Tìm kiếm Bài giảng
TÁC GIẢ ANTON PALOVICH SEKHOV

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: TÁC GIẢ: ANTON PALOVICH SEKHOV
Người gửi: lê uyên trang
Ngày gửi: 11h:29' 31-10-2023
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn: TÁC GIẢ: ANTON PALOVICH SEKHOV
Người gửi: lê uyên trang
Ngày gửi: 11h:29' 31-10-2023
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
NGƯỜI TRONG BAO
TÁC GIẢ: ANTON PALOVICH SEKHOV
Sê-khốp (1860-1904) là một trong những cây đại thụ của rừng văn
học Nga, đã để lại nhiều kịch bản và hơn năm trăm truyện ngắn. Tác phẩm
của Sê-khốp làm hiện lên toàn cảnh xã hội nước Nga cuối thế kỉ XIX ngạt
thở. trong bầu không khí chuyên chế bảo thủ nặng nề dưới thời Sa hoàng.
Truyện ngắn "Người trong bao" được Sê-khốp viết vào năm 1898.
Qua nhân vật Bê-li-cốp, tác giả châm biếm và đả kích người trí thức Nga
sống tầm thường, hủ lậu, hèn nhát và giáo điều, đê tiện và dung tục; đồng
thời chỉ ra lối sống ấy đã để lại nhiều di hại đầu độc tâm hồn người, đầu
độc cuộc sống, gây ảnh hưởng và hậu quả nặng nề, dai dẳng trong xã hội
nước Nga. Cái bao mang hàm nghĩa về một kiếp người, một lối sống, một
xã hội đen tối, tù túng, nặng nề mà không sao thoát ra được, chết rồi cũng
không thoát ra được!
Cuộc đời của anh giáo chức tỉnh lẻ Bê-li-cốp là những trang hài, là
một bức tranh biếm hoạ cười ra nước mắt. Chả thế mà cô giáo Va-ren-ca đã
"cười phá lên" khi Bê-li-cốp bị xô ngã "lộn nhào" xuống chân cầu thang, và
cô đã "oà lên khóc" khi hắn đã nằm trong bao đi chầu âm phủ!
Bê-li-cốp, giáo viên trung học dạy tiếng Hy Lạp cổ. Hắn quen sống trong tù
túng, nô lệ. Với hắn thì "nếu không có chỉ thị nào cho phép thì ta không
được làm. Hắn sống vì quá khứ, như một kẻ mang bệnh tâm thần, lúc nào
cũng sống trong tâm trạng "sợ hãi", "lo âu", "nhút nhát" . Hắn chỉ có một
chút niềm vui do bệnh nghề nghiệp sinh ra. Hắn nói "ngọt ngào”: "Ôi, tiếng
Hy Lạp nghe thật tuyệt vời êm tai", rồi "nheo mắt lại", "giơ một ngón tay
lên" và thốt ra tiếng: "Anthropos”. Phải chăng lúc đó gã Bê-li-cốp hạnh
phúc nhất. Chắc lúc ấy hắn đã thò đầu ra khỏi cái bao trong khoảnh khắc!
Bê-li-cốp sống một cách kỳ quặc, vừa lập dị vừa lẩm cẩm. Con
người hắn cuộc đời hắn, từ cử chỉ, hành động đến ngôn ngữ sinh hoạt. Hắn
như đã bị cầm tù, đã bị nhốt vào bao. Quanh năm suốt tháng, nắng mưa,
ngay cả mùa hạ hắn vẫn khoác áo bành tô ấm cốt bông! Lúc nào chân cũng
đi giày cao su. Chiếc ô, đồng hồ quả quýt, con dao nhỏ để gọt bút chì... tất
cả đều đút trong bao. Ngồi xe ngựa, hắn bắt phải hạ mui xe. Bộ mặt hắn
cũng được giấu kín trong bao, đó là cái cổ áo bành tô cổ bẻ. Lỗ tai hắn
cũng nhét bông. Mọi ý nghĩ, hắn "cũng giấu vào bao". Với hắn thì cái bao
là một thứ vỏ bọc để "ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên
ngoài". Nhưng thật hài hước, đầu óc hắn cũng chỉ là một cái bao cổ hủ để
bọc lấy những chỉ thị, thông tư, những bài báo quy định cấm đoán điều
này điều nọ mà hắn cho là "rõ ràng". Hắn vừa hèn vừa đáng thương! Hắn
thật tội nghiệp!
