CTST - Bài 17. Thông tin giữa các tế bào

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Lê Nhật Bửu
Ngày gửi: 08h:50' 03-10-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 83
Nguồn:
Người gửi: Phan Lê Nhật Bửu
Ngày gửi: 08h:50' 03-10-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 83
Số lượt thích:
0 người
SINH HỌC 10
GV: PHAN LÊ NHẬT BỬU
Bài 17
THÔNG TIN GIỮA CÁC TẾ BÀO
Bằng cách nào mà hormone insulin và glucagon (do tế bào tuyến tụy
tiết ra) có thể kích thích các tế bào gan và cơ thực hiện quá trình
chuyển hoá đường, qua đó, điều hoà hàm lượng glucose trong máu?
Khi lượng đường trong máu tăng hoặc giảm so với mức cân bằng, tuyến
tụy sẽ tăng tiết hormone insulin hoặc glucagon, các hormone này đến
gan và cơ để kích thích sự chuyển hóa đường, từ đó điều chỉnh lượng
đường về mức cân bằng.
- Khi nồng độ đường trong máu tăng, tuyến tụy tăng tiết hormone
insulin. Insulin đi đến các tế bào gan và cơ, kích thích các tế bào này
chuyển hóa glucose thành glycogen, làm giảm lượng đường đến mức
cân bằng.
- Khi nồng độ đường giảm, tuyến tụy tăng tiết hormone glucagon đến
I.THÔNG TIN GIỮA CÁC TẾ BÀO
Quan sát Hình 17.1, hãy cho biết thông tin được truyền từ tế bào này
đến tế bào khác bằng cách nào?
Thông tin được truyền từ tế bào này
đến tế bào khác thông qua các phân tử
tín hiệu, các tế bào tiết ra phân tử tín
hiệu và truyền phân tử tín hiệu này cho
tế bào đích.
Các phân tử tín hiệu (A và B) có vai trò truyền thông tin được truyền
từ tế bào này đến tế bào khác.
Phân tử tín hiệu có thể là các hormone, yếu tố sinh trưởng, các ion,...
I.THÔNG TIN GIỮA CÁC TẾ BÀO
Tế bào đáp ứng như thế nào với
các tín hiệu khác nhau?
Khi tế bào c nhận thông tin từ tế bào A thì tế
bào C sẽ tiến hành phân chia, còn khi nhận
thông tin từ tế bào B thì tế bào C sẽ đi vào con
đường biệt hoá để hình thành tế bào có chức
nâng.
Mỗi tín hiệu có một thông tin nhất định, do đó tế bào đích (tế bào C)
sẽ đáp ứng tùy vào thông tin được truyền đến (phân chia khi được
truyền thông tin từ phân tử tín hiệu A hoặc biệt hóa khi được truyền
thông
phân
tử tín
hiệu
B) tế bào sẽ có những đáp ứng khác nhau.
Đối với tin
mỗitừ
loại
tín hiệu
khác
nhau,
I.THÔNG TIN GIỮA CÁC TẾ BÀO
1. Khái niệm về thông tin giữa các tế bào
- Thông tin được truyền từ tế bào này đến tế bào khác thông
qua các phân tử tín hiệu, các tế bào tiết ra phân tử tín hiệu và
truyền phân tử tín hiệu này cho tế bào đích.
- Mỗi tín hiệu có một thông tin nhất định, do đó tế bào đích
sẽ đáp ứng tùy vào thông tin được truyền đến.
- Đối với mỗi loại tín hiệu khác nhau, tế bào sẽ có những đáp ứng
khác nhau.
- Các tế bào ở gần
nhau có thể truyền
thông tin nhờ các
mối nối giữa các tế
bào, theo kiểu tiếp
xúc trực tiếp nhờ
các phân tử bề mặt
hoặc truyền tin cục
bộ.
- Các tế bào ở xa
nhau sẽ truyền
thông tin qua các
phân tử tín hiệu
được vận chuyển
nhờ hệ tuần hoàn.
2. Các kiểu truyền thông tin giữa các tế bào
- Các tế bào ở gần nhau có thể truyền thông tin nhờ các mối nối
giữa các tế bào, theo kiểu tiếp xúc trực tiếp nhờ các phân tử bề
mặt hoặc truyền tin cục bộ.
