Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ năm 2000 đến nay

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Minh Kha
Ngày gửi: 22h:17' 27-06-2015
Dung lượng: 10.1 MB
Số lượt tải: 107
Số lượt thích: 0 người
Chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ năm 2000 đến nay
Danh sách thành viên nhóm 5:
Nguyễn Trọng Nghĩa (K38.608.089)
Đặng Nhật Cường (K38.608.048)
Trương Minh Trí (K38.608.038)
Trần Văn Phái (K38.608.101)
Mục lục :
I. Tổng quan chính sách đối ngoại Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến hết chiến tranh lạnh:
II. Chính sách đối ngoại Nhật Bản từ năm 2000 đến nay:
1) Giải quyết các vấn đề toàn cầu:
a) Giải quyết xung đột tại châu phi.
b) Vấn đề Trung Đông.
c) Vấn đề biến đổi khí hậu.
2) Hợp tác với các nước đang phát triển và các nước đang trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế:
a) Quan hệ với các nước ASEAN.
b) Quan hệ Nhật Bản – EU.
c) Quan hệ Nhật Bản – Nga.
d) Quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc.
3) Củng cố quan hệ Nhật - Mỹ :
III. Các công cụ để Nhật Bản thưc hiện chính sách ngoại giao của mình :
1) Ngoại giao văn hóa
2) Ngoại giao công chúng
3) Chính sách ngoại giao kinh tế:
IV. Tổng kết :


I. Tổng quan chính sách đối ngoại Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới 2 đến hết chiến tranh lạnh
Từ sau chiến tranh Thế giới thứ II, Nhật bản đã tiến hành những chính sách ngoại giao tương đối năng động, khôn khéo và thận trọng. Cùng với sự phát triển thành công về kinh tế, chính sách đối ngoại đã góp phần đáng kể nâng cao vị trí của Nhật bản trong khu vực cũng như trên trường quốc tế.

Sau chiến tranh thế giới thứ II, chính sách đối ngoại của Nhật Bản được bắt đầu với Học thuyết Yoshida theo đó Nhật Bản dựa hoàn toàn vào Hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ để phòng thủ đất nước và tập trung sức phát triển kinh tế.
Chính sách đối ngoại của Nhật Bản giai đoạn thập kỷ 60 được đặc trưng bởi chính sách ngoại giao kinh tế nhằm phục vụ cho nhu cầu đuổi kịp và vượt các nước phát triển khác. Mục tiêu này đã đạt được vào cuối những năm 60 khi Nhật Bản trở thành cường quốc thứ hai về kinh tế trong hệ thống tư bản chủ nghĩa.
Đầu thập kỷ 70, tình hình quốc tế có những thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ vừa tạo điều kiện vừa thúc đẩy Nhật bản đóng một vai trò quốc tế quan trọng hơn. Trong bối cảnh đó, học thuyết Fukuda ra đời năm 1977 đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong chính sách đối ngoại của Nhật, trước hết là đối với khu vực Đông Nam

Chính sách đối ngoại của Nhật trong thập kỷ 80 tiếp tục mang tính chủ động hơn, nhất là dưới thời kỳ Thủ tướng Nakasone nắm quyền. Từ năm 1985, với việc nâng giá đồng yên, Nhật bản tăng cường ảnh hưởng kinh tế trong khu vực châu Á với mô hình đàn sếu bay với ý đồ trở thành đầu tầu cho sự phát triển kinh tế ở đây.
Chính sách đối ngoại của Nhật trong thập kỷ 90 được đặc trưng bởi việc củng cố quan hệ với Mỹ qua việc ký Tuyên bố chung về “An ninh Nhật-Mỹ trong thế kỷ 21” năm 1996 và đưa ra Phương châm phòng thủ mới Nhật-Mỹ vào năm 1997.
II. Chính sách đối ngoại Nhật Bản từ năm 2000 đến nay:

Chiến tranh Lạnh kết thúc đã tạo ra một diện mạo mới cho các quan hệ quốc tế, ở đó tồn tại nhiều xu hướng mang tính đa dạng, phụ thuộc lẫn nhau, bổ sung cho nhau và thậm chí đối lập và loại trừ nhau. Đặc biệt là các xu hướng đó được thể hiện rõ nét trong các quan hệ song phương và đa phương; trong các quan hệ kinh tế, chính trị và an ninh quốc tế. Tuy nhiên cơ sở của những xu hướng này không phải là tình hình căng thẳng nảy sinh từ sự đối đầu của hai hệ thống như thời kỳ trước những năm 90; nói cách khác chính sự chuyển dịch của thế giới “hai cực” đối lập sang một thế giới đa cực mang tính chất cạnh tranh và hợp tác đã tạo ra một môi trường quốc tế mới ẩn chứa nhiều những cơ hội và không ít những thách thức.
Nhật Bản là một trong số không nhiều các quốc gia thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của họ nhằm thích nghi với sự biến đổi của tình hình quốc tế sau Chiến tranh Lạnh 

Bước vào thế kỷ 21, với những diễn biến phức tạp của cuộc chiến tranh chống khủng bố và tình hình vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên, Tranh chấp chủ quyền biển đảo, Nhật Bản đã định hình lại chính sách đối ngoại của Mình. tiếp tục chính sách ủng hộ mạnh mẽ Mỹ và tăng cường khả năng tự vệ của mình. Trong giai đoạn này,Nhật Bản bước vào thời điểm bước ngoặt điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tăng cường tính độc lập, chủ động và tích cực hơn nhằm vươn lên thành cường quốc chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế, phát huy vai trò, và ảnh hưởng trên thế giới và Châu Á - Thái Bình Dương. Theo đó, chính sách đối ngoại được triển khai theo các hướng chính là:

+ Giải quyết các vấn đề toàn cầu
+ Tăng cường và coi trọng quan hệ với các nước láng giềng
+ Tăng cường ngoại giao kinh tế
+ Củng cố quan hệ liên minh Mỹ-Nhật
1) Giải quyết các vấn đề toàn cầu:
a) Giải quyết xung đột tại châu phi:


Ngày 26/10, Ngoại trưởng Nhật Bản Katsuya Okada khẳng định Nhật Bản sẽ đóng vai trò tích cực hơn trong việc giải quyết xung đột ở các nước châu Phi như Sudan và Somalia thông qua các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và các phương tiện khác.