Qua các chi tiết nói về cái bao, Sê-khốp châm
biếm một loại "linh hồn chết" trong xã hội Nga cuối thế
kỉ XIX, đó là loại trí thức sống lạc hậu, cổ hủ, nô lệ, mù
quáng, sống cuộc đời chật hẹp, quẩn quanh tù túng.
Cách sống của Bê-li-cốp cũng rất kì lạ. Hắn có
một thói quen "kì quặc". Hắn thường đến các nhà giáo
viên, như hắn nói đến để "duy trì những mối quan hệ tốt
với bạn bè". Nhưng hắn đến mà "chẳng nói chẳng
rằng", cứ “ngồi im như phỗng", mắt thì nhìn quanh
"như tìm kiếm vật gì", độ một giờ sau thì cáo từ. Tính
hắn hâm hay hắn là một mật vụ lân la dò xét? Vì thế,
giáo viên nào trong trường cũng sợ hắn. Cả hiệu trưởng,
oai quyền thế cũng sợ hắn. Cả thành phố đều sợ hắn.
Các bà, các cô không dám diễn kịch vào tối thứ bảy vì sợ rằng
"nhỡ hắn biết thì lại phiền". Giới tu hành không dám ăn thịt và đánh bài
khi có mặt hắn. Bê-li-cốp như một bóng ma, một hung thần gieo rắc sợ
hãi, làm cho dân chúng trong thành phố suốt một thời gian dài mười lăm
năm trời “sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, sợ giúp đỡ
người nghèo, sợ dạy học chữ...".
Sê-khốp đã chỉ ra và cho thấy loại người trong bao, lối sống trong
bao thật vô cùng đáng sợ. Loại người ấy, lối sống ấy đã tỏa chiết tâm
hồn người, bao phủ lên khắp mọi nơi một bóng đen đáng sợ.
Vì quanh năm suốt tháng tự nhốt mình trong bao nên Bê-li-cốp
sống như một người bệnh tưởng, trầm cảm. Hắn sợ ánh sáng, sợ bóng
tối, sợ trộm vào nhà, sợ lão nấu bếp cắt cổ hắn. Nhà lúc nào cũng đóng
chặt cửa, cài then, chăn trùm đầu kín mít lúc ngủ, ở nhà mùa hè cũng
như mùa đông, lúc nào hắn cũng mặc áo khoác ngoài.
Suốt đêm, "hắn toàn mơ những điều khủng khiếp" vì thế buổi
sáng đến trường, mặt hắn "tái nhợt, rầu rĩ" một cách thảm hại! Lối sống
đó là sống khổ, sống mà như chết. Bê-li-cốp đã tự cầm tù mình, đày đọa
mình, gây đau khổ cho thân mình. Hắn thật đáng thương hại. Hóm hỉnh
và ý vị biết bao khi Sê-khốp nói về bi kịch ái tình của người trong bao.
Cô giáo Va-ren-ca khoảng ba mươi tuổi mới về trường, thế là nữ thần ái
tình đến gõ trái tim Bê-li-cốp. Trên bàn trong ngôi nhà "chật như cái
hộp", hắn trân trọng đặt tấm ảnh người đẹp. Ý định lấy vợ choáng ngợp
tâm hồn hắn, nhưng vì quen sống trong bao nên hắn cứ lần lữa đắn đo,
suy tính, lúc nào mặt mày cũng nhợt nhạt đáng thương. Hắn bị gán
ghép, rồi hắn có vẻ thích Va-ren- ca...
