc
lộ đầy đủ sâu
sắc tình yêu
làng, yêu nước
Tình huống thắt nút
Ông Hai nghe tin
cải chính
Giải tỏa bế tắc
Sung sướng khoe tin
nhà mình bị giặc đốt
Tình huống mở nút
Vì quê hương
đất nước sẵn
sàng hy sinh
tất cả
2. Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai
a. Trước khi nghe tin làng theo giặc
- Tâm
trạng
Hay nghĩ về làng,
nhớ làng da diết
Thấy vui, thấy mình như trẻ ra
Muốn về làng để
cùng anh em tham
gia kháng chiến
Thấy náo nức hẳn lên
Quan tâm đến tình
hình kháng chiến
Ngày nào cũng ra phòng thông
tin nghe ngóng tin tức
Nghe tin chiến thắng của dân
quân, du kích, ruột gan ông lão
cứ mứa cả lên, vui quá!
Mong nắng cho Tây chết.
Yêu thương, gắn bó với làng quê, tự hào và có trách nhiệm với cuộc
kháng chiến của làng -> Tình yêu làng hòa quyện trong tình yêu
b. Khi nghe tin làng theo giặc
* Khi nghe tin xấu, ông Hai sững sờ, bàng hoàng:
- “cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi
tưởng như không thở được”.
- Khi trấn tĩnh được phần nào, ông còn cố chưa tin cái tin ấy. Nhưng
rồi những người tản cư đã kể rành rọt quá, lại khẳng định họ “vừa ở
dưới ấy lên”, làm ông không thể không tin.
* Từ lúc ấy, trong tâm trí ông Hai chỉ có cái tin dữ ấy xâm chiếm,
nó thành một nỗi ám ảnh, day dứt.
- Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “cúi gằm mặt xuống mà đi”.
- Về đến nhà, ông “nằm vật ra giường”, rồi tủi thân khi nhìn đàn
con, “nước mắt ông lão cứ giàn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng
Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy
ư?”.
- Căm giận những kẻ Việt gian bán nước; kiểm điểm lại từng người
ở làng -> khẳng định “ không có lửa làm sao có khói” -> xấu hổ,
nhục nhã, lo lắng.
- Nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài. Lúc nào cũng nơm
nớp, hễ thấy đám đông nào tụ tập nhắc đến hai từ “Việt gian”, “Cam
nhông” thì ông lại tự nhủ “Thôi lại chuyện ấy rồi”.
=> Tác giả diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề biến thành sự sợ hãi
thường xuyên trong ông Hai cùng với nỗi đau xót, tủi hổ của ông trước
cái tin làng mình theo giặc.
* Khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi đi:
- Ông Hai rơi vào tình trạng tuyệt vọng, bế tắc hoàn toàn.
+ Ông không biết đi đâu.
+ Thoáng có ý nghĩ: hay là quay về làng?
- Trong lòng ông xảy ra cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt giữa tình
yêu làng quê và tình yêu đất nước, kháng chiến.
+ Làng thì yêu thật
+ Nhưng làng theo giặc thì phải thù
Tình yêu nước rộng lớn,
bao trùm lên tình yêu làng.
* Đau đớn, dằn vặt, giằng xé không biết chia sẻ cùng ai, ông Hai đã
trút nỗi lòng của mình cùng đứa con út:
- Húc kia! … con là con ai?
- Thế nhà con ở đâu?
- Thế con có thích về làng Chợ Dầu
không?
- Thế con ủng hộ ai?
Khắc ghi tình cảm nguồn
cội, bày tỏ tình yêu sâu nặng
với làng Chợ Dầu
Khẳng định tấm lòng thủy chung son sắc
với kháng chiến, với cụ Hồ.
c. Khi nghe tin cải chính
- Tươi vui rạng rỡ hẳn lên, miệng bỏm bẻm nhai trầu, ông mua
quà cho con.
- Vui mừng khôn xiết, đi khắp nơi khoe nhà ông bị tây đốt
cháy : “Múa tay lên mà khoe… Tây nó đốt nhà tôi rồi, bác ạ, đốt
nhẵn…”
- Vén quần lên tận bẹn mà kể chuyện về cái làng của ông.
- Lấy làm tự hào vì đó là bằng chứng làng ông không theo tây.
-> Tình yêu làng, yêu nước của ông Hai thật chân thật, giản dị
mà sâu sắc
=> Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, lối kể
chuyện tự nhiên, chân thực, sinh động qua những từ ngữ giản dị,
gần gũi, đậm tính khẩu ngữ, kết hợp hình thức độc thoại, độc thoại
nội tâm Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai – hình
tiêu biểu của người nông dân thời kì đầu cuộc kháng chiến với tình
yêu làng hòa trong tình yêu nước; tình yêu nước bao trùm, thống
nhất và chi phối các tình cảm khác trong đó có tình yêu làng.
Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai
Trước khi
nghe tin
làng theo
giặc
- Tâm
trạng
Khi nghe
tin làng
theo giặc
Khi nghe
tin cải
chính
Hay nghĩ về làng, nhớ làng da diết
Muốn về làng để cùng anh em tham gia k/chiến.
Quan tâm đến tình hình kháng chiến của đất nước.
Khi vừa mới nghe tin
Bàng hoàng, sững sờ
Khi về đến nhà
Những ngày sau đó
Tủi nhục, đau xót, dằn
vặt
Lo sợ, ám ảnh
Khi mụ chủ nhà đánh
tiếng đuổi đi
Tuyệt vọng, bế tắc, đấu
tranh nội tâm.