Phát biểu trong cuộc gặp đại sứ các nước châu Phi, Ngoại trưởng Okada cho biết chính phủ của Thủ tướng Yukio Hatoyama sẽ thực hiện cam kết mà chính phủ tiền nhiệm đã đưa ra năm ngoái là tăng gấp đôi viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản và tăng vốn đầu tư của khu vực tư nhân vào các nước châu Phi vào năm 2012.





Ngoại trưởng Okada cũng cho biết ông đã yêu cầu Bộ Ngoại giao Nhật Bản nghiên cứu các biện pháp để Nhật Bản có thể đóng vai trò tích cực hơn trong các hoạt động gìn giữ hòa bình, như giảm bớt các thủ tục pháp lý đối với các hoạt động này. 

Nhật Bản sẽ tăng cường hợp tác với Liên minh châu Phi (AU) trong nỗ lực giải quyết các cuộc xung đột ở châu lục này.

Về phần mình, thay mặt các phái đoàn ngoại giao của các nước châu Phi ở Tokyo, Đại sứ Gabon tại Nhật Bản Jean Christian Obame bày tỏ hài lòng về chính sách của Chính phủ mới ở Nhật Bản đối với các nước châu Phi.
Để giải quyết các cuộc xung đột ở châu phi, Nhật Bản đã cung cấp một loạt các hỗ trợ như:
1/ Hỗ trợ tài chính cho quá trình hòa bình và nỗ lực xây dựng lại;
2/ Đóng góp nhân viên cho POK
3/ Đóng góp chính trị, chẳng hạn như kêu gọi giải quyết hòa bình các cuộc xung đột;
4/ Đóng góp trí tuệ, bao gồm hội nghị chuyên đề về phòng, chống xung đột và giải quyết hậu quả chiến tranh
5/ Hỗ trợ người tị nạn
6/ Hỗ trợ trong việc phát triển các hệ thống ngăn ngừa xung đột và giải quyết ,quy định về các dòng vũ khí, bao gồm cả vũ khí hạng nhẹ
7/ Hỗ trợ khai thác khoáng sản và hỗ trợ cho các nạn nhân bom mìn.

b) Vấn đề Trung Đông:


Trung Đông là địa bàn chiến lược của các nước lớn do sự chi phối về các lợi ích chính trị – an ninh, đặc biệt là lợi ích kinh tế vì nguồn cung ứng dầu mỏ, do vậy quan hệ quốc tế nói chung, quan hệ của các nước lớn với khu vực này nói riêng luôn là điểm nhấn khi người ta nói về khu vực này, Trung Đông trong thế khỉ 21 ngày càng nóng bỏng với sự thay đổi to lớn về tình hình quốc tế, Sau vụ khủng bố 11-9, Trung đông đã trở thành điểm nóng xung đột trên thế giới, Mỹ tấn công Irag, lật đổ chính quyền Taliban tại Afganistan. Chủ nghĩa khủng bố trỗi dậy, tiêu biểu là tổ chức Al Queda do Osama Binladen đứng đầu.
Nhận thức rằng vấn đề hòa bình Trung Đông liên quan trực tiếp với hòa bình và ổn định không chỉ của Trung Đôngmà là toàn thế giới, Nhật Bản đã có thực hiện các biện pháp quan trọng về kinh tế và chính trị để giúp trung đông duy trì hòa bình. Ở Kyushu-Okinawa Hội nghị thượng đỉnh G8 vào tháng Bảy năm 2000, Nhật Bản và các thành viên G8 khác đã ban hành một tuyên bố hỗ trợ cho hòa bình Trung Đông. Sau đó, Thủ tướng Chính phủ Nhật Bản đã có các cuộc đàm phán trực tiếp với Chủ tịch Arafat trong chuyến thăm của Chủ tịch Nhật Bản trong tháng Tám và cũng với Thủ tướng Chính phủ Barak tại New York vào tháng Chín, đôn đốc các nỗ lực đàm phán dai dẳng nhằm đạt được một nền hòa bình ổn định. Đối với các vụ đụng độ giữa Israel và Palestine, Nhật Bản đã thực hiện các cuộc nói chuyện qua điện thoại giữa các Bộ trưởng Ngoại giao Kono và Bộ trưởng Ngoại giao Israel Schlomo Ben Ami và với Palestine làBộ trưởng Bộ Kế hoạch và Hợp tác quốc tế Nabeel Shaath nhằm đôn đốc các bên liên quan để chấm dứt bạo lực và đàm phán hòa bình

Nhật Bản đã cung cấp cho người Palestine với tổng số tiền khoảng 580 triệu USD viện trợ từ năm 1993. Điều này bao gồm hơn 4,3 triệu USD đóng góp cho người Palestine trong viện trợ y tế khẩn cấp và viện trợ khác để giảm bớt những khó khăn mà người Palestine đang phải đối mặt và được gây ra bởi các vụ đụng độ giữa người Israel và người Palestine. Từ năm 1996, Nhật Bản cũng đã được cử nhân viên quan sát quân Liên hợp quốc (UNDOF) trong Cao nguyên Golan. Ngoài ra, Nhật Bản đã tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán đa phương trong các lĩnh vực như du lịch, tài nguyên nước và môi trường,
c. Vấn đề biến đổi khí hậu :

