Violet
Baigiang
8tuoilaptrinh

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức thư viện

Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
Xem tiếp

Quảng cáo

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Bài giảng

Ca dao

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lại thị hồng vân
Ngày gửi: 11h:20' 02-07-2015
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 41
Số lượt thích: 0 người
Trường Cao đẳng
Phát thanh truyền hình II
Khoa Báo chí
Lớp 12cdBC2
Phân nhóm 3
Hân hạnh được giới thiệu ..
CA DAO - TỤC NGỮ
CÂU ĐỐ - DÂN CA
VĂN HỌC VIỆT NAM
I. Ca dao:
1) Nguồn gốc ca dao

Ca dao phần lớn được sáng tác do nhu cầu hát xướng đối đáp nam nữ trong những dịp sinh hoạt dân ca cộng đồng, vào những ngày hội hè, những lúc nghỉ ngơi để giải trí vui chơi, hay trong những khi lao động cho quên bớt mệt nhọc.

Khi ta thêm vào câu ca dao những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi nhất định nào đó như : thời... í a; tình bằng... mà; lý tang lý tang tình tang, ố tình là...tình ì i, ô tình là... tình ì i; ôi tình... a í a; ầu ơ...; à ơi ạ ời ời.. v.v… Ca dao liền trở thành dân ca với những giai điệu riêng biệt của từng thể loại như hát trống quân, quan họ Bắc Ninh, hát lý, hò chèo ghe, hát ru em v.v...
I. Ca dao:
1) Nguồn gốc ca dao
Ca dao được xem là những sáng tác của tập thể.

Nhiều khi có những câu ca dao đã hoàn chỉnh rồi vẫn thấy bị sửa đổi, thêm bớt, chẳng qua để cho phù hợp với cảm quan chung của nhiều địa phương, nhiều thế hệ hơn.

Thế là từ cái riêng lúc ban đầu, ca dao đã được đại chúng hóa, trở thành cái chung của mọi người.

I. Ca dao:
2) Vấn đề phân loại ca dao

* Có thể phân thành sáu loại:

_ Ca dao trẻ em (đồng dao).
_ Ca dao lao động.
_ Ca dao nghi lễ phong tục.
_ Ca dao ru con.
_ Ca dao trữ tình .
_ Ca dao trào phúng.
I. Ca dao:
Trong số 6 loại ca dao nêu trên, chúng ta sẽ ưu tiên tập trung tìm hiểu về CA DAO TRỮ TÌNH.
CA DAO TRỮ TÌNH.
Khái niệm: là bộ phận lớn nhất, phát triển mạnh nhất, phong phú và đa dạng nhất của ca dao.
Có thể phân thành năm mảng đề tài lớn là:
_Ca dao về thiên nhiên
_Ca dao về đề tài lịch sử
_Ca dao trữ tình về gia đình
_Ca dao về đề tài xã hội
_Ca dao trào phúng
_Ca dao tình yêu
Ca dao về thiên nhiên:
Ví dụ: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

Ca dao về đề tài lịch sử:
Ví dụ: Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà quản tượng cưỡi voi bành vàng.

Ca dao trữ tình về gia đình:
Ví dụ: Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
I. Ca dao:
Ca dao về đề tài xã hội:
Ví dụ: Đi chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm.

Ca dao tình yêu:
Ví dụ: Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Ca dao trào phúng:
Ví dụ: Hai tay cầm hai quả hồng
Qủa chát phần chồng, quả ngọt phần trai