Thế là bức tranh biếm hoạ "Anthropos si tình" (kẻ si tình) được
gửi đến tất cả các giáo viên ở hai trường nam nữ, giáo viên chủng viện,
các viên chức và cả Bê-li-cốp nữa. Bức biếm hoạ mới gợi tình làm sao:
hình ảnh "Bê-li-cốp đang đi, chân xỏ trong giày mưa, quần túm ống, tay
cầm ô, tay khoác tay Va-ren-ca". Chà! Người trong bao lãng mạn và đa
tình quá! Nhưng Bê-li-cốp lại bị sốc, bị bức tranh châm biếm gây cho
hắn "một ấn tượng nặng nề".Sê-khốp đã tạo nên những chi tiết điển
hình, những tình huống điển hình để khắc họa tính cách của Bê-li-cốp
người trong bao. Dư vị chua cay, hài hước của câu chuyện càng trở nên
hấp dẫn, lôi cuốn. Bê-li-cốp chẳng gặp "hên" một chút nào! Ngày chủ
nhật, mùng một tháng năm hôm ấy, thầy trò cả trường trung học tổ chức
cùng đi ra ngoài thành phố vào rừng chơi.
Nhưng anh chàng Bê-li-cốp đã bỏ về giữa chừng.
Giữa đường hắn bất ngờ thấy hai chị em Va-ren-ca cưỡi
xe đạp phóng qua. Cô chị "mặt mày ửng đỏ... vui vẻ,
hớn hở" gào to: "Trời hôm nay đẹp thật, đẹp tuyệt, đẹp
ghê gớm!". Bê-li-cốp "ngẩn người ra", như bị choáng,
bị ma ám: "Mặt mày đang từ xanh mét chuyển sang
trắng bệch". Người trong bao phàn nàn, trách cứ:
"Chẳng lẽ giáo viên và đàn bà, con gái lại có thể cưỡi
xe đẹp, làm như thế coi sao tiện?".Phải chăng hắn là
một kẻ cổ hủ đáng cười? Phải chăng hắn là một nhà mô
phạm đang bảo vệ nên đạo đức chính thống?
Suốt ngày hôm sau, người trong bao đau khổ dằn
vặt, bực dọc, toàn thân run lên", thậm chí hắn bỏ cả
buổi lên lớp, bỏ cả cơm trưa.
Tối hôm đó, dù đang tiết mùa hạ, nhà đạo đức bèn "mặc áo ấm" lần
mò đến nhà hai chị em Va-ren- ca. Cô chị đi vắng, hắn chỉ gặp được người
em. Hắn thật thà thanh minh về bức tranh châm biếm. Hắn khẳng định nhân
cách "tử tế, đứng đắn" của mình. Lấy tư cách là "bạn đồng nghiệp đi trước",
hắn nhắc nhở kẻ "mới bắt đầu đi làm" đôi điều. Hắn chê trách việc đi xe đạp
của hai chị em Va-ren-ca "hoàn toàn không hợp với tư thế của một nhà giáo
dục thiếu niên". Hắn cảnh cáo việc đi xe đạp ấy là thiếu gương mẫu, là trái
pháp luật, trái nội quy vì "chưa có chỉ thị nào cho phép thì không được làm".
Hắn bày tỏ thái độ nào là "phát kinh lên", nào là mắt hoa lên" khi nhìn thấy
cảnh đàn bà, con gái đi xe đạp! Hắn khuyên nhủ Cô- va-len-cô phải xử sự
"thận trọng", không được buông thả quá chừng như mặc áo thêu ra đường,
trong tay còn cầm sách này nọ, lại còn cưỡi xe đạp nữa. Hắn nhắc nhở nếu
chuyện ấy đến tai ông hiệu trưởng, ông thanh tra thì "còn ra cái thể thống
gì”.
Khi bị Cô-va-len-cô cự lại, hắn răn dạy: "Anh cần phải có thái độ
kính trọng đối với chính quyền". Hắn doạ "sẽ báo cáo với ngài hiệu trưởng
nội dung câu chuyện" đã xảy ra mà hắn đã nói với Cô-va-len-cô.