Trong cuộc gặp gỡ tháng 11 năm 2007 tại Washington D.C., Thủ tướng Nhật Bản Yasuo Fukuda và Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush nhấn mạnh về sự hợp tác tiếp tục giữa hai nước về vấn đề biến đổi khí hậu, phát triển sạch và an ninh năng lượng. Theo đó hai bên đã cùng đưa ra các cam kết:

+ Quyết không để Hiệp định khung về vấn đề biến đổi khí hậu .Bali sụp đổ và cùng lập nên một "Lộ trình Bali " nhằm tạo một sức nặng cần thiết cho các cuộc hội đàm để thông qua một Hiệp định hoàn chỉnh vào 2012.

+ Liên quan đến Hội nghị thượng đỉnh G8 sẽ được tổ chức ở Toyako, Hokkaido sắp tới, hai nước cam kết lẫn nhau về việc thỏa mãn các sẽ tiếp tục hợp tác để có bước tiến rõ ràng hơn cho một Hiệp định khung nhận nhiều sự đồng thuận vào năm 2012.

+ Lập một chương trình riêng trong Hội nghị thượng đỉnh G8 nhằm xác định các đóng góp cụ thể cho công tác bảo vệ môi trường của từng nước trước 2012 và cùng theo đuổi một thỏa ước trong đó cho phép dung hoà giữa các cam kết môi trường đi kèm một nền kinh tế phát triển bền vững.
+ Cùng tập trung vào các thảo luận để có một nền kinh tế bền vững dựa trên các tiêu chuẩn môi trường toàn cầu.

+ Một mục tiêu dài hạn cho công tác cắt giảm khí gây hiệu ứng nhà kính đi cùng với mục tiêu phát triển kinh tế.

+ Các chương trình quốc gia cho phép xác định các mục tiêu trung hạn để hỗ trợ cho mục tiêu toàn cầu kèm với các công cụ chính sách thích hợp nhằm theo dõi tiến trình bảo vệ môi trường một cách hiệu quả nhất.

+Tiến hành các dự án hợp tác phát triển công nghệ và triển khai các chiến lược trong các lãnh vực chủ chốt gồm nhà máy phát điện có hàm lượng khí cacbon thải thấp.

+Có biện pháp cơ cấu các khoản tài chính cho mục tiêu hỗ trợ phát triển công nghệ sạch đi kèm với các chính sách thích hợp kích thích tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa dịch vụ từ công nghệ sạch.

+Nhanh chóng cải cách các chính sách theo dõi tiến trình bảo vệ môi trường hiện tại để các nước thành viên Liên hiệp quốc đều có thể cùng áp dụng tham gia.
2) Hợp tác với các nước đang phát triển và các nước đang trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế :
a) Quan hệ với các nước ASEAN :
Một khu vực quan trọng trong ngoại giao châu Á của Nhật Bản là khu vực ASEAN. Nhật Bản hiểu rõ  ASEAN chính là trung tâm của sự liên kết châu Á và sự thịnh vượng của ASEAN gắn với sự ổn định và phát triển của khu vực Đông Á, Nhật Bản đã chủ động thể hiện sự đóng góp cho việc tăng cường tính liên kết khu vực, cũng như giúp xóa bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước trong khu vực này. Quan điểm này đã được các nhà lãnh đạo Nhật Bản thể hiện trong hội nghị thượng định Nhật Bản - ASEAN được tổ chức cùng thời gian. Tháng 11-2009, Hội nghị thượng đỉnh Nhật Bản - các nước tiểu vùng sông Mê-kông được tổ chức lần đầu tiên tại Tokyo. Tại đây, sáng kiến liên quan đến vấn đề môi trường - biến đổi khí hậu và phát triển đã được đưa ra với mục đích giảm bớt sự khác biệt trong khu vực, thúc đẩy sự hình thành cộng đồng ASEAN.
Ngoài ra, về hợp tác kinh tế, khung hiệp định khu vực mậu dịch tự do (FTA) mà ASEAN làm trung tâm đang từng bước được xây dựng. Năm 2008, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Nhật Bản - ASEAN đã được ký kết, mở ra một sự liên kết kinh tế đa phương. Bên cạnh đó, ý tưởng xây dựng khu vực mậu dịch tự do Đông Á (EAFTA) từ các nước ASEAN+3, ý tưởng thành lập khối liên kết kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA) từ ASEAN+6 (EAS), chuyển từ giai đoạn nghiên cứu ý tưởng cá nhân sang giai đoạn kiểm định ở cấp chính phủ, đã được thông qua vào Hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa qua.
Tháng 11-2009, Hội nghị thượng đỉnh APEC lần thứ 17 được tổ chức tại Singapor. Tuyên bố chung cấp thượng đỉnh về “Mô hình phát triển mới vì một châu Á - Thái Bình Dương gắn kết trong thế kỷ 21” đã được thông qua, trong đó các nước tham gia Hội nghị đều thống nhất về mục tiêu phục hồi kinh tế trong dài hạn thông qua tăng trưởng liên tục, bền vững và cân bằng giữa các nền kinh tế. Hội nghị cũng thống nhất việc cần phải tìm kiếm một lộ trình có tính khả thi nhằm hình thành khu vực thương mại tự do Châu Á - Thái Bình Dương (FTAAP).
Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Nhật Bản lần thứ 15
b) Quan hệ Nhật Bản – EU :


Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU) trong thập niên đầu thế kỷ 21 là chặng đường tiến triển tốt đẹp, kế thừa kết quả của giai đoạn trước đó.
Có thể thấy, từ sau chiến tranh lạnh, tình hình chính trị thế giới có những thay đổi đáng kể, thay vì quan hệ đối đầu, xu hướng đối thoại và hợp tác đã  diễn ra mạnh mẽ giữa các thành viên trong cộng đồng quốc tế.
Ngày 8-12-2001, Kế hoạch hành động giữa Nhật Bản và EU đã được ký kết tại Brussels, tăng cường sự hợp tác của hai bên trong lĩnh vực chính trị như: giải trừ quân bị, chống chiến tranh - chia rẽ sắc tộc, xây dựng hòa bình và các vấn để về nhân quyền, dân chủ… Đến năm 2011, Kế hoạch hành động này sẽ hết hiệu lực, tuy nhiên, hai bên đang bàn bạc để tiến tới ký kết một văn bản mới.
Hiện nay, Nhật Bản và EU đang thực hiện những cơ chế đối thoại chủ yếu sau: Hội nghị thượng đỉnh Nhật Bản - EU (tổ chức hàng năm giữa Thủ tướng Nhật Bản và Chủ tịch Ủy ban châu Âu từ năm 1991); Hội nghị Ngoại trưởng Nhật Bản - EU Troica họp 2 lần/năm; Hội nghị chính trị cấp cao Nhật Bản - EU Troica họp 2 lần/năm
Một trong những mối quan tâm lớn của Nhật Bản và EU hiện nay là hợp tác phát triển giữa hai lục địa Á - Âu. Nhật Bản đã trợ giúp tái thiết đất nước cho Nam Tư cũ (chi viện  800 triệu USD cho Bosnia, Herzegovina), và chi viện 200 triệu USD cho Kosovo và các nước lân cận. Ngược lại, EU cũng giúp đỡ Nhật Bản trong vấn đề phòng chống vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên
Trong lĩnh vực an ninh, Nhật Bản còn hợp tác với châu Âu thông qua Cơ cấu hiệp ước Bắc Đại tây dương (NATO), Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE) và Hội đồng châu Âu (CE). Tháng 12-2007, Thủ tướng Fukuda đã cùng với Tổng thư ký NATO Jaap de Hop Scheffer tuyên bố về việc Nhật Bản và NATO cùng có trách nhiệm trong việc giải quyết các vấn đề an ninh quốc tế, và Nhật Bản tiếp tục hợp tác với NATO với tư cách là một đối tác trong việc giải quyết các vấn đề trên
Về kinh tế, hiện nay EU là đối tác thương mại lớn thứ 4, chiếm 11,7% tổng giá trị ngoại thương của Nhật Bản, sau Trung Quốc, Mỹ và ASEAN; Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ 5 của EU, sau Trung Quốc, Mỹ, Nga, Switzerland, chiếm 5,2% tổng giá trị thương mại của EU.  
c) Quan hệ giữa Nhật Bản – Nga:
Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Nhật Bản và Nga là mối quan hệ “dích dắc”, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm trong lịch sử. Sau chiến tranh lạnh, cùng với sự đối đầu Xô - Mỹ kết thúc, quan hệ Nhật Bản và Nga cũng được cải thiện dần dần. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất giữa hai nước hiện nay là việc tranh chấp chủ quyền 4 hòn đảo cực nam của quần đảo Kuril (tiếng Nhật gọi là Chishima) kéo dài hơn 60 năm qua, lý do chính khiến Nhật Bản và Nga vẫn chưa ký kết được hiệp ước hòa bình kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Mặc dù vấn đề giải quyết tranh chấp lãnh thổ được ưu tiên hàng đầu trong các chính sách đối ngoại với nước Nga, nhưng từ giữa thập niên 1990, chính phủ Nhật Bản cũng ý thức được rằng nếu cứ kiên trì đường lối cứng rắn đối với vấn đề này thì quan hệ Nhật - Nga sẽ khó phát triển. Chính phủ Nhật đã đưa ra một nguyên tắc mới nhằm tháo gỡ cho bước phát triển quan hệ giữa hai nước là “tiếp xúc nhiều tầng”, với ý nghĩa không để cho quan hệ Nhật - Nga bị ảnh hưởng quá mức vào quá trình đàm phán lãnh thổ, mà thúc đẩy hợp tác trên nhiều lĩnh vực như: xúc tiến đối thoại cấp cao, hợp tác giúp đỡ Nga trong vấn đề cải cách kinh tế, tăng cường trao đổi hợp tác vùng Viễn Đông Nga, triển khai đối thoại về an ninh khu vực, đối thoại trong các diễn đàn quốc tế và tiến hành hội thảo ở các hình thức khác nhau về vấn đề ổn định và hợp tác trong khu vực Đông Bắc Á.
Tháng 11-2008, trong cuộc hội đàm cấp cao Nhật - Nga, Tổng thống Nga Medvedev cũng đồng ý về việc hai bên cần phải giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ, với đề án đưa ra cho phía lãnh sự Nga là “cách tiếp cận mới, sáng tạo và không bị giới hạn bởi tính hình thức”, trong khi phía Nhật thể hiện thái độ hướng tới giải pháp cuối cùng. Trong năm 2009, hai bên đã tiến hành 5 cuộc hội đàm cấp cao và hội đàm cấp Bộ trưởng ngoại giao. Tháng 2-2009, Hội đàm cấp cao Nga - Nhật được tổ chức tại Sakharin, tháng 5-2009, đối thoại quân sự giữa hai bên đã diễn ra khi Thủ tướng Nga Putin thăm Nhật, tháng 7-2009, đàm thoại song phương tại Hội nghị thượng đỉnh G8 tại L’Aquila (Ý), phía Nhật đưa ra đề xuất về sửa đổi “Luật về phòng vệ đặc biệt nhằm giải quyết các vấn đề lãnh thổ phía Bắc”, song chưa thu được kết quả khả quan do mỗi bên vẫn bảo lưu ý kiến trái chiều.
Tháng 9-2009, đã xảy ra cuộc chuyển giao quyền lực chính trị lớn nhất thập niên 2000 ở Nhật Bản, và ngay khi chính quyền Hatoyama ra đời, chính phủ Nga đã bày tỏ mong muốn mạnh mẽ về việc nâng tầm quan hệ Nga - Nhật. Trong cuộc hội đàm cấp cao bên lề Hội nghị Liên Hợp Quốc tháng 9 cùng năm, Thủ tướng Hatoyama và tổng thống Medvedev đã đồng thuận về việc cần phải “làm mới quan hệ hai nước” trong bối cảnh phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có việc cùng tìm ra hướng đi mới cho vấn đề lãnh thổ. Phía Nhật Bản khẳng định phương châm xúc tiến quan hệ chính trị và kinh tế là hai trục chính trong quan hệ với Nga, và đặt nước này vào vị trí “đối tác trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương”.
Tháng 11-2009, tại cuộc họp thượng đỉnh APEC tại Singapor, hai bên đã nhất trí sẽ cùng nhau giải quyết dứt điểm vấn đề tranh chấp lãnh thổ, và tháng 12 sau đó đã có cuộc hội đàm cấp Bộ trưởng, đề ra “Kế hoạch hành động Nhật - Nga”, cụ thể hóa những bước đi nhằm xúc tiến quan hệ giữa hai nước. Về vấn đề các đảo đang tranh chấp, hai bên cũng đã có sự nhượng bộ như: phía Nga cho phép Nhật Bản giao lưu, tự do thăm quan và viếng thăm phần mộ tổ tiên tại bốn hòn đảo trên.Về quan hệ kinh tế, trong những năm gần đây, quan hệ kinh tế giữa hai nước đã được mở rộng nhanh chóng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kim ngạch ngoại thương giữa hai nước trong năm 2009 đã giảm mạnh từ con số 29,7 tỷ USD của năm 2008 (mức cao nhất từ trước tới nay), xuống còn 12,1 tỷ USD.Có thể nói, mặc dù hiện tại Nhật Bản tuy chưa ký kết được Hiệp ước hòa bình với Nga, nhưng hai nước đã mở rộng quan hệ theo nhiều tầng, nhiều cấp độ, cố gắng để vấn đề chính trị không ảnh hưởng đến quan hệ kinh tế.

