Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Chính sách đối ngoại của Hàn Quốc từ năm 2000 đến nay

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Minh Kha
Ngày gửi: 22h:19' 27-06-2015
Dung lượng: 992.3 KB
Số lượt tải: 41
Số lượt thích: 0 người
ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HÀN QUỐC TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY














* Khái quát tình hình Hàn Quốc:
Trong giai đoạn từ 2001 – 2009, Hàn Quốc chú trọng phát triển nền kinh tế định hướng xuất khẩu, đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp nặng để thu ngoại tệ.

Chính phủ Hàn Quốc chú trọng đến các dịch vụ công, cải cách giáo dục, tạo việc làm mới, đảm bảo phúc lợi xã hội, nâng cao hơn chất lượng cuộc sống của người dân.

Với chủ trương “Toàn cầu hóa”, Hàn Quốc đã mở rộng quan hệ quốc tế với nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước XHCN, trong đó có Việt Nam.

Bước sang thế kỉ XXI, tham vọng đưa Hàn Quốc vào hàng ngũ các nước giàu mạnh thông qua “nền ngoại giao toàn cầu” đã trở thành mục tiêu của chính quyền mới ở nước này.

Phương pháp để thực hiện mục tiêu trước tiên là cải thiện quan hệ với tất cả các quốc gia trên thế giới, tích cực tham gia vào các hồ sơ toàn cầu như an ninh, nghèo đói, biến đổi khí hậu.

*Chính sách đối ngoại mới của Hàn Quốc bao gồm các mục tiêu chính:

+ Mở rộng các hiệp định thương mại tự do (FTA) và đầu tư, xâu dựng vành đai tăng trưởng xanh tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

+ Hàn Quốc sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác phù hợp với các nước Châu Á khác

+ Hàn Quốc sẽ chia sẻ kinh nghiệm phát triển công nghiệp với các nước láng giềng và tăng vốn ODA dành cho các nước đang phát triển khác tại Châu Á.
A.Quan hệ giữa Hàn Quốc và các quốc gia trong khu vực Đông Bắc Á:
I. Nhật Bản:
1>Lĩnh vực chính trị - ngoại giao:
a/Tích cực giải quyết những vấn đề quá khứ để lại:
- Nhận thức được những vấn đề quá khứ tồn tại giữa Nhật Bản và Hàn Quốc luôn là nguyên nhân cản trở , trong những năm đầu của thập niên 1990 ngay sau khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, với chủ trương tăng cường quan hệ đối tác Nhật - Hàn, các nhà lãnh đạo hai nước đã thống nhất trước hết phải xóa bỏ những rào cản quá khứ giữa hai bên.