- Các tế bào ở xa nhau sẽ truyền thông tin qua các phân tử tín hiệu
được vận chuyển nhờ hệ tuần hoàn.
Câu 3: Hãy xác định kiểu truyền thông tin giữa các tế bào trong các
trường hợp sau:
a) Các yếu tố sinh trưởng được tiết ra kích thích sự sinh trưởng của
các tế bào liền kề.
-> truyền tin cục bộ.
b) Các phân tử hoà tan trong bào tương được vận chuyển qua cầu
sinh chất giữa hai tế bào thực vật.
-> truyền tin qua mối nối giữa các tế bào.
c) Sự tiếp xúc giữa kháng nguyên và kháng thể.
-> truyền tin qua tiếp xúc trực tiếp nhờ các phân tử bề mặt.
d) Tuyến yên sản xuất hormone sinh trưởng, hormone này đến kích
thích sự phân chia và kéo dài tế bào xương, giúp phát triển xương.
-> truyền tin qua khoảng cách xa.
Sự truyền thông tin giữa các tế bào có ý nghĩa gì?
- Sự truyền thông tin giữa các tế bào có ý nghĩa giúp cho các tế bào
trong cơ thể có thể phối hợp với nhau để thực hiện các hoạt động
sống của cơ thể.
- Điều hòa, phối hợp các hoạt động giữa các tế bào.
- Giúp tế bào đáp ứng lại các kích thích của môi
trường nội bào.
Hai hormone insulin và glucagon được nhắc đến ở tình huống
mở đầu đóng vai trò gì trong quá trình truyền thông tin giữa các
tế bào?
Hai hormone insulin và glucagon đóng vai trò là phân tử
tín hiệu, được truyền từ tế bào tuyến tụy (tế bào tiết)
đến tế bào gan để kích thích đáp ứng ở tế bào gan, cơ
(tế bào đích)..
II. Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào
Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn tiếp nhận:
Là giai đoạn tế bào đích phát hiện ra phân tử tín hiệu từ bên ngoài tế
bào. Phân tử tín hiệu này liên kết với protein thụ thể của tế bào đích,
làm thụ thể thay đổi hình dạng.
II. Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào
Giai đoạn truyền tin:
Sự thay đổi hình dạng của thụ thể là khởi đầu cho quá trình truyền tin.
Trong giai đoạn này, một chuỗi các phản ứng sinh hoá diễn ra trong tế
bào tạo thành con đường truyền tín hiệu thông qua các phân tử
truyền tin.
II. Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào
Giai đoạn đáp ứng:
Tín hiệu đã được truyền tin sẽ hoạt hoá một đáp ứng đặc hiệu của tế
bào. Sự đáp ứng có thể diễn ra trong nhân hoặc trong tế bào chất.
Bằng cách nào mà thông tin từ thụ thể được truyền vào trong
tế bào?
Thông tin từ thụ thể được truyền vào trong tế bào qua sự liên kết giữa
phân tử tín hiệu với protein thụ thể của tế bào đích, làm thụ thể thay
đổi hình dạng.
Sau khi liên kết, phân tử tín hiệu làm thay đổi thụ thể, qua đó khởi động quá trình
truyền tin thông qua các phân tử truyền tin trong con đường truyền tín hiệu.
Thực chất của quá trình truyền tín hiệu là một chuỗi các phàn ứng sinh hoá
trong tế bào. Trong đó, ở mỗi bước, một phân tử truyền tin gây nên sự thay đổi
ở phân tử thuộc bước tiếp theo. Phân tử cuối cùng trong con đường truyền tín
hiệu kích ứng đáp ứng tế bào.
II. Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào
Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn tiếp nhận:
Phân tử tín hiệu liên kết với protein thụ thể của tế bào đích,
làm thụ thể thay đổi hình dạng.
Giai đoạn truyền tin:
Quá trình truyền tín hiệu từ thụ thể tới các phân tử đích
trong tế bào.
Sự thay đổi hình dạng của thụ thể là khởi đầu cho quá trình
truyền tin.
Giai đoạn đáp ứng:
Tế bào phát tín hiệu hoạt hóa đáp ứng tế bào.
Sự đáp ứng có thể thực hiện qua những hoạt động nào của tế
bào?