Khi trò chuyện với
đứa con út
Khẳng định tình yêu làng,
yêu nước.
Vui mừng, sung sướng
báo tin nhà bị giặc đốt
Sẵn sàng hy sinh tất cả
cho quê hương đất
nước.
Đề bài
Trong văn bản “Làng”của Kim Lân có đoạn:
“Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được?Mà thằng Chánh
Bệu thì đích là người làng không sai rồi.Không có lửa làm sao có
khói?Ai người ta hơi đâu bịa ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi!
Cực nhục chưa, cả làng Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bán ra
sao?Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước
Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt
gian bán nước… Lại còn bao nhiêu người làng, tan tác mỗi người
một phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?…”
(SGK Ngữ văn 9, tập một, trang 166)
Câu 1. Tâm trạng của nhân vật được nói đến trong đoạn trích trên
là ai? “Cái cơ sự này” trong đoạn trích là điều gì?
Câu 2. Việc sử dụng liên tiếp các câu nghi vấn trong đoạn văn trên
có tác dụng gì trong khi diễn tả những cảm xúc, suy nghĩ của nhân
vật?
Câu 3. Bằng sự hiểu biết về truyện ngắn “Làng”, hãy viết một đoạn
văn nghị luận khoảng 12 – 15 câu theo theo phép lập luận tổng –
phân – hợp, phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật khi
biết “cái cơ sự này”. Trong đoạn văn có sử dụng thành phần tình
thái và khởi ngữ (Gạch chân và chú thích rõ).
Câu 4. Tại sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hướng
về làng chợ Dầu, nhưng tác giả lại đặt tên tác phẩm của mình là
“Làng” chứ không phải “Làng chợ Dầu”?
Câu 5. Trong chương trình Ngữ văn THCS cũng có một tác phẩm
viết về người nông dân với nỗi đau sâu sắc bộc lộ qua cử chỉ, ngoại
hình. Đó là tác phẩm nào? Tác giả là ai?
Câu 1. Tâm trạng của nhân vật được nói đến trong đoạn trích trên
là ai? “Cái cơ sự này” trong đoạn trích là điều gì?
- Tâm trạng của nhân vật được nói đến trong đoạn trích trên là: Ông
Hai. (0,25 đ)
- “Cái cơ sự này” trong đoạn trích là: cái tin làng Chợ Dầu theo giặc
làm Việt gian. (0,25 đ)
Câu 2. Việc sử dụng liên tiếp các câu nghi vấn trong đoạn văn trên
có tác dụng gì trong khi diễn tả những cảm xúc, suy nghĩ của nhân
vật?
–> Tác dụng: Thể hiện tâm trạng băn khoăn, day dứt, dằn vặt, đau
khổ… không nguôi của ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu theo
giặc. (0,5 đ)
Câu 3. Bằng sự hiểu biết về truyện ngắn “Làng”,
hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 12 – 15
câu theo theo phép lập luận tổng – phân – hợp,
phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật khi
biết “cái cơ sự này”. Trong đoạn văn có sử dụng
thành phần tình thái và khởi ngữ (Gạch chân và
chú thích rõ).
Hình thức
Yêu
cầu
Nội dung:
Diễn biến
tâm trạng
ông Hai khi
nghe tin làng
theo giặc
Đoạn văn T – P – H ( 12 – 15 )
Thành phần tình thái và khởi ngữ
Khi vừa mới nghe tin
Bàng hoàng, sững sờ
Khi về đến nhà
Tủi nhục, đau xót, dằn vặt
Những ngày sau đó
Lo sợ, ám ảnh
Khi mụ chủ nhà đánh
tiếng đuổi đi
Tuyệt vọng, bế tắc, đấu
tranh nội tâm.
Khi trò chuyện với
đứa con út
Khẳng định tình yêu làng,
yêu nước.
Xây dựng tình huống truyện
Nghệ thuật
Miêu tả tâm lí nhân vật
Ngôn ngữ mộc mạc, đậm tính khẩu ngữ kết hợp hình
thức độc thoại và độc thoại nội tâm.
Câu 4.Tại sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hướng
về làng chợ Dầu, nhưng tác giả lại đặt tên tác phẩm của mình là
“Làng” chứ không phải “Làng chợ Dầu”?
- Nhan đề của truyện là “Làng” không phải là “Làng Dầu” vì nếu
là “Làng Dầu” thì vấn đề mà tác giả đề cập tới chỉ nằm trong phạm
vi nhỏ hẹp, cụ thể ở một làng.
- Đặt tên là “Làng” vì truyện đã khai thác một tình cảm bao trùm,
phổ biến trong con người thời kì kháng chiến chống Pháp: tình cảm
với quê hương, với đất nước.
- Nhan đề “Làng” vừa nói lên được cái riêng là tình yêu làng của
ông Hai, đồng thời qua cái riêng ấy, cũng nói lên được cái chung:
tấm lòng của những người dân quê đất Việt đối với đất nước.
- Qua đó bộc lộ tư tưởng, chủ đề của truyện: nhằm ca ngợi tình
yêu làng quê tha thiết và những chuyển biến mới trong tình cảm,
nhận thức của những người nông dân Việt Nam trong kháng chiến
chống Pháp.
Câu 5. Trong chương trình Ngữ văn THCS cũng
có một tác phẩm viết về người nông dân với nỗi
đau sâu sắc bộc lộ qua cử chỉ, ngoại hình. Đó là
tác phẩm nào? Tác giả là ai?
-> Tác phẩm: “Lão Hạc” – Nam Cao: (0.5 đ)
 







Các ý kiến mới nhất