- Chính phủ Nhật Bản đã chủ động đưa ra lời xin lỗi về những thiệt hại vật chất và tinh thần mà nhân dân Hàn Quốc phải chịu đựng trong suốt thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng.
b/Phát triển các kênh đối thoại cấp cao:
- Thông qua các chuyến thăm cấp cao này, các nhà lãnh đạo, quan chức Nhật Bản và Hàn Quốc đã có cơ hội trao đổi quan điểm với nhau về các vấn đề cùng quan tâm trong mọi lĩnh vực giúp quan hệ hai bên có nhiều bước tiến triển tích cực => Ký kết Tuyên bố chung Nhật Bản - Hàn Quốc: “Quan hệ đối tác hướng tới tương lai”.
- Tiến hành mở rộng giao lưu để giúp nâng cao hiểu biết cho nhân dân hai nước.
- Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu giữa lãnh đạo và nhân dân hai nước, chính phủ hai bên còn tiến hành trao đổi Công hàm miễn thị thực cho những người có hộ chiếu ngoại giao hoặc công vụ của hai nước.
c/ Hợp tác trong việc xử lý các tranh chấp:
- Đặc biệt là những quy định về đánh bắt hải sản.
- Hai bên đã ký kết Hiệp định phân chia ranh giới về đánh bắt
hải sản, cho phép mỗi nước sẽ giải quyết vấn đề giấy phép
và trừng phạt thẳng tay đối với các tàu của nước đối phương
nếu tiến hành đánh bắt hải sản ngoài đường ranh giới đánh
bắt cá tạm thời hay biên giới của vùng đánh bắt hải sản tạm
thời, còn các tàu trong vùng tạm thời sẽ thuộc thẩm quyền
của nước mà nó mang quốc tịch và việc quản lý nguồn tài
nguyên sẽ được giải quyết thông qua các cuộc thảo luận của
Ủy ban chung về đánh bắt hải sản giữa Nhật Bản và Hàn
Quốc.
d/ Hợp tác thông qua cơ chế hợp tác Đông Á:
- Hợp tác Đông Á được hình thành với vai trò trụ cột là ASEAN và ba nước Đông Bắc Á. Có thể nói đây là một sân chơi rất hữu ích không chỉ thúc đẩy hợp tác giữa các nước Đông Nam Á với các nước Đông Bắc Á, mà còn giữa các nước Đông Bắc Á với nhau. Sau Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á, thì ba nước Đông Bắc Á cũng bắt đầu đẩy mạnh các liên kết với nhau.
- Cơ chế ban đầu là cuộc gặp cấp cao giữa ba nước Đông Bắc Á diễn ra ngay sau cuộc gặp cấp cao ASEAN + 3. Hội nghị cấp cao Đông Bắc Á đầu tiên diễn ra năm 1999. Sau Hội nghị này Nhật Bản và Hàn Quốc đã thiết lập Nhóm nghiên cứu khả năng thiết lập Khu vực Mậu dịch tự do Nhật - Hàn
=> Thông qua tiến trình hợp tác này, quan hệ Nhật - Hàn sẽ ngày càng được thúc đẩy hơn nữa.
2>Lĩnh vực văn hóa – xã hội:
*Hợp tác giao lưu văn hóa:
- Các chương trình trao đổi phái đoàn văn hóa Nhật Bản - Hàn Quốc được tiến hành luân phiên ở hai nước với mục đích đẩy mạnh việc giao lưu văn hóa từ cấp nhà nước đến địa phương.
- Thêm vào đó, với mục đích thúc đẩy sự giao lưu quốc gia trên phạm vi rộng, hai nước đã cùng đăng cai tổ chức Cúp bóng đá thế giới 2002 và đây cũng là “Năm giao lưu quốc gia Nhật Bản - Hàn Quốc”. Kết quả là nhiều sự kiện văn hóa đã được hai nước tiến hành trong năm này.


Một điều đáng lưu ý là trào lưu hâm một mốt Hàn Quốc và việc học tiếng Hàn đã bùng nổ mạnh mẽ ở Nhật trong những năm gần đây. So với trước kia, đây thực sự là một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ hai nước.
*Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục:
- Thực hiện Chương trình trao đổi sinh viên đại học Nhật – Hàn năm 1972.
- Kèm theo các chương trình trao đổi học sinh, sinh viên, hai chính phủ còn xúc tiến chương trình tặng thiết bị nghe nhìn, khuyến khích học tiếng Nhật, tiếng Hàn, biên soạn tài liệu cho các cơ sở giáo dục, trao tặng phẩm cho các sinh viên đạt thành tích xuất sắc của hai nước.

- Sự kiện hợp tác giáo dục quan trọng hơn trong giai đoạn này là việc tiến hành trao đổi giảng dạy các ngành Nhật Bản học và Hàn Quốc học trong các trường đại học của hai nước..
3> Triển vọng phát triển quan hệ Nhật – Hàn trong tương lai:
- Quan hệ Nhật Bản - Hàn Quốc sau chiến tranh lạnh cũng như nhiều cặp quan hệ khác phát triển thăng trầm chịu ảnh hưởng của các nhân tố khách quan cũng như chủ quan. Tuy nhiên, có thể thấy là nhân tố lợi ích đang ngày càng có vai trò lấn át các nhân tố khác trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của mỗi nước.
- Gần nửa thế kỷ trôi qua, dù gặp phải không ít khó khăn, song cho đến nay có thể khẳng định rằng, quan hệ Nhật Bản - Hàn Quốc đã có những bước phát triển vững chắc và hai nước đang kỳ vọng vươn tới trở thành đối tác chiến lược trong tương lai.
a. Xét trên phương diện kịch bản thứ nhất quan hệ giữa hai nước sẽ đối địch với nhau khi những vấn đề về lịch sử và tranh chấp lãnh thổ không được giải quyết dứt điểm. Vấn đề này được ví như một bãi mìn nổ chậm. Khi bãi mìn này chưa được tháo ngòi, cắt dây cháy chậm thì những xung đột sẽ còn xẩy ra, thậm chí có thể ngày càng mạnh hơn. Lúc đó vì quyền lợi dân tộc của mình, chẳng bên nào chịu nhường bên nào thì kịch bản hai nước đối địch với nhau sẽ xẩy ra.