Sự đáp ứng có thể thực hiện qua các hoạt động phiên mã, dịch mã hoặc
điều hoà các hoạt động của tế bào (hoạt động của tế bào chất, hoạt động
sinh tổng hợp protein thông qua việc hoạt hoá chất ức chế một số gene,
điều hoà hoạt tính của protein,...).
Tăng hay giảm quá trình chuyển hoá một hoặc một số chất, tăng
cường vận chuyển qua màng tế bào, phân chia tế bào,...
Dựa vào Hình 17.3, hãy mô tả quá trình hormone insulin tác động đến
Quá
trình
tế
bào
gan.truyền thông tin giữa các
tế bào:
Đầu tiên, các phân tử tín hiệu này
liên kết với protein thụ thể của tế
bào đích, làm thụ thể thay đổi hình
dạng và hoạt hóa. Thụ thể được hoạt
hoá sẽ hoạt hoá các phân tử nhất
định trong tế bào theo chuỗi tương
tác tới các phân tử đích. Cuối cùng,
tín hiệu đã được truyền tin sẽ hoạt
hoá một
đáptế
ứng
đặc
hiệutụy
củatiết
tế ra sẽ di chuyển đến các tế bào gan và
Insulin
được
bào
tuyến
bàoliên
đích.
cơ,
kết với thụ thể insulin, hoạt hóa các thụ thể đó và kích thích sự
huy động các protein vận chuyển glucose ở trên màng sinh chất, từ đó
làm tăng sự vận chuyển glucose từ máu vào trong tế bào và giảm lượng
Dựa vào Hình 17.3, hãy mô tả quá trình hormone insulin tác động đến
bào gan.
- tếGiai
đoạn tiếp nhận:
Hormone insulin do tuyến tuy tiết
ra, theo máu đến tế bào gan và gắn
vào thụ thể của tế bào gan.
- Giai đoạn truyền tin:
Insulin làm thay đổi hình dạng của thụ thể và khởi động quá trình truyền tin.
Thông qua các phân tử truyền tin, tín hiệu được truyền đến phân tử đích trong tế
bào.
- Giai đoạn đáp ứng:
Tế bào hoạt hoá quá trình biến đổi glucose thành glycogen để dự trữ trong tế bào.
Gibberellin (GA) là một loại hormone kích thích sinh trưởng ở thực
vật. Một số cây trồng bị thiếu hụt GA nên sinh trưởng kém, chiều cao
thấp. Người ta phun bổ sung GA cho các cây này, sau một thời gian,
chiều cao của chúng vẫn không tăng thêm. Hãy giải thích nguyên
nhân của hiện tượng trên.
Một số nguyên nhân được đưa ra như sau:
- Tế bào bị hỏng thụ thể tiếp nhận GA nên thông tin không được
truyền vào tế bào.
- Tế bào bị hỏng phân tử truyền tin trong tế bào dẫn đến không gây
ra hiện tượng đáp ứng tế bào.
- Sai hỏng ở DNA (gene) dẫn đến không tổng hợp được protein cần
thiết cho sự sinh trưởng của cây.
Tại sao mỗi loại tế bào thường chỉ thực hiện một chức năng nhất
định?
Do
tính đạc hiệu của thụ thể nên thụ thể chỉ gắn với một hoặc một
số chất. Do đó, mỗi tế bào chỉ đáp ứng với một hoặc một số tín hiệu
nhất định, nên mỗi tế bào chỉ thực hiện một chức nâng nhất định.
Trường hợp nào sau đây chắc chắn không xảy ra sự đáp ứng tế bào? Giải
thích.
a. Sự
tử truyền
tin. b.
thể
tiếp nhận
Khi
thụsai
thểhỏng
khôngmột
tiếp phân
nhận phân
tử tín hiệu
thìThụ
thòng
tinkhông
không được
truyềnphân
vào
tử tíntếhiệu.
trong
bào nên sẽ không gãy ra đáp ứng tế bào. Còn trường hợp bị sai hỏng một
phân tử truyền tin thì tế bào có thể sử dụng các phân tử truyền tin khác.