Cuộc đôi co diễn ra, Cô-va-len-cô “thô bạo" chỉ vào mặt Bê-li-cốp và bảo
hắn là "tên mách lẻo”, rồi túm lấy cổ áo hắn, tống cổ ra khỏi nhà. Người
trong bao "lộn nhào xuống chân cầu thang”. Sự việc diễn ra đầy kịch tính.
Khi Bê-li-cốp "sờ lên mũi xem cặp kính có còn nguyên vẹn không", thì hai
người đàn bà và Va-ren-ca bỗng từ đâu xuất hiện, nhìn thấy. Bê-li-cốp đau
khổ cảm thấy thà "tự vặt cổ” còn hơn là biến thành trò cười cho thiên hạ.
Hắn vô cùng lo sợ câu chuyện sẽ đến tai ngài hiệu trưởng, ngài thanh tra.
Người ta sẽ vẽ tranh châm biếm hắn, sẽ ép hắn về hưu...Có bao chi tiết bi
hài. Nhất là khi Va-ren-ca "cười phá lên vang khắp khu nhà". Tiếng cười
"ha-ha-ha!" lảnh lót, âm vang ấy "đã chấm dứt tất cả”: "chấm dứt chuyện
cưới xin, chấm dứt cả cuộc đời của Bê-li-cốp".
Cái ngã của Bê-li-cốp xuống chân cầu thang, điệu cười "lảnh lót"
của Va-ren-ca có giá trị và ý nghĩa phê phán một cách chua cay lối sống
giáo điều, dung tục của hạng người trong bao. Kẻ hủ lậu lên mặt đạo đức
giả, dạy đời bằng bài học luân lý cổ lỗ đã bị Sê-khốp châm biếm qua một
tình huống bi hài. Chỉ một tháng sau bị xô ngã, Bê-li-cốp chết. Trước khi đi
chầu Diêm Vương, hắn không quên cất tấm ảnh Va-ren-ca để trên bàn đi.
Hắn nằm trong quan tài với vẻ mặt "hiền lành, dễ chịu, tươi tỉnh". Phải
chăng hắn "mừng" vì được "chui vào cái bao" vĩnh viễn. Đám ma hắn được
cử hành trong một buổi , trời mưa dầm âm u". Lúc hạ huyệt, Va-ren-ca
"bỗng oà lên khóc". Nàng khóc vì thương tiếc một thiên tình sử chăng?
Nàng khóc vì thương hại một con người bảo thủ, cổ hủ từng làm trò cười
cho thiên hạ chăng?Sau khi Bê-li-cốp chết, lúc đầu ai cũng cảm thấy nhẹ
nhàng, thoải mái.
Nhưng rồi chưa đầy một tuần sau, ai cũng cảm thấy "nặng nề, mệt
nhọc, vô vị" vì cuộc sống đã lại diễn ra như cũ, "chẳng tốt đẹp gì
hơn trước". Một Bê-li-cốp chết, một người trong bao đã về chầu
âm phủ nhưng còn lại bao nhiêu người trong bao, và "trong tương
lai cũng sẽ còn bao nhiêu người như thế nữa!". Sê-khốp đã chỉ rõ:
lối sống tầm thường, hủ lậu, giáo điều, dung tục đã đầu độc con
người, đầu độc cuộc sống, sẽ gây bao hậu quả nặng nề, sẽ tồn tại
dai dẳng trong xã hội Nga những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX.
M.Gorki đã từng nhận xét, đọc Sê-khốp, chúng ta thấy “phảng phất
đâu đây nụ cười buồn buồn của một tâm hồn biết yêu thương”,
“Tiếng thở dài khẽ sâu của một trái tim trong sạch”.
Còn nhà văn Nguyễn Tuân khi đọc
Người trong bao thì cho rằng: “Truyện
Bê-li-cốp là một áng văn đả kích đến
tuyệt đỉnh: hình thù tên họ nhân vật đã
thành một cái sự, đã thành một hình dung
từ ngày nay vẫn còn tác dụng lớn”. Phê
phán những nhược điểm, tật xấu của Bêli-cốp, cảm thương cho số phận của
những con người sống trong môi trường
ngột ngạt, thối nát xã hội Nga đương
thời, đồng thời có dịp để soi lại chính
mình nhằm vươn tới một cuộc sống lành
mạnh, ý nghĩa hơn.