b. Về kịch bản thứ hai, quan hệ Nhật – Hàn ngày càng phát triển mạnh mẽ với các hình thức đa dạng, phong phú và phụ thuộc lẫn nhau. Đây là một kịch bản lạc quan nhất và cũng là mong muốn và hy vọng của cả hai nước. Cơ sở để đưa ra kịch bản này là dựa trên những thành quả mà hai bên đã tạo lập và xây dựng trong những năm gần đây.Tuy nhiên, chỉ có phụ thuộc lẫn nhau thôi thì chưa hẳn, quan hệ hai nước chắc sẽ vẫn còn những bất đồng tồn tại không thể giải quyết được ngay trong một sớm một chiều.

=> Vì vậy, có thể dự đoán thêm trong kịch bản này đó là quan hệ Nhật Bản Hàn Quốc sẽ là vừa phụ thuộc lẫn nhau nhưng cũng vừa là đối thủ cạnh tranh với nhau trong một giới hạn nhất định không để quan hệ bị đổ vỡ.
II/ Triều Tiên:
- Do thời gian bị chia cắt lâu, cho nên giữa 2 miền đã có khoảng cách trên nhiều khía cạnh. Đặc biệt, sự chênh lệch lớn về kinh tế giữa Hàn Quốc và Triều Tiên là vấn đề quan ngại lớn trong tiến trình hoà giải, thống nhất giữa 2 miền, đấy là chưa nói đến sự khác biệt về thể chế chính trị.
- Tiến trình hoà bình và hợp tác giữa 2 miền đã diễn ra với những thăng trầm.

Bên cạnh những hoạt động trao đổi về văn hoá và du lịch..., hai bên cũng tăng cường các hoạt động hợp tác kinh tế, như: dự án đầu tư nối lại tuyến đường sắt và đường bộ liên Triều, xây dựng Cụm Công nghiệp Gaeseong...
Chính phủ Hàn Quốc mong muốn tạo ra những phương thức để kích hoạt và bảo đảm trao đổi hàng hóa và con người liên Triều. Những biện pháp này bao gồm: đơn giản thủ tục hải quan, quá cảnh và một thỏa thuận về bảo đảm qua lại an toàn giữa hai miền Triều Tiên.
- Khu du lịch núi Geumgang (núi Kim Cương), là địa điểm mà 10 năm qua đón hàng triệu du khách và là nơi duy nhất của các buổi đoàn tụ gia đình ngắn ngủi giữa những người thân phải xa nhau do tình trạng chia cắt lãnh thổ
- Trước tình hình kinh tế khó khăn của Triều Tiên, Hàn Quốc đã tăng cường viện trợ phân bón, năng lượng, thuốc men, mì gói, quần áo... Triều Tiên còn đề nghị Hàn Quốc gửi bột mỳ, gạo và xi măng, nhưng kể từ sau vụ pháo kích ở Yeonpyeong (23-11- 2010), Hàn Quốc không muốn viện trợ các mặt hàng đó do lo sợ Triều Tiên sẽ dùng để nuôi quân đội thay vì cứu đói cho dân.
Kể từ Chính quyền cựu Tổng thống Kim Dae Jung với chính sách Ánh dương, và hiện nay là Chính sách Hòa bình và Thịnh vượng của Chính quyền Roh Moo-hyun, Hàn Quốc thực hiện đường hướng hoà giải, thống nhất từ từ, không nóng vội..
- Tuy nhiên sự việc không như mong đợi. Ngày 12/12/2013, vụ phóng thành công tên lửa vệ tinh của Triều Tiên là một hành động rõ ràng vi phạm các Nghị quyết Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (UN Security Resolutions) điều 1718 và 1874 về việc ngăn cấm bất kỳ một hành động phóng tên lửa nào sử dụng công nghệ tên lửa đạn đạo.
- Và mới đây nhất, Triều Tiên đã phóng khoảng 500 quả đạn pháo vào quanh khu vực Đường biên giới phía Bắc (NLL) ở biển Hoàng Hải từ 12h15 tới 15h30 ngày 31/3/2014, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hàn Quốc cho biết. Sau khi khoảng 100 quả pháo rơi xuống phía nam NLL, quân đội Hàn Quốc đáp trả bằng cách bắn khoảng 300 quả vào vùng biển Triều Tiên với pháo tự hành K-9 và triển khai các chiến đấu cơ F-15 gần hải giới, phía Seoul cho hay.
=> Chính phủ Hàn Quốc trong khi duy trì thái độ kiên quyết của mình đối với bất kỳ một sự đe dọa nào khởi phát bởi các vũ khí và tên lửa hạt nhân của Triều Tiên cũng như bất kể các hành động khiêu khích khác sẽ phối hợp làm việc chặt chẽ với các quốc gia quan tâm và toàn thể cộng đồng quốc tế và có các biện pháp đối phó tương ứng