Cả hai trường hợp đều chắc chắn không xảy ra sự đáp ứng tế bào vì:
a. Sự hoạt hoá các phân tử trong tế bào diễn ra theo thứ tự, từ phân tử
này đến phân tử kia. Nên sự sai hỏng một phân tử truyền tin sẽ làm
dừng chuỗi phản ứng trong tế bào đích, dẫn đến tế bào đích không đáp
ứng.
b. Thụ thể không tiếp nhận phân tử tín hiệu thì sẽ không hoạt hóa được
Một nhà khoa học đã tiến hành gây đáp ứng tế bào gan bằng hormone
insulin để kích thích chuyển hóa glucose thành glycogen. Ông đã tiến
hành hai thí nghiệm như sau:
- Thí nghiệm 1: Cho tế bào gan (A) còn nguyên vẹn vào môi trường có
chứa insulin và glucose.
- Thí nghiệm 2: Tiêm trực tiếp insulin vào trong tế bào gan (B) rồi cho
vào môi trường có chứa glucose.
Sau khi quan sát kết quả, ông nhận thấy glycogen xuất hiện ở một
trong hai tế bào trên. Tế bào nào đã xuất hiện glycogen? Tại sao
glycogen không xuất hiện ở tế bào còn lại?
Thí nghiệm 1 có xuất hiện glycogen do có insulin hoạt hóa các thụ thể
màng ở tế bào gan để vận chuyển các phân tử glucose vào trong tế bào,
còn thí nghiệm 2 không xuất hiện glycogen do insulin không tiếp xúc với
thụ thể màng, dẫn đến không có các phân tử tín hiệu và các tế bào gan
không vận chuyển glucose vào trong tế bào, quá trình chuyển hóa
glucose không diễn ra.
Tế bào (A) đã xuất hiện glycogen vì hormone insulin có bàn chốt là protein
nên không đi qua màng sinh chất mà liên kết với thụ thể trên màng.
Vì vậy, trong thí nghiệm 1, insulin liên kết với thụ thể màng và kích hoạt con
đường truyền tín hiệu vào bên trong tế bào gây đáp ứng tế bào chuyển hoá
glucose thành glycogen.
Tế bào (B) không xuất hiện glycogen vì trong tế bào không có thụ thể tiếp
nhận insulin nên khi tiêm insulin vào trong tế bào sẽ không xảy ra đáp ứng tế
bào.
GV: PHAN LÊ NHẬT BỬU
Bài 17
THÔNG TIN GIỮA CÁC TẾ BÀO
Bằng cách nào mà hormone insulin và glucagon (do tế bào tuyến tụy
tiết ra) có thể kích thích các tế bào gan và cơ thực hiện quá trình
chuyển hoá đường, qua đó, điều hoà hàm lượng glucose trong máu?
Khi lượng đường trong máu tăng hoặc giảm so với mức cân bằng, tuyến
tụy sẽ tăng tiết hormone insulin hoặc glucagon, các hormone này đến
gan và cơ để kích thích sự chuyển hóa đường, từ đó điều chỉnh lượng
đường về mức cân bằng.
- Khi nồng độ đường trong máu tăng, tuyến tụy tăng tiết hormone
insulin. Insulin đi đến các tế bào gan và cơ, kích thích các tế bào này
chuyển hóa glucose thành glycogen, làm giảm lượng đường đến mức
cân bằng.
- Khi nồng độ đường giảm, tuyến tụy tăng tiết hormone glucagon đến
I.THÔNG TIN GIỮA CÁC TẾ BÀO
Quan sát Hình 17.1, hãy cho biết thông tin được truyền từ tế bào này
đến tế bào khác bằng cách nào?
Thông tin được truyền từ tế bào này
đến tế bào khác thông qua các phân tử
tín hiệu, các tế bào tiết ra phân tử tín
hiệu và truyền phân tử tín hiệu này cho
tế bào đích.
Các phân tử tín hiệu (A và B) có vai trò truyền thông tin được truyền
từ tế bào này đến tế bào khác.
Phân tử tín hiệu có thể là các hormone, yếu tố sinh trưởng, các ion,...
I.THÔNG TIN GIỮA CÁC TẾ BÀO
Tế bào đáp ứng như thế nào với
các tín hiệu khác nhau?