THANK YOU
THANKS
TÁC GIẢ: ANTON PALOVICH SEKHOV
Sê-khốp (1860-1904) là một trong những cây đại thụ của rừng văn
học Nga, đã để lại nhiều kịch bản và hơn năm trăm truyện ngắn. Tác phẩm
của Sê-khốp làm hiện lên toàn cảnh xã hội nước Nga cuối thế kỉ XIX ngạt
thở. trong bầu không khí chuyên chế bảo thủ nặng nề dưới thời Sa hoàng.
Truyện ngắn "Người trong bao" được Sê-khốp viết vào năm 1898.
Qua nhân vật Bê-li-cốp, tác giả châm biếm và đả kích người trí thức Nga
sống tầm thường, hủ lậu, hèn nhát và giáo điều, đê tiện và dung tục; đồng
thời chỉ ra lối sống ấy đã để lại nhiều di hại đầu độc tâm hồn người, đầu
độc cuộc sống, gây ảnh hưởng và hậu quả nặng nề, dai dẳng trong xã hội
nước Nga. Cái bao mang hàm nghĩa về một kiếp người, một lối sống, một
xã hội đen tối, tù túng, nặng nề mà không sao thoát ra được, chết rồi cũng
không thoát ra được!
Cuộc đời của anh giáo chức tỉnh lẻ Bê-li-cốp là những trang hài, là
một bức tranh biếm hoạ cười ra nước mắt. Chả thế mà cô giáo Va-ren-ca đã
"cười phá lên" khi Bê-li-cốp bị xô ngã "lộn nhào" xuống chân cầu thang, và
cô đã "oà lên khóc" khi hắn đã nằm trong bao đi chầu âm phủ!
Bê-li-cốp, giáo viên trung học dạy tiếng Hy Lạp cổ. Hắn quen sống trong tù
túng, nô lệ. Với hắn thì "nếu không có chỉ thị nào cho phép thì ta không
được làm. Hắn sống vì quá khứ, như một kẻ mang bệnh tâm thần, lúc nào
cũng sống trong tâm trạng "sợ hãi", "lo âu", "nhút nhát" . Hắn chỉ có một
chút niềm vui do bệnh nghề nghiệp sinh ra. Hắn nói "ngọt ngào”: "Ôi, tiếng
Hy Lạp nghe thật tuyệt vời êm tai", rồi "nheo mắt lại", "giơ một ngón tay
lên" và thốt ra tiếng: "Anthropos”. Phải chăng lúc đó gã Bê-li-cốp hạnh
phúc nhất. Chắc lúc ấy hắn đã thò đầu ra khỏi cái bao trong khoảnh khắc!
Bê-li-cốp sống một cách kỳ quặc, vừa lập dị vừa lẩm cẩm. Con
người hắn cuộc đời hắn, từ cử chỉ, hành động đến ngôn ngữ sinh hoạt. Hắn
như đã bị cầm tù, đã bị nhốt vào bao. Quanh năm suốt tháng, nắng mưa,
ngay cả mùa hạ hắn vẫn khoác áo bành tô ấm cốt bông! Lúc nào chân cũng
đi giày cao su. Chiếc ô, đồng hồ quả quýt, con dao nhỏ để gọt bút chì... tất
cả đều đút trong bao. Ngồi xe ngựa, hắn bắt phải hạ mui xe. Bộ mặt hắn
cũng được giấu kín trong bao, đó là cái cổ áo bành tô cổ bẻ. Lỗ tai hắn
cũng nhét bông. Mọi ý nghĩ, hắn "cũng giấu vào bao". Với hắn thì cái bao
là một thứ vỏ bọc để "ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên
ngoài". Nhưng thật hài hước, đầu óc hắn cũng chỉ là một cái bao cổ hủ để
bọc lấy những chỉ thị, thông tư, những bài báo quy định cấm đoán điều
này điều nọ mà hắn cho là "rõ ràng". Hắn vừa hèn vừa đáng thương! Hắn
thật tội nghiệp!