II. Trung Quốc:
Thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 8/1992. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Hàn Quốc. Hàn Quốc coi trọng vai trò của Trung Quốc đối với khu vực, đặc biệt là trong việc giải quyết vấn đề Bán đảo Triều Tiên.
- Tháng 6 năm 2000, quan hệ Hàn –Trung căng thẳng do Hàn Quốc tăng thuế từ 30% lên 315% đối với hàng nông sản Trung Quốc nhập khẩu vào Hàn Quốc, cụ thể là mặt hàng tỏi nhằm bảo vệ nông dân trồng loại nông sản trong nước. Trung Quốc trả đũa bằng việc tạm ngừng nhập khẩu đối với hai mặt hàng Hàn Quốc là điện thoại di động và polyethylene.









Tháng 6 năm 2001, Hiệp định ngư nghiệp Hàn – Trung có hiệu lực.
Tháng  10 năm 2001, Tổng thống Kim Dae –jung thăm Trung Quốc, sau khi hội đàm với Chủ tịch Giang Trạch Dân, hai bên đã nhất trí xây dựng “Quan hệ hợp tác toàn diện”. Chủ tịch Giang Trạch Dân bày tỏ quan điểm ủng hộ tích cực việc cải thiện quan hệ Nam Bắc Hàn.
Tháng 7 năm 2003, Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun thăm Trung Quốc, sau khi hội đàm với Tổng bí thư Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, hai nước đã ký Tuyên bố “Quan hệ đối tác hợp tác toàn diện”.
=> Tính đến cuối năm 2003, Trung Quốc trở thành nước xuất khẩu lớn nhất của Hàn Quốc. Năm 2004, Trung Quốc trở thành đối tác ngoại thương lớn nhất của Hàn Quốc.
Tháng 11 năm 2005, Tổng bí thư Trung Quốc Hồ Cẩm Đào sang thăm thăm chính thức Hàn Quốc. Sau khi hội đàm với Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun, Tổng bí thư Trung Quốc một lần nữa bày tỏ quan điểm giải quyết một cách hòa bình vấn đề hạt nhân của Bắc Hàn.
Năm 2007, Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu lớn nhất của Hàn Quốc.
Tháng 6 năm 2010, Hàn Quốc nới lỏng quy định cấp thị thực cho công dân Trung Quốc.
Tháng 10 năm 2010: Công dân Trung Quốc cư trú tại Hàn Quốc vượt mốc 600 nghìn người.
=> Cuối năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc sang Trung Quốc đạt trên 100 triệu đô la Mỹ
 - Sự kiện ngày 12/12/2011 (vụ Thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc đâm chết cảnh sát Hàn Quốc khi bị bắt giữ trong lãnh hải Hàn Quốc ngày 12/12/2011) đã làm quan hệ hai nước xấu đi nghiêm trọng ngay trước thềm năm 2012, “Năm hữu nghị” kỷ niệm 20 năm ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao.
Trong 4 ngày, từ 27 đến 30/6/2013, Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye đã đến thăm Trung Quốc, mở ra chương mới cho quan hệ giữa hai cường quốc kinh tế châu  Á.
* Thúc đẩy đàm phán với Triều Tiên:
- Về vấn đề bán đảo Triều Tiên, hai bên đều nhất trí thực hiện phi hạt nhân hóa bán đảo này. Phía Trung Quốc khẳng định phản đối bất kỳ bên nào có hành vi phá hoại hòa bình ổn định khu vực này, đồng thời hai bên thúc đẩy “tăng thêm niềm tin” với nhau.
- Tổng thống Hàn Quốc cho biết: “Hai nhà lãnh đạo đã chia sẻ quan điểm chung về vấn đề phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên, duy trì hòa bình và an ninh trên Bán đảo Triều Tiên đồng thời giải quyết các vấn đề thông qua đối thoại và đàm phán”.
Tuy nhiên gần đây, các tranh chấp chủ quyền song phương lại gia tăng sau khi Trung Quốc đơn phương tuyên bố thiết lập ADIZ trên Biển Hoa Đông và yêu cầu các máy bay nước ngoài phải cung cấp nhận dạng khi bay qua khu vực. ADIZ mới của Trung Quốc - bao gồm cả một số khu vực mà Hàn Quốc và Nhật Bản đang kiểm soát - đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của Seoul, Tokyo và Washington.