d) Quan hệ Nhật Bản – Trung Quốc:
Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia có quan hệ lịch sử lâu đời trên nhiều lĩnh vực nhưng cũng trải qua nhiều bước thăng trầm khác nhau. Mối quan hệ giữa hai quốc gia láng giềng này có tầm quan trọng to lớn tới môi trường chiến lược khu vực, tác động đến việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của các quốc gia liên quan, đặc biệt là các nước ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, nơi mà cả Trung Quốc và Nhật Bản đang ra sức tăng cường ảnh hưởng. Hiện nay, Trung Quốc là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới và có nhiều khả năng trở thành quốc gia cạnh tranh vị trí siêu cường số 1 thế giới với Mỹ trong tương lai.  Còn Nhật Bản, sau giai đoạn phát triển thần kỳ về kinh tế vào những năm thuộc thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước đã trở thành siêu cường kinh tế thứ hai toàn cầu được cả thế giới ngưỡng mộ. Ngày nay, Nhật Bản cũng đang trên đường tìm kiếm vai trò chính trị tương xứng với tiềm năng kinh tế của mình ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương cũng như trên toàn thế giới.
1/ Những thách thức trong quan hệ Nhật – Trung:

Cạnh tranh vị thế chính trị :

Đây là trở ngại mang tính kết cấu liên quan tới việc cạnh tranh quyền lãnh đạo Đông Á xuất phát từ lợi ích chiến lược mỗi quốc gia. Nhật Bản luôn liên minh với Mỹ nhằm tìm kiếm sự hỗ trợ và nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, tranh thủ lôi kéo các nước ASEAN vào không gian kinh tế chung. Trong khi đó, Trung Quốc, do tiềm lực kinh tế và quân sự còn hạn chế so với Mỹ, nên đã hướng mạnh đến một thế giới đa cực, phản đối các liên minh quân sự, nhằm phân tán quyền lực và giảm sức ép từ Mỹ
Trung Quốc cho rằng có nhiều thế lực tại Nhật Bản vẫn chưa từ bỏ hẳn chủ nghĩa quân phiệt, phản đối Nhật Bản tăng cường vai trò của lực lượng quân đội và đi ngược lại  Hiến pháp hòa bình của Nhật Bản. Thái độ của Trung Quốc đối với việc Nhật Bản ứng cử vào ghế ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mở rộng hiện nay là chưa rõ ràng, có thể chính quyền Bắc Kinh đang nghe ngóng và có biện pháp phản đối tế nhị hơn. Điều chắc chắn là phía Trung Quốc không muốn Nhật Bản ngồi vào chiếc ghế này và như thế đương nhiên sẽ gây trở ngại cho những cố gắng của phía Nhật Bản.