I. Ca dao:
CÁC LOẠI DÂN CA CHỦ YẾU.
Những căn cứ ( tiêu chí) chủ yếu để phân loại dân ca là: chức năng, nhạc điệu (hay làn, giọng) lời ca, hình thức diễn xướng(lề lối hát).
Vận dụng tổng hợp các tiêu chí trên, có thể phân chia dân ca người Việt thành các loại lớn sau đây:
_Đồng dao.
_Dân ca lao động.
_Hát ru.
_Dân ca trữ tình.
II. Dân ca
1)Đồng dao.
Bao gồm tất cả các hình thức ca hát truyền
thống của trẻ em trong nhân dân thuộc các lứa
tuổi khác nhau. Cả nhạc và lời, nội dung
và hình thức của đồng giao đều mang tính chất
hồn nhiên chất phát phù hợp với tâm sinh lí
của tuổi nhỏ.
Bộ phận đồng dao gắn với lao động trẻ em, chủ yếu là trẻ em nông thôn. Đáng chú ý nhất là những bài ca gọi nghé, gọi bê ( gắn với việc chăn bò, chăn trâu) và những bài hát ru em ( gắn với công việc giữ em).
Bộ phận đồng dao gắn với nhu cầu hiểu biết phát triển trí tuệ, tâm hồn của trẻ em (như vè chim, vè cá, vè trái cây,…)
II. Dân ca
1)Đồng dao.

Bộ phận đồng dao được gọi là “sấm kí” hay “sấm truyền”. Thực chất đây chỉ là những câu hát ẩn ý về thời cuộc do người lớn đặt ra dưới hình thức đồng dao để cho trẻ em dễ nhớ, dễ truyền mà thôi .
II. Dân ca
2)Dân ca lao động:
Dân ca lao động của người Việt rất phong phú, đa dạng, có thể được phân thành hai bộ phận chính là các điệu hò lao động và các bài ca nghề nghiệp.


II. Dân ca
II. Dân ca
2)Dân ca lao động:
*Hò lao động.
Các điệu hò lao động có vai trò rất quan trọng trong dân ca lao động nói riêng và trong dân ca của người Việt nói chung.
Nhìn chung các điệu hò đều được kết cấu theo hai phần : phần “xướng”(hay kể) và phần “ xô”( hay họa theo); được gọi là “Cái kể, cái xô” là thông lệ của nhiều loại hò lao động.
*Bài ca nghề nghiệp.
Trong lĩnh vực dân ca lao động, sau các điệu hò lao động, những bài ca nghề nghiệp có một vị trí rất quan trọng. Đó là những bài ca dân gian gắn với các nghề truyền thống của nhân dân.
Nội dung: thường phản ánh tri thức, kinh nghiệm và tâm tư nguyện vọng của nhân dân đối với nghề nghiệp của họ.

2)Dân ca lao động:
Ví dụ: trong các bài ca nghề nghiệp, phong phú và đa dạng nhất là những bài ca về nghề nông:
Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp…
II. Dân ca
2)Dân ca lao động:
Có bài mang tính chất nông lịch, tổng kết kinh nghiệm làm ruộng,…
Ví dụ: - Tháng chạp là tháng trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà
-Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư gieo mạ mưa sa đầy đồng…
II. Dân ca
2)Dân ca lao động:
Trong sản xuất nông nghiệp thời xưa, sức kéo của trâu bò hết sức quan trọng :
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”
Ví dụ:
Nghé hành nghé hụi
Mày chui bụi nào?
Chân thấp chân cao
Chân nào theo mẹ
Về làm việc nhẹ
Về tập đi cày…

II. Dân ca
2)Dân ca nghi lễ:
Thuật ngữ dân ca nghi lễ được dùng để chỉ chung tất cả các hình thức ca hát dân gian gắn với các sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, bao gồm nhiều loại như các bài hát thờ , hát đưa linh…







Hát xoan Hò cửa đình huyện Phú Xuyên


II. Dân ca
2)Dân ca nghi lễ:
Phạm vi dân ca nghi lễ của người Việt rất rộng, đáng chú ý là các loại sau đây:
-Loại dân ca nghi lễ gắn với lao động sản xuất chăn nuôi và các nghề thủ công( như bài ca khẩn nguyện cầu mưa).
-Loại dân ca nghi lễ gắn với lịch tiết trong năm( như các bài hát trong các hội làng mùa xuân, các bài ca chúc tết,…).
-Loại dân ca nghi lễ gắn với các mốc quan trọng trong đời người ( như khi sinh ra, khi cưới hỏi, khi đưa đám).
II. Dân ca
2)Dân ca nghi lễ:
Ví dụ: hò đưa linh, hay hò bá trạo ,…
Loại dân ca nghi lễ gắn với việc cúng tế thần thánh của từng vùng, từng làng( như hát giặm Hà Nam gắn với thờ cúng Lí Thường Kiệt)