B. QUAN HỆ CỦA HÀN QUỐC VỚI CÁC NƯỚC LỚN (MỸ, NGA) VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU:
I/ Liên minh châu Âu:
- EU và Hàn Quốc là đối tác thương mại quan trọng. Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ mười của EU, và EU là thị trường xuất khẩu thứ tư của Hàn Quốc (sau Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ).Hai bên đã ký một thỏa thuận thương mại tự do có hiệu lực vào cuối năm 2011.

Sau khi làm chậm lại trong năm 2009 do khủng hoảng tài chính, dòng thương mại giữa EU và Hàn Quốc bắt đầu tăng trở lại trong năm 2010. Năm 2011 Hàn Quốc đạt điểm chuẩn quan trọng của 1000000000000 $ tổng thương mại nước ngoài (gần 100% GDP của Hàn Quốc).

Thương mại giữa EU và Hàn Quốc bị chi phối bởi quyền lực / không điện, máy móc, hóa chất, thiết bị vận tải, thiết bị quang học và hình ảnh và kim loại cơ bản. EU ghi thặng dư đáng kể trong thương mại dịch vụ với Hàn Quốc. EU cung cấp cho Hàn Quốc các dịch vụ chuyên ngành trong các lĩnh vực như ngân hàng, dịch vụ tài chính và kế toán.


Một Hiệp định khung giữa EU và Hàn Quốc đã được ký kết vào ngày 10 Tháng Năm 2010. Nó cung cấp một cơ sở cho hợp tác tăng cường, bao gồm các vấn đề chính trị và toàn cầu lớn như nhân quyền, không phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống khủng bố, cũng như thay đổi khí hậu và an ninh năng lượng
Ảnh hưởng của FTA
Sau khi có hiệu lực của FTA trong tháng 7 năm 2011, xuất khẩu của EU sang Hàn Quốc các sản phẩm tự do hóa hoàn toàn kể từ khi có hiệu lực của thỏa thuận đã tăng hơn các sản phẩm khác. Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này, đại diện cho 35% xuất khẩu của EU sang Hàn Quốc, tăng 32% (3,0 tỷ €) giữa tháng 7 năm 2011 và tháng 6 năm 2012, so với cùng kỳ mười hai tháng trước. Bằng cách so sánh, xuất khẩu các sản phẩm tự do hóa hoàn toàn cùng với thế giới đã tăng 10%.

Đối với sản phẩm phần tự do hóa, đại diện cho 43% xuất khẩu của EU sang Hàn Quốc, sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu là 10% tương đương 1,4 tỷ €.