Qua các chi tiết nói về cái bao, Sê-khốp châm
biếm một loại "linh hồn chết" trong xã hội Nga cuối thế
kỉ XIX, đó là loại trí thức sống lạc hậu, cổ hủ, nô lệ, mù
quáng, sống cuộc đời chật hẹp, quẩn quanh tù túng.
Cách sống của Bê-li-cốp cũng rất kì lạ. Hắn có
một thói quen "kì quặc". Hắn thường đến các nhà giáo
viên, như hắn nói đến để "duy trì những mối quan hệ tốt
với bạn bè". Nhưng hắn đến mà "chẳng nói chẳng
rằng", cứ “ngồi im như phỗng", mắt thì nhìn quanh
"như tìm kiếm vật gì", độ một giờ sau thì cáo từ. Tính
hắn hâm hay hắn là một mật vụ lân la dò xét? Vì thế,
giáo viên nào trong trường cũng sợ hắn. Cả hiệu trưởng,
oai quyền thế cũng sợ hắn. Cả thành phố đều sợ hắn.
Các bà, các cô không dám diễn kịch vào tối thứ bảy vì sợ rằng
"nhỡ hắn biết thì lại phiền". Giới tu hành không dám ăn thịt và đánh bài
khi có mặt hắn. Bê-li-cốp như một bóng ma, một hung thần gieo rắc sợ
hãi, làm cho dân chúng trong thành phố suốt một thời gian dài mười lăm
năm trời “sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, sợ giúp đỡ
người nghèo, sợ dạy học chữ...".
Sê-khốp đã chỉ ra và cho thấy loại người trong bao, lối sống trong
bao thật vô cùng đáng sợ. Loại người ấy, lối sống ấy đã tỏa chiết tâm
hồn người, bao phủ lên khắp mọi nơi một bóng đen đáng sợ.
Vì quanh năm suốt tháng tự nhốt mình trong bao nên Bê-li-cốp
sống như một người bệnh tưởng, trầm cảm. Hắn sợ ánh sáng, sợ bóng
tối, sợ trộm vào nhà, sợ lão nấu bếp cắt cổ hắn. Nhà lúc nào cũng đóng
chặt cửa, cài then, chăn trùm đầu kín mít lúc ngủ, ở nhà mùa hè cũng
như mùa đông, lúc nào hắn cũng mặc áo khoác ngoài.
Suốt đêm, "hắn toàn mơ những điều khủng khiếp" vì thế buổi
sáng đến trường, mặt hắn "tái nhợt, rầu rĩ" một cách thảm hại! Lối sống
đó là sống khổ, sống mà như chết. Bê-li-cốp đã tự cầm tù mình, đày đọa
mình, gây đau khổ cho thân mình. Hắn thật đáng thương hại. Hóm hỉnh
và ý vị biết bao khi Sê-khốp nói về bi kịch ái tình của người trong bao.
Cô giáo Va-ren-ca khoảng ba mươi tuổi mới về trường, thế là nữ thần ái
tình đến gõ trái tim Bê-li-cốp. Trên bàn trong ngôi nhà "chật như cái
hộp", hắn trân trọng đặt tấm ảnh người đẹp. Ý định lấy vợ choáng ngợp
tâm hồn hắn, nhưng vì quen sống trong bao nên hắn cứ lần lữa đắn đo,
suy tính, lúc nào mặt mày cũng nhợt nhạt đáng thương. Hắn bị gán
ghép, rồi hắn có vẻ thích Va-ren- ca...