Ngược lại, Nhật Bản từ lâu đã cảnh báo về sự gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc, phản đối việc EU bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc. Cũng tại Nhật Bản, đã ra đời thuyết về “mối đe dọa Trung Quốc”. Chính vì thuyết này mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã phải thuyết phục các nước Châu Á khác và tuyên truyền về “sự trỗi dậy hòa bình” của Trung Quốc nhằm loại bỏ những chiến dịch tuyên truyền về thuyết “mối đe dọa Trung Quốc”. Thực sự, đây không phải là cuộc tranh chấp giữa những tên gọi của những học thuyết khác nhau mà rõ ràng là sự cạnh tranh vị thế chính trị giữa hai nước đầy tham vọng, sự lo ngại của hai bên trong việc xác định giữa việc Nhật Bản hay Trung Quốc sẽ là nước nắm vai trò lớn hơn ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, từ đó tiến hành các biện pháp ngăn chặn và kiềm chế lẫn nhau.
Tranh giành nguồn năng lượng  dầu mỏ :

Một trong những rào cản chính trong quan hệ Trung Quốc và Nhật Bản xuất phát từ việc cạnh tranh nguồn năng lượng, đặc biệt là dầu lửa để phục vụ sự phát triển kinh tế của đất nước mình, chính điều đó dẫn tới va chạm lợi ích giữa hai quốc gia.
Từ năm 2002, Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu dầu lửa đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Mỹ. Dự đoán đến năm 2010, lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc có thể lên tới 40%, thậm chí có thể tăng lên 60% vào năm 2020. Trong khi đó, theo số liệu của Tổng cục Thống kê nhà nước Trung Quốc cho biết, dự kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2006 đạt mức 10,5% tăng 1% so với năm 2005. Với đà tăng trưởng như vậy, Trung Quốc rất cần nguồn năng lượng để đảm bảo cho quá trình tăng trưởng mạnh của nền kinh tế
Điều này dường như còn thiết yếu hơn đối với Nhật Bản, bởi Nhật là nước rất nghèo tài nguyên thiên nhiên, hầu hết các nguyên nhiêu liệu chủ yếu đều nhập khẩu (nước này buộc phải nhập khẩu hầu như toàn bộ số dầu lửa cần thiết, lên tới 99,7%). Nhật Bản không có mỏ uranium và các nguồn năng lượng thay thế địa nhiệt...
Gần đây, hai nước đang tranh chấp quần đảo Điếu Ngư (phía Nhật gọi là Senkaku) – thuộc vùng biển Hoa Đông, gồm 7 đảo nhỏ, nơi theo thăm dò khảo sát của Nhật Bản năm 1999 có trữ lượng khoảng 200 tỷ mét khối khí đốt. Gần đây, cả hai bên đều có những động thái khẳng định chủ quyền với vùng đảo này. Vào ngày 10/11/2004, Nhật Bản tố cáo tàu ngầm nguyên tử của Trung Quốc đã xâm nhập vào vùng lãnh hải của Nhật Bản ngoài khơi Okinawa. Nhật Bản đã mở chiến dịch truy đuổi tàu ngầm trên trong 2 ngày tại Biển Đông Trung Quốc. Cho dù Trung Quốc đã xin lỗi về sự kiện trên, song sau đó có nhiều tàu nghiên cứu của nước này vẫn đột nhập vào vùng biển Nhật Bản gần đảo Okinotori. Các tàu trên có nhiều khả năng do thám đáy biển vì mục đích khí đốt. Theo thống kê từ phía Nhật, trong năm 2004, Trung Quốc đã tiến hành 34 cuộc “nghiên cứu” như vậy tại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Nhật Bản.
Ngày 10/08/2005, Nhật Bản lại tố cáo Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ Nhật Bản sau khi một tập đoàn dầu khí của Trung Quốc khoan khí đốt tại địa điểm Chunxiao trên biển Hoa Đông. Nhật lo ngại từ địa điểm này Trung Quốc có thể dùng ống dẫn hút túi khí đốt lớn trữ lượng 200 tỷ m3 kéo dài sâu vào phần lãnh hải Okinawa của Nhật Bản. Trước tình thế này, lực lượng phòng vệ bờ biển Nhật Bản đã yêu cầu Quốc hội cung cấp 240 triệu USD cho tài khóa năm 2006 nhằm bổ sung trang thiết bị hiện đại, tăng cường khả năng tác chiến của các chiếm hạm phục vụ cho công tác tuần tra bảo vệ giếng dầu và khí đốt trong vùng lãnh hải của mình. Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng đã tuyên bố giành lại quyền quản lý ngọn hải đăng, sự việc này cho thấy Nhật Bản đang tiến hành một bước then chốt trong việc quy hoạch và tiếp nhận chủ quyền quần đảo Điếu Ngư.
Sự thiết hụt nguồn năng lượng phục vụ phát triển kinh tế đất nước buộc Nhật Bản và Trung Quốc phải tìm kiếm nhập khẩu nguồn dầu khí ở nước ngoài. Điều này, liên quan tới nước Nga, một cường quốc dầu khí trên thế giới, là nước láng giềng của cả Nhật Bản và Trung Quốc. Hiện nay, hai nước đang chạy đua trong việc thuyết phục Nga xây dựng đường ống dẫn dầu qua lãnh thổ nước mình. Bắc Kinh đang đẩy mạnh kế hoạch xây dựng khoảng 2.400km đường ống dẫn dầu từ Angask Siberia tới Đại Thanh thuộc tỉnh Hắc Long Giang. Trong khi đó Tokyo lại muốn xây dựng 4.000km đường ống dẫn dầu từ Taishet tới Nokhodka Thái Bình Dương.
Quần đảo Senkaku/Điếu Ngư là điểm nóng trong quan hệ giữa Nhật Bản và Trung Quốc
Tàu tuần tra Nhật Bản áp sát tàu cá Trung Quốc chở 14 người Hongkong (Trung Quốc) tìm cách lên quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư ngày 15/8
Vấn đề Đài Loan