Khi tế bào c nhận thông tin từ tế bào A thì tế
bào C sẽ tiến hành phân chia, còn khi nhận
thông tin từ tế bào B thì tế bào C sẽ đi vào con
đường biệt hoá để hình thành tế bào có chức
nâng.
Mỗi tín hiệu có một thông tin nhất định, do đó tế bào đích (tế bào C)
sẽ đáp ứng tùy vào thông tin được truyền đến (phân chia khi được
truyền thông tin từ phân tử tín hiệu A hoặc biệt hóa khi được truyền
thông
phân
tử tín
hiệu
B) tế bào sẽ có những đáp ứng khác nhau.
Đối với tin
mỗitừ
loại
tín hiệu
khác
nhau,
I.THÔNG TIN GIỮA CÁC TẾ BÀO
1. Khái niệm về thông tin giữa các tế bào
- Thông tin được truyền từ tế bào này đến tế bào khác thông
qua các phân tử tín hiệu, các tế bào tiết ra phân tử tín hiệu và
truyền phân tử tín hiệu này cho tế bào đích.
- Mỗi tín hiệu có một thông tin nhất định, do đó tế bào đích
sẽ đáp ứng tùy vào thông tin được truyền đến.
- Đối với mỗi loại tín hiệu khác nhau, tế bào sẽ có những đáp ứng
khác nhau.
- Các tế bào ở gần
nhau có thể truyền
thông tin nhờ các
mối nối giữa các tế
bào, theo kiểu tiếp
xúc trực tiếp nhờ
các phân tử bề mặt
hoặc truyền tin cục
bộ.
- Các tế bào ở xa
nhau sẽ truyền
thông tin qua các
phân tử tín hiệu
được vận chuyển
nhờ hệ tuần hoàn.
2. Các kiểu truyền thông tin giữa các tế bào
- Các tế bào ở gần nhau có thể truyền thông tin nhờ các mối nối
giữa các tế bào, theo kiểu tiếp xúc trực tiếp nhờ các phân tử bề
mặt hoặc truyền tin cục bộ.
- Các tế bào ở xa nhau sẽ truyền thông tin qua các phân tử tín hiệu
được vận chuyển nhờ hệ tuần hoàn.
Câu 3: Hãy xác định kiểu truyền thông tin giữa các tế bào trong các
trường hợp sau:
a) Các yếu tố sinh trưởng được tiết ra kích thích sự sinh trưởng của
các tế bào liền kề.
-> truyền tin cục bộ.
b) Các phân tử hoà tan trong bào tương được vận chuyển qua cầu
sinh chất giữa hai tế bào thực vật.
-> truyền tin qua mối nối giữa các tế bào.
c) Sự tiếp xúc giữa kháng nguyên và kháng thể.
-> truyền tin qua tiếp xúc trực tiếp nhờ các phân tử bề mặt.
d) Tuyến yên sản xuất hormone sinh trưởng, hormone này đến kích
thích sự phân chia và kéo dài tế bào xương, giúp phát triển xương.
-> truyền tin qua khoảng cách xa.
Sự truyền thông tin giữa các tế bào có ý nghĩa gì?
- Sự truyền thông tin giữa các tế bào có ý nghĩa giúp cho các tế bào
trong cơ thể có thể phối hợp với nhau để thực hiện các hoạt động
sống của cơ thể.
- Điều hòa, phối hợp các hoạt động giữa các tế bào.
- Giúp tế bào đáp ứng lại các kích thích của môi
trường nội bào.
Hai hormone insulin và glucagon được nhắc đến ở tình huống
mở đầu đóng vai trò gì trong quá trình truyền thông tin giữa các
tế bào?
Hai hormone insulin và glucagon đóng vai trò là phân tử
tín hiệu, được truyền từ tế bào tuyến tụy (tế bào tiết)
đến tế bào gan để kích thích đáp ứng ở tế bào gan, cơ
(tế bào đích)..
II. Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào
Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn tiếp nhận:
Là giai đoạn tế bào đích phát hiện ra phân tử tín hiệu từ bên ngoài tế
bào. Phân tử tín hiệu này liên kết với protein thụ thể của tế bào đích,
làm thụ thể thay đổi hình dạng.
II. Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào
Giai đoạn truyền tin:
Sự thay đổi hình dạng của thụ thể là khởi đầu cho quá trình truyền tin.