Thế là bức tranh biếm hoạ "Anthropos si tình" (kẻ si tình) được
gửi đến tất cả các giáo viên ở hai trường nam nữ, giáo viên chủng viện,
các viên chức và cả Bê-li-cốp nữa. Bức biếm hoạ mới gợi tình làm sao:
hình ảnh "Bê-li-cốp đang đi, chân xỏ trong giày mưa, quần túm ống, tay
cầm ô, tay khoác tay Va-ren-ca". Chà! Người trong bao lãng mạn và đa
tình quá! Nhưng Bê-li-cốp lại bị sốc, bị bức tranh châm biếm gây cho
hắn "một ấn tượng nặng nề".Sê-khốp đã tạo nên những chi tiết điển
hình, những tình huống điển hình để khắc họa tính cách của Bê-li-cốp
người trong bao. Dư vị chua cay, hài hước của câu chuyện càng trở nên
hấp dẫn, lôi cuốn. Bê-li-cốp chẳng gặp "hên" một chút nào! Ngày chủ
nhật, mùng một tháng năm hôm ấy, thầy trò cả trường trung học tổ chức
cùng đi ra ngoài thành phố vào rừng chơi.
Nhưng anh chàng Bê-li-cốp đã bỏ về giữa chừng.
Giữa đường hắn bất ngờ thấy hai chị em Va-ren-ca cưỡi
xe đạp phóng qua. Cô chị "mặt mày ửng đỏ... vui vẻ,
hớn hở" gào to: "Trời hôm nay đẹp thật, đẹp tuyệt, đẹp
ghê gớm!". Bê-li-cốp "ngẩn người ra", như bị choáng,
bị ma ám: "Mặt mày đang từ xanh mét chuyển sang
trắng bệch". Người trong bao phàn nàn, trách cứ:
"Chẳng lẽ giáo viên và đàn bà, con gái lại có thể cưỡi
xe đẹp, làm như thế coi sao tiện?".Phải chăng hắn là
một kẻ cổ hủ đáng cười? Phải chăng hắn là một nhà mô
phạm đang bảo vệ nên đạo đức chính thống?
Suốt ngày hôm sau, người trong bao đau khổ dằn
vặt, bực dọc, toàn thân run lên", thậm chí hắn bỏ cả
buổi lên lớp, bỏ cả cơm trưa.
Tối hôm đó, dù đang tiết mùa hạ, nhà đạo đức bèn "mặc áo ấm" lần
mò đến nhà hai chị em Va-ren- ca. Cô chị đi vắng, hắn chỉ gặp được người
em. Hắn thật thà thanh minh về bức tranh châm biếm. Hắn khẳng định nhân
cách "tử tế, đứng đắn" của mình. Lấy tư cách là "bạn đồng nghiệp đi trước",
hắn nhắc nhở kẻ "mới bắt đầu đi làm" đôi điều. Hắn chê trách việc đi xe đạp
của hai chị em Va-ren-ca "hoàn toàn không hợp với tư thế của một nhà giáo
dục thiếu niên". Hắn cảnh cáo việc đi xe đạp ấy là thiếu gương mẫu, là trái
pháp luật, trái nội quy vì "chưa có chỉ thị nào cho phép thì không được làm".
Hắn bày tỏ thái độ nào là "phát kinh lên", nào là mắt hoa lên" khi nhìn thấy
cảnh đàn bà, con gái đi xe đạp! Hắn khuyên nhủ Cô- va-len-cô phải xử sự
"thận trọng", không được buông thả quá chừng như mặc áo thêu ra đường,
trong tay còn cầm sách này nọ, lại còn cưỡi xe đạp nữa. Hắn nhắc nhở nếu
chuyện ấy đến tai ông hiệu trưởng, ông thanh tra thì "còn ra cái thể thống
gì”.
Khi bị Cô-va-len-cô cự lại, hắn răn dạy: "Anh cần phải có thái độ
kính trọng đối với chính quyền". Hắn doạ "sẽ báo cáo với ngài hiệu trưởng
nội dung câu chuyện" đã xảy ra mà hắn đã nói với Cô-va-len-cô.
Cuộc đôi co diễn ra, Cô-va-len-cô “thô bạo" chỉ vào mặt Bê-li-cốp và bảo
hắn là "tên mách lẻo”, rồi túm lấy cổ áo hắn, tống cổ ra khỏi nhà. Người
trong bao "lộn nhào xuống chân cầu thang”. Sự việc diễn ra đầy kịch tính.