Mặc dù trong tuyên bố ngoại giao, Nhật Bản ủng hộ hướng đến “một nước Trung Quốc”, song trên thực tế Nhật Bản luôn tăng cường quan hệ với Đài Loan vì mối quan hệ này đáp ứng được yêu cầu về kinh tế  và an ninh chính trị đối với Nhật Bản. Không chỉ là một trong những nhà đầu tư hàng đầu mà Nhật Bản vẫn có quan hệ chính trị an ninh gần  gũi với Đài Loan. Bắc Kinh phê phán Tokyo là quá gần gũi với lực lượng theo đuổi độc lập cho Đài Loan. Và xem ra, về thực chất, có thể Nhật cũng chưa muốn Trung Quốc- Đài Loan hợp nhất, vì như thế sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường an ninh xung quanh Nhật Bản.
Liên kết với Đài Loan cũng chính là nhằm tạo một vành đai bao bọc khống chế sức mạnh của Trung Quốc đang trỗi dậy cạnh tranh vai trò với Nhật Bản. Điều này thể hiện rõ trong Tuyên bố chung vào tháng 2/2005 tại cuộc họp 2+2 giữa Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng hai nước Mỹ và Nhật Bản, xác định Đài Loan là “mục tiêu chiến lược chung” trong Hiệp ước An ninh Mỹ-Nhật. Điều này có nghĩa là trong trường hợp xảy ra chiến tranh ở eo biển Đài Loan, Nhật sẽ đứng về phía Mỹ ủng hộ Đài Loan. Đây được xem là một sự thay đổi quan trọng nhất của Hiệp ước An ninh giữa hai nước kể từ năm 1996 bởi vì trước đó, các cuộc họp về phạm vi an ninh Mỹ-Nhật chỉ đưa ra khái niệm chung chung là “vùng xung quanh Nhật Bản”.
Bắc Kinh cũng kịch liệt phản đối sự việc chính phủ Nhật Bản đã cấp thị thực nhập cảnh cho cựu Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy (nhân vật ủng hộ mạnh mẽ nhất chủ trương giành độc lập cho Đài Loan là người bị Bắc Kinh coi là kẻ thù chính)(tới thăm Nhật Bản vào cuối năm 2004. Năm 2005, Quốc hội Nhật Bản đã thông qua luật miễn thị thực dành cho khách du lịch Đài Loan tới thăm Nhật Bản dưới 90 ngày. Luật miễn thị thực đã được thông qua bất chấp sự phản đối của Trung Quốc đại lục. Những  việc làm  kể trên của phía Nhật Bản không thể làm hài lòng Trung Quốc. Có thể thấy, trong tương lai, Nhật Bản sẽ tiếp tục gây sức ép cản trở Trung Quốc trong vấn đề thống nhất Đài Loan, qua đó ngăn không cho Trung Quốc có khả năng gây khó dễ cho các tàu thuyền xuất nhập khẩu của Nhật Bản qua Eo biển trên, đồng thời buộc Trung Quốc phải “mặc cả” với họ trong việc giải quyết những bất đồng giữa hai bên.
Những vấn đề lịch sử

Một thách thức lớn nữa đối với quan hệ Trung –Nhật là nhiều vấn đề lịch sử đến nay vẫn chưa được hai bên giải quyết thấu đáo, tạo nên những rào cản trong quan hệ hai quốc gia.
Trung Quốc cho rằng Nhật Bản không nhìn nhận đúng mức cuộc chiến do Nhật Bản gây ra trong giai đoạn 1931-1945 khiến 35 triệu người Trung Quốc, chủ yếu là dân thường thiệt mạng và bị thương. Một vấn đề gây trở ngại khác là phía Trung Quốc yêu cầu Nhật Bản xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho những phụ nữ Trung Quốc bị quân đội Hoàng gia Nhật Bản cưỡng bức làm nô lệ tình dục trước và trong suốt Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.
Ngôi đền Yasukuni luôn là tâm điểm gây căng thẳng giữa Nhật và Trung Quốc, bởi Trung Quốc cho rằng ngôi đền này là biểu tượng của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản. Ngôi đền Yasukuni thờ 2,5 triệu người Nhật Bản chết trong chiến tranh, trong đó bao gồm cả 14 tội phạm chiến tranh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trung Quốc và Hàn Quốc đều cho rằng ngôi đền này ca ngợi những hành động tàn bạo trong Thế chiến của Nhật. Tân Thủ tướng Abe là người trước đây từng viếng thăm ngôi đền Yasukuni nhiều lần, nhưng ông đã khôn khéo từ chối trả lời về khả năng tiếp tục duy trì các cuộc viếng thăm ngôi đền này trong tương lai với tư cách là Thủ tướng Nhật Bản
Gần đây nhất, việc Nhật Bản cho phát hành bộ sách giáo khoa lịch sử phổ thông trong đó đề cập “sai lệch” các sự kiện quân đội Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, vụ thảm sát Nam Kinh... đã bị Trung Quốc phản đối kịch liệt. Trung Quốc là nước vốn có nhiều bất đồng với Nhật Bản về chương trình sách giáo khoa của Nhật Bản viết về những vấn đề  lịch sử. Theo nhiều chuyên gia phân tích chính trị cho rằng, vấn đề lịch sử chỉ là cái cớ để hai bên sử dụng trong việc kích động  sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc ở hai quốc gia này, song rõ ràng, nếu hai nước muốn cải thiện và thúc đẩy quan hệ thì một yếu tố quan trọng là phải có những nhận thức chung về lịch sử một cách đúng đắn.
Vấn đề hạt nhân ở Bán đảo Triều Tiên