Trong giai đoạn này, một chuỗi các phản ứng sinh hoá diễn ra trong tế
bào tạo thành con đường truyền tín hiệu thông qua các phân tử
truyền tin.
II. Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào
Giai đoạn đáp ứng:
Tín hiệu đã được truyền tin sẽ hoạt hoá một đáp ứng đặc hiệu của tế
bào. Sự đáp ứng có thể diễn ra trong nhân hoặc trong tế bào chất.
Bằng cách nào mà thông tin từ thụ thể được truyền vào trong
tế bào?
Thông tin từ thụ thể được truyền vào trong tế bào qua sự liên kết giữa
phân tử tín hiệu với protein thụ thể của tế bào đích, làm thụ thể thay
đổi hình dạng.
Sau khi liên kết, phân tử tín hiệu làm thay đổi thụ thể, qua đó khởi động quá trình
truyền tin thông qua các phân tử truyền tin trong con đường truyền tín hiệu.
Thực chất của quá trình truyền tín hiệu là một chuỗi các phàn ứng sinh hoá
trong tế bào. Trong đó, ở mỗi bước, một phân tử truyền tin gây nên sự thay đổi
ở phân tử thuộc bước tiếp theo. Phân tử cuối cùng trong con đường truyền tín
hiệu kích ứng đáp ứng tế bào.
II. Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào
Quá trình truyền thông tin giữa các tế bào gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn tiếp nhận:
Phân tử tín hiệu liên kết với protein thụ thể của tế bào đích,
làm thụ thể thay đổi hình dạng.
Giai đoạn truyền tin:
Quá trình truyền tín hiệu từ thụ thể tới các phân tử đích
trong tế bào.
Sự thay đổi hình dạng của thụ thể là khởi đầu cho quá trình
truyền tin.
Giai đoạn đáp ứng:
Tế bào phát tín hiệu hoạt hóa đáp ứng tế bào.
Sự đáp ứng có thể thực hiện qua những hoạt động nào của tế
bào?
Sự đáp ứng có thể thực hiện qua các hoạt động phiên mã, dịch mã hoặc
điều hoà các hoạt động của tế bào (hoạt động của tế bào chất, hoạt động
sinh tổng hợp protein thông qua việc hoạt hoá chất ức chế một số gene,
điều hoà hoạt tính của protein,...).
Tăng hay giảm quá trình chuyển hoá một hoặc một số chất, tăng
cường vận chuyển qua màng tế bào, phân chia tế bào,...
Dựa vào Hình 17.3, hãy mô tả quá trình hormone insulin tác động đến
Quá
trình
tế
bào
gan.truyền thông tin giữa các
tế bào:
Đầu tiên, các phân tử tín hiệu này
liên kết với protein thụ thể của tế
bào đích, làm thụ thể thay đổi hình
dạng và hoạt hóa. Thụ thể được hoạt
hoá sẽ hoạt hoá các phân tử nhất
định trong tế bào theo chuỗi tương
tác tới các phân tử đích. Cuối cùng,
tín hiệu đã được truyền tin sẽ hoạt
hoá một
đáptế
ứng
đặc
hiệutụy
củatiết
tế ra sẽ di chuyển đến các tế bào gan và
Insulin
được
bào
tuyến
bàoliên
đích.
cơ,
kết với thụ thể insulin, hoạt hóa các thụ thể đó và kích thích sự
huy động các protein vận chuyển glucose ở trên màng sinh chất, từ đó
làm tăng sự vận chuyển glucose từ máu vào trong tế bào và giảm lượng
Dựa vào Hình 17.3, hãy mô tả quá trình hormone insulin tác động đến
bào gan.
- tếGiai
đoạn tiếp nhận:
Hormone insulin do tuyến tuy tiết
ra, theo máu đến tế bào gan và gắn
vào thụ thể của tế bào gan.
- Giai đoạn truyền tin:
Insulin làm thay đổi hình dạng của thụ thể và khởi động quá trình truyền tin.
Thông qua các phân tử truyền tin, tín hiệu được truyền đến phân tử đích trong tế
bào.
- Giai đoạn đáp ứng:
Tế bào hoạt hoá quá trình biến đổi glucose thành glycogen để dự trữ trong tế bào.