Khi Bê-li-cốp "sờ lên mũi xem cặp kính có còn nguyên vẹn không", thì hai
người đàn bà và Va-ren-ca bỗng từ đâu xuất hiện, nhìn thấy. Bê-li-cốp đau
khổ cảm thấy thà "tự vặt cổ” còn hơn là biến thành trò cười cho thiên hạ.
Hắn vô cùng lo sợ câu chuyện sẽ đến tai ngài hiệu trưởng, ngài thanh tra.
Người ta sẽ vẽ tranh châm biếm hắn, sẽ ép hắn về hưu...Có bao chi tiết bi
hài. Nhất là khi Va-ren-ca "cười phá lên vang khắp khu nhà". Tiếng cười
"ha-ha-ha!" lảnh lót, âm vang ấy "đã chấm dứt tất cả”: "chấm dứt chuyện
cưới xin, chấm dứt cả cuộc đời của Bê-li-cốp".
Cái ngã của Bê-li-cốp xuống chân cầu thang, điệu cười "lảnh lót"
của Va-ren-ca có giá trị và ý nghĩa phê phán một cách chua cay lối sống
giáo điều, dung tục của hạng người trong bao. Kẻ hủ lậu lên mặt đạo đức
giả, dạy đời bằng bài học luân lý cổ lỗ đã bị Sê-khốp châm biếm qua một
tình huống bi hài. Chỉ một tháng sau bị xô ngã, Bê-li-cốp chết. Trước khi đi
chầu Diêm Vương, hắn không quên cất tấm ảnh Va-ren-ca để trên bàn đi.
Hắn nằm trong quan tài với vẻ mặt "hiền lành, dễ chịu, tươi tỉnh". Phải
chăng hắn "mừng" vì được "chui vào cái bao" vĩnh viễn. Đám ma hắn được
cử hành trong một buổi , trời mưa dầm âm u". Lúc hạ huyệt, Va-ren-ca
"bỗng oà lên khóc". Nàng khóc vì thương tiếc một thiên tình sử chăng?
Nàng khóc vì thương hại một con người bảo thủ, cổ hủ từng làm trò cười
cho thiên hạ chăng?Sau khi Bê-li-cốp chết, lúc đầu ai cũng cảm thấy nhẹ
nhàng, thoải mái.
Nhưng rồi chưa đầy một tuần sau, ai cũng cảm thấy "nặng nề, mệt
nhọc, vô vị" vì cuộc sống đã lại diễn ra như cũ, "chẳng tốt đẹp gì
hơn trước". Một Bê-li-cốp chết, một người trong bao đã về chầu
âm phủ nhưng còn lại bao nhiêu người trong bao, và "trong tương
lai cũng sẽ còn bao nhiêu người như thế nữa!". Sê-khốp đã chỉ rõ:
lối sống tầm thường, hủ lậu, giáo điều, dung tục đã đầu độc con
người, đầu độc cuộc sống, sẽ gây bao hậu quả nặng nề, sẽ tồn tại
dai dẳng trong xã hội Nga những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ
XX.
M.Gorki đã từng nhận xét, đọc Sê-khốp, chúng ta thấy “phảng phất
đâu đây nụ cười buồn buồn của một tâm hồn biết yêu thương”,
“Tiếng thở dài khẽ sâu của một trái tim trong sạch”.
Còn nhà văn Nguyễn Tuân khi đọc
Người trong bao thì cho rằng: “Truyện
Bê-li-cốp là một áng văn đả kích đến
tuyệt đỉnh: hình thù tên họ nhân vật đã
thành một cái sự, đã thành một hình dung
từ ngày nay vẫn còn tác dụng lớn”. Phê
phán những nhược điểm, tật xấu của Bêli-cốp, cảm thương cho số phận của
những con người sống trong môi trường
ngột ngạt, thối nát xã hội Nga đương
thời, đồng thời có dịp để soi lại chính
mình nhằm vươn tới một cuộc sống lành
mạnh, ý nghĩa hơn.
THANK YOU
THANKS
 








Các ý kiến mới nhất