So sánh tốc độ tăng trưởng của sản phẩm tự do hóa hoàn toàn sang Hàn Quốc với tốc độ tăng trưởng "bình thường" của sản phẩm cùng với phần còn lại của thế giới, sự khác biệt giữa tốc độ tăng trưởng chuyển thành gần 1 tỷ € thêm xuất khẩu
II. Quan hệ Hàn Quốc – Nga
Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đến thăm Seoul vào tháng Hai năm 2001, trong khi Tổng thống Hàn Quốc Roh Muhyeon thăm Moscow vào tháng 9 năm 2004
Hàn Quốc và Nga là những nước tham gia trong các cuộc đàm phán sáu bên về vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên.
Trong tháng 11 năm 2013 giữa Nga và Hàn Quốc ký Hiệp định chế độ miễn thị thực du lịch.


Hàn Quốc và Nga sẽ cùng hợp tác xây dựng một khu công nghiệp song phương trong khu vực kinh tế tự do Nakhodka ở vùng Viễn Đông và khí lĩnh vực phát triển của Nga tại Irkutsk. Hai bên cũng nhất trí hợp tác về kết nối lại một kế hoạch đường sắt liên Triều Tiên với Trans-Siberian Đường sắt. Nga đã bày tỏ sự quan tâm trong việc trở thành một cầu nối cho hàng xuất khẩu của Hàn Quốc sang châu Âu, mà bây giờ đi bằng tàu, bằng cách liên kết đường sắt Hàn Quốc với TSR.

Hàn Quốc hiện đang lựa chọn phi hành gia đầu tiên của mình, dự kiến ​​sẽ lên một chuyến bay Soyuz lên Trạm vũ trụ quốc tế vào tháng Tư năm 2008. Hàn Quốc dự kiến ​​ra mắt trong nước đầu tiên của một vệ tinh trong năm 2008, với sự hỗ trợ của Nga. Viện hàng không vũ trụ đang chi khoảng 20 tỷ vào các dự án du hành vũ trụ, bao gồm cả phí Nga
III/Quan hệ Hoa Kì – Hàn Quốc
Lĩnh vực chính trị, an ninh – quân sự
Lĩnh vực chính trị
Trong cuộc hội đàm với Tổng thống G. Bush ngày 7 tháng 3, ngoài các vấn đề chung, hai nhà lãnh đạo còn trao đổi về vấn đề Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc kêu gọi Tổng thống Bush ủng hộ Chính sách Ánh dương về việc hòa giải dân tộc. Tổng thống Bush đã ca ngợi chính sách mở cửa đối thoại với Bình Nhưỡng của Tổng thống Kim, khẳng định mối quan hệ an ninh Hoa Kỳ - Hàn Quốc và đối thoại ba bên là Hoa Kỳ - Nhật – Hàn trong tiến trình phối hợp chính sách với Bắc Triều Tiên.

Vấn đề được quan tâm hàng đầu là vấn đề Bắc Triều Tiên, hai bên kêu gọi miền Bắc ngưng cung cấp tên lửa và vũ khí hủy diệt hàng loạt cho khu vực Trung Đông, Hàn Quốc kêu gọi Hoa Kỳ giảm áp lực với Bắc Triều Tiên sau khi Tổng thống Bush đưa nước này vào danh sách trục ma quỷ và đối thoại mọi lúc, mọi nơi với Bắc Triều Tiên.
Từ 11 đến 17 tháng 5 năm 2003, Tổng thống Roh Moo-hyun thăm Hoa Kỳ. Kết thúc chuyến thăm, hai bên đã đưa ra tuyên bố chung, đồng ý củng cố, bố trí lại các căn cứ quân sự tại Hàn Quốc, đưa ra các biện pháp để giải quyết vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên.

Từ năm 2006 trở về sau, lãnh đạo hai nhà nước tiếp tục tiến hành nhiều cuộc thăm viếng lẫn nhau. Đặc biệt là chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng thống Lee Myung-bak vào tháng 4 năm 2008; chuyến thăm Hàn Quốc của Tổng thống B. Obama vào tháng 11 năm 2009, những chuyến thăm này đã phản ánh đúng thực chất mối quan hệ hữu nghị của hai nước. Tại các cuộc hội đàm với Tổng thống Lee Myung-bak, hai bên đã thảo luận vấn mở rộng quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa hai nuớc, phát triển hơn nữa một liên minh huớng tới tương lai.
b. Lĩnh vực an ninh – quân sự
Sau sự kiện 11/9, Hoa Kỳ đã giảm quân tại Hàn Quốc và trước năm 2011, Hoa Kỳ sẽ trả 34 căn cứ quân sự cho phía Hàn Quốc. Một thỏa thuận năm 2002 do hai bên ký kết đã bố trí lại lực lượng Hoa Kỳ thành ít căn cứ hơn, nhưng là những căn cứ lớn. Những căn cứ trước đây co cụm ở gần biên giới CHDCND Triều Tiên bị đóng cửa, những căn cứ ở sâu hơn về phía Nam bán đảo Triều Tiên lại được mở rộng. Nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường cũng đã được chuyển giao cho quân đội Hàn Quốc.