Gibberellin (GA) là một loại hormone kích thích sinh trưởng ở thực
vật. Một số cây trồng bị thiếu hụt GA nên sinh trưởng kém, chiều cao
thấp. Người ta phun bổ sung GA cho các cây này, sau một thời gian,
chiều cao của chúng vẫn không tăng thêm. Hãy giải thích nguyên
nhân của hiện tượng trên.
Một số nguyên nhân được đưa ra như sau:
- Tế bào bị hỏng thụ thể tiếp nhận GA nên thông tin không được
truyền vào tế bào.
- Tế bào bị hỏng phân tử truyền tin trong tế bào dẫn đến không gây
ra hiện tượng đáp ứng tế bào.
- Sai hỏng ở DNA (gene) dẫn đến không tổng hợp được protein cần
thiết cho sự sinh trưởng của cây.
Tại sao mỗi loại tế bào thường chỉ thực hiện một chức năng nhất
định?
Do
tính đạc hiệu của thụ thể nên thụ thể chỉ gắn với một hoặc một
số chất. Do đó, mỗi tế bào chỉ đáp ứng với một hoặc một số tín hiệu
nhất định, nên mỗi tế bào chỉ thực hiện một chức nâng nhất định.
Trường hợp nào sau đây chắc chắn không xảy ra sự đáp ứng tế bào? Giải
thích.
a. Sự
tử truyền
tin. b.
thể
tiếp nhận
Khi
thụsai
thểhỏng
khôngmột
tiếp phân
nhận phân
tử tín hiệu
thìThụ
thòng
tinkhông
không được
truyềnphân
vào
tử tíntếhiệu.
trong
bào nên sẽ không gãy ra đáp ứng tế bào. Còn trường hợp bị sai hỏng một
phân tử truyền tin thì tế bào có thể sử dụng các phân tử truyền tin khác.
Cả hai trường hợp đều chắc chắn không xảy ra sự đáp ứng tế bào vì:
a. Sự hoạt hoá các phân tử trong tế bào diễn ra theo thứ tự, từ phân tử
này đến phân tử kia. Nên sự sai hỏng một phân tử truyền tin sẽ làm
dừng chuỗi phản ứng trong tế bào đích, dẫn đến tế bào đích không đáp
ứng.
b. Thụ thể không tiếp nhận phân tử tín hiệu thì sẽ không hoạt hóa được
Một nhà khoa học đã tiến hành gây đáp ứng tế bào gan bằng hormone
insulin để kích thích chuyển hóa glucose thành glycogen. Ông đã tiến
hành hai thí nghiệm như sau:
- Thí nghiệm 1: Cho tế bào gan (A) còn nguyên vẹn vào môi trường có
chứa insulin và glucose.
- Thí nghiệm 2: Tiêm trực tiếp insulin vào trong tế bào gan (B) rồi cho
vào môi trường có chứa glucose.
Sau khi quan sát kết quả, ông nhận thấy glycogen xuất hiện ở một
trong hai tế bào trên. Tế bào nào đã xuất hiện glycogen? Tại sao
glycogen không xuất hiện ở tế bào còn lại?
Thí nghiệm 1 có xuất hiện glycogen do có insulin hoạt hóa các thụ thể
màng ở tế bào gan để vận chuyển các phân tử glucose vào trong tế bào,
còn thí nghiệm 2 không xuất hiện glycogen do insulin không tiếp xúc với
thụ thể màng, dẫn đến không có các phân tử tín hiệu và các tế bào gan
không vận chuyển glucose vào trong tế bào, quá trình chuyển hóa
glucose không diễn ra.
Tế bào (A) đã xuất hiện glycogen vì hormone insulin có bàn chốt là protein
nên không đi qua màng sinh chất mà liên kết với thụ thể trên màng.
Vì vậy, trong thí nghiệm 1, insulin liên kết với thụ thể màng và kích hoạt con
đường truyền tín hiệu vào bên trong tế bào gây đáp ứng tế bào chuyển hoá
glucose thành glycogen.
Tế bào (B) không xuất hiện glycogen vì trong tế bào không có thụ thể tiếp
nhận insulin nên khi tiêm insulin vào trong tế bào sẽ không xảy ra đáp ứng tế
bào.
 








Các ý kiến mới nhất