Tokyo và Bắc Kinh đang mâu thuẫn với nhau về cách thức đối phó hữu hiệu đối với các vụ thử tên lửa của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân (CHDCND)Triều Tiên. Ngay sau khi Bình Nhưỡng thực hiện các vụ phóng tên lửa hồi tháng 7/2006, chính quyền Nhật Bản đặc biệt, là ông Abe đã phản ứng dữ dội  trước các vụ thử tên lửa, ban hành các lệnh trừng phạt cả gói của riêng mình, trong đó có lệnh cấm tàu thuyền của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cập vào các cảng  của Nhật Bản trong vòng 6 tháng... và đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhằm tìm kiếm một nghị quyết trừng phạt nghiêm khắc với nước này. Tuy nhiên, điều đó đã bị Trung Quốc kịch liệt phản đối. Trung Quốc chỉ trích bản nghị quyết của Liên hợp quốc do Nhật Bản đề xuất, cho rằng nó sẽ làm cho tình hình xấu hơn và gây tổn hại các nỗ lực nhằm tiếp tục các cuộc đàm phán sáu bên, chỉ nên khiển trách hơn là trừng phạt nước láng giềng nghèo khổ này và cho rằng Nhật Bản đã ‘phản ứng thái quá” trong cách ứng xử và đề nghị Nhật Bản phải đồng ý giải quyết vấn đề một cách ôn hòa hơn. Đáp lại phản ứng của Trung Quốc, Nhật Bản đe dọa sẽ cắt giảm các khoản đóng góp của mình cho Liên hợp quốc- tổ chức quốc tế lớn nhất và yêu cầu Trung Quốc cần tăng mức đóng góp tài chính hơn nữa. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, vấn đề hạt nhân, tên lửa ở Bán đảo Triều Tiên chính là một “con bài” quan trọng để phía Bắc Kinh mặc cả với Tokyo trong việc đàm phán giải quyết những vấn đề tranh chấp giữa hai bên.
Tăng cường tiềm năng quân sự
Hiện nay, cả hai bên, Trung Quốc và Nhật Bản, đều tích cực tăng cường tiềm năng quân sự của mình. Trung Quốc công bố đầu tư cho ngân sách quốc phòng ở mức tương đương khoảng 30 tỷ USD một năm. Tuy nhiên, David Shambaugh, Giám đốc Chương trình chính sách Trung Quốc thuộc trường Đại học George Washington, cho rằng những khoản chi tiêu không được công bố có thể nâng chi tiêu quốc phòng hằng năm của Trung Quốc lên tới 45 tỷ USSD hoặc 50 tỷ USD(10).  Sự đầu tư lớn nhằm nâng cấp khả năng quân sự của Trung Quốc là sự e ngại lớn đối với Nhật Bản, bởi nó sẽ đe dọa trực tiếp đến an ninh của Nhật Bản, vì Trung Quốc là nước láng giềng kề cận với Nhật Bản. Mặc dù chính phủ Nhật Bản chưa công bố tăng ngân sách quốc phòng của năm nay (năm 2003 ước khoảng 42 tỷ USD), nhưng thực tế họ đang chuyển mạnh từ thái độ hòa bình và phòng thủ khu vực thời hậu chiến sang năng động hơn về mặt quân sự trong khu vực. Tokyo đã tăng cường lực lượng Phòng vệ và tham gia vào các chiến dịch tại Irac. Việc gần đây Nhật Bản tiến hành nâng cấp Cục phòng vệ của mình lên thành Bộ Quốc phòng nhằm phản ánh đúng chức năng của cơ quan này trong tình hình mới. Đồng thời, việc có nhiều dấu hiệu cho thấy, trong thời gian gần đây, Nhật Bản đang có những động thái tích cực hướng tới sửa đổi điều 9 trong Hiến pháp để Nhật Bản có vai trò tích cực hơn trong đời sống an ninh và chính trị trong khu vực Châu Á -Thái Bình Dương cũng như trên toàn thế giới, cũng khiến cho Trung Quốc và các nước trong khu vực quan ngại.
2/ Triển vọng trong quan hệ Nhật- Trung :

Mặc dù còn nhiều những vướng mắc kể trên, thực tế, Trung Quốc rất cần có những quan hệ tốt với Nhật Bản. Bởi lẽ, sau những thăng trầm trong nền kinh tế chính trị, Trung Quốc cần môi trường xung quanh ổn định để tập trung vào phát triển kinh tế, hiện đại hóa đất nước nhằm hướng tới những mục tiêu chiến lược xa hơn. Hơn nữa, việc duy trì mối quan hệ này còn giúp Trung Quốc nâng cao vị thế  trên trường quốc tế nói chung và quan hệ với Mỹ nói riêng, giảm sức ép từ chính Liên minh Mỹ- Nhật và cũng là thách thức cân bằng trong khi Mỹ là siêu cường duy nhất muốn thao túng nền chính trị thế giới. Cũng cần phải thấy rằng, việc duy trì quan hệ tốt với Nhật Bản còn có yếu tố tương đồng về lịch sử và văn hoá. Chính sự tương đồng về văn hóa, trong một số quan niệm chuẩn mực về đời sống sẽ tạo cơ sở thuận lợi cho duy trì và tăng cường quan hệ song phương trong những tình huống và thời điểm lịch sử nhạy cảm.

Hiện tại, Trung Quốc đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, do v
 
Gửi ý kiến