Khi hoàn tất việc bố trí lại lực lượng quân đội, 59 khu căn cứ quân sự tương đương với khoảng 2/3 đất dành cho quân đội Hoa Kỳ theo Hiệp định Quy chế các lực lượng quân sự sẽ trả lại cho Hàn Quốc.
- Tiếp đến Hoa Kỳ sẽ chuyển giao cho Hàn Quốc kiểm soát các lực lượng quân sự của Hàn Quốc trên bán đảo Triều Tiên, hành động này của Hoa Kỳ chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc giảm bớt phong trào chống Hoa Kỳ của giới trẻ Hàn Quốc và cải thiện quan hệ với miền Bắc.

Một hoạt động diễn ra trong quan hệ an ninh – quân sự là tập trận chung, Hoa Kỳ và Hàn Quốc thường tổ chức tập trận chung, các hoạt động này được diễn ra tại nhiều địa điểm của Hàn Quốc nhằm mục đích đối phó với các tình huống khẩn cấp có thể xảy ra trên bán đảo, binh lính Hoa Kỳ và Hàn Quốc đều được huy động tham gia vào sự kiện này.

C. QUAN HỆ HÀN QUỐC – VIỆT NAM:
Quan hệ chính trị - an ninh – quốc phòng


Tháng 8/2001 Hàn Quốc và Việt Nam đã ra tuyên bố chung thiết lập “Quan hệ đối tác toàn diện trong thế kỉ XXI”.

2001, chủ tịch nước Trần Đức Lương đến thăm Hàn Quốc.

8-11/4/2002, Thủ tướng Hàn Quốc Ly Han Dong đến thăm chính thức Việt Nam.

Thủ tướng Phan Văn Khải sang thăm chính thức hàn quốc theo lời mời của thủ tướng Hàn Quốc Goh Kun từ ngày 15 đến 19/9/2003.
30/9 – 4/10/2003, Đoàn đại biểu Quốc hội Hàn Quốc do ông Pắc Quan Yêng, Chủ tịch Quốc hội dẫn đầu sang thăm Việt Nam.

21/7/2004, đoàn đại biểu quốc hội nước ta do Chủ tịch Nguyễn Văn An dẫn đầu đã tới Seoul

9/12/2004, tổng thống Roh Moo Hyn đến thăm Việt Nam
14/11/2007, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh lên đường thăm chính thức Hàn Quốc.

Chuyến thăm Hàn Quốc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 31/5/2009 là một sự kiện quan trọng trong qua hệ hai nước.

20-22/10/2009, Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Bak và phu nhân đã thăm chính thức Việt Nam.

14-18/11/2009, Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc Kim Hyong O thăm chính thức Việt Nam.

10/2009, hai vị lãnh đạo cao cấp của 2 nước đã kí “Tuyên bố chung nâng cấp mối quan hệ lên đối tác hợp tác chiến lược”
2. Quan hệ kinh tế
a. Quan hệ thương mại
Đặc điểm đặc trưng nhất trong quan hệ thương mại Hàn Quốc – Việt Nam là kim ngạch trao đổi gia tăng liên tục và Việt Nam luôn ở trong tình trạng nhập siêu.

Hàn Quốc là đối tác thương mại lớn thứ 6 của Việt Nam, chỉ sau Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan và Mỹ.
Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc: thủy hải sản, dầu thô, than đá, máy móc thiết bị điện tử và phụ tùng giày dép…..