Hát giặm hò đưa linh
II. Dân ca
3) Hát ru:
Khái niệm: Hát ru(hay hát ru con, ru em) là loại dân ca phổ biến và được sử dụng thường xuyên nhất. Đây là loại dân ca của mọi gia đình, mọi lứa tuổi.
Nhẹ nhàng, êm ái , chậm rãi và lắng đọng là những đặc điểm nổi bật được thể hiện trong tất cả các phương diện khác nhau của loại dân ca này( lời, nhạc, động tác, nội dung,...).
Ru, tuy đươc gọi là “hát” nhưng thực ra chỉ là lối ngân nga, cách điệu, kéo dài các âm tiết.
II. Dân ca
3) Hát ru:
Lời thơ trong hát ru thường được cấu tạo theo kiểu đối thoại một chiều( một vế), hướng về những đối tượng cụ thể khác nhau
-Hướng về đối tượng trẻ thơ, như:
Cái ngủ mày ngủ cho say
Mẹ mày vất vả chân tay tối ngày
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về...

(các bạn đang nghe bài Hát ru Nam bộ)
II. Dân ca
3) Hát ru:
Hướng về các đối tượng người lớn, như :

Một ngày ba trận trèo non
Lấy chi mà đẹp mà giòn hỡi anh ?
Một ngày ba trận trèo đèo
Vì ai vú dếch lưng eo hỡi chàng?
II. Dân ca
3) Dân ca trữ tình:
Khái niệm: Dân ca trữ tình là một khái niệm rộng được dùng để chỉ tất cả những hình thức dân ca sinh thành, tồn tại và phát triển chủ yếu do nhu cầu bộc lộ tâm tư, tình cảm, khát vọng của nhân dân.
Ví dụ: như hát ghẹo, hát giao duyên,…
II. Dân ca
4) Dân ca trong kịch hát dân gian
Khái niệm: là bộ phận dân ca được dùng trong các loại kịch hát dân gian vốn cũng bắt nguồn từ các loại dân ca thông thường nhưng đã đươc chế tác, phát triển, nâng cao theo yêu cầu của nghệ thuật sân khấu.
Ví dụ: Như điệu hát “sắp” có sắp qua cầu, sắp cổ phong,…
II. Dân ca
Ca dao dân ca là kết tinh thuần tuý của tinh thần dân tộc, là nét đẹp trong văn hóa dân gian Việt Nam.
Xét về gốc độ tư duy của dân tộc , là tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng.
Ca dao dân ca không chỉ cho thấy những nét đẹp văn hóa của người Việt mà còn làm nỗi bật lên tinh thần lac quan, yêu đời, yêu người thiết tha.
III. Ý nghĩa của ca dao, dân ca đối với đời sống
Ca dao Việt Nam là một kho tàng quý báu, vì vậy, thế hệ trẻ cần giữ gìn, phát triển toàn diện để ca dao, dân ca ngày càng phát triển lớn mạnh. Bởi lẽ đó là một nét đẹp văn hóa của con người Việt Nam…
IV. Ảnh hưởng của ca dao, dân ca đối với đời sống
Sau đây là những bài dân ca của một số vùng miền..
DÂN CA NAM BỘ
CHIM TRẮNG MỒ CÔI
TRÌNH BÀY: CẨM LY
DÂN CA HUẾ
LÝ MƯỜI THƯƠNG
TRÌNH BÀY: CẨM LY
DÂN CA QUANG HỌ BẮC NINH
NGƯỜI ƠI ĐỪNG VỀ
TRÌNH BÀY: THANH HUYỀN
 
Gửi ý kiến