Các mặt hàng nhập khẩu từ Hàn Quốc của Việt Nam: xăng dầu, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị điện và phụ kiện…

 Việc nhập siêu từ Hàn Quốc được đánh giá là mang tính tích cực, phản ánh sự gia tăng đầu tư vào Việt Nam của Hàn Quốc
b. Quan hệ đầu tư
Năm 2001, hàn Quốc đứng thứ 4 trong số các nước có vốn đầu tư ở Việt Nam với số vốn lên đến 3.2 tỉ đồng.

Hầu hết là các dự án lớn, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp như điện tử, thép, xây dựng đô thị mới, văn phòng và khách sạn.

Việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO cùng với việc Hiệp định thương mại tự do giữa hàn Quốc và ASEAN có hiệu lực từ tháng 6/2007 đã giúp Việt Nam trở thành một thị trường quan trọng đối với các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và các tập đoàn kinh tế Hàn Quốc nói riêng.
Những tác động tích cực của FDI và Hàn Quốc đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam là rất rõ ràng, góp phần tăng tổng vốn đầu tư xã hội, tăng cường chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, tạo ra của cải xã hội, góp vào ngân sách của chính phủ Việt Nam.

Về viện trợ ODA, Việt Nam vẫn là một ưu tiên của Hàn Quốc. Đầu tháng 8/2008, hai bên kí thỏa thuận chung về việc Hàn Quốc cung cấp 1 tỉ USD vốn vay ưu đãi EDCF trong giai đoạn 2008 – 2011. Với cam kết này, Hàn Quốc trở thành nhà tài trợ song phương lớn thứ 2 tại Việt Nam (chỉ sau Pháp) và Việt Nam là nước nhận hỗ trợ phát triển nhiều nhất của Hàn Quốc
3. Quan hệ văn hóa – khoa học
- Trao đổi văn hóa giáo dục Việt Nam – hàn Quốc diễn ra sôi nổi liên tục với nhiều thỏa thuận hợp tác giao lưu văn hóa, nghệ thuật, triễn lãm, điện ảnh công diễn… Các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa hai nước thường xuyên diễn ra như các cuộc lưu diễn của các đoàn nghệ thuật hàn Quốc tại Việt Nam và ngược lại, những tác phẩm văn hóa của các nghệ sĩ Việt Bam đã được trưng bày trong các cuộc triễn lãm tại hàn Quốc.

11/2006, Hàn Quốc đã thành lập trung tâm văn hóa Hàn Quốc đầu tiên tại khu vực Đông Nam Á, đặt tại Hà Nội.

Bộ giáo dục Việt Nam đã chon Hàn Quốc làm đối tác chiến lược thông tin trong giáo dục - đào tạo
Các quỹ học bổng như Korea Foundation, Samsung, Kumho… cung cấp nhiều suất học bổng để hỗ trợ các học sinh vượt khó tại Việt Nam, đào tạo nâng cao trình độ về ngôn ngữ và chuyên môn tại Hàn Quốc.

Hàn Quốc và Việt Nam đã kí kết những Hiệp định như: Hiệp định hợp tác giáo dục và đào tạo ngày 31/5/2005/

Chính phủ Hàn Quốc cũng đã hỗ trợ cho Việt Nam một số cơ sở vật chất quan trọng
Hàn quốc cũng hỗ trợ xây dựng 40 trường tiểu học ở Việt nam.

Hai bên thỏa thuận tập trung thúc đẩy việc chia sẻ và hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ thông tin và tin học hóa, phát thanh truyền hình và phát triển nhân lực trong lĩnh vực thông tin truyền thống.
Tổng kết:
Thế giới đang bước vào một giai đoạn cực kỳ sôi động, đầy cơ hội, song cũng đầy sự thách thức. Các quá trình liên kết và hợp tác đa phương, song phương của các nước, các tổ chức trong khu vực cũng đang mở ra, với sự đa dạng về hình thức và tốc độ rất cao. Đây là một trong những cơ hội phát triển đang đặt ra trước mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế.
Hàn Quốc đang bước vào một nhịp chuyển động mới, với những động lực mới cực kỳ mạnh mẽ, vì vậy quan hệ hợp tác song phương là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong phát triển kinh tế, trong thời đại mà kinh tế là yếu tố có ý nghĩa quyết định tới mọi mối quan hệ quốc tế.
 
Gửi ý kiến