Đặc điểm nghệ thuật của văn học trung đại từ X đến XIV

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hà Thị Thủy Tiên
Ngày gửi: 22h:32' 14-08-2016
Dung lượng: 9.4 MB
Số lượt tải: 137
Nguồn:
Người gửi: Hà Thị Thủy Tiên
Ngày gửi: 22h:32' 14-08-2016
Dung lượng: 9.4 MB
Số lượt tải: 137
Số lượt thích:
0 người
VĂN HỌC TRUNG HỌC VIỆT NAM
(Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV)
Ch? d?:
CH?NG MINH D?C DI?M NGH? THU?T C?A VAN H?C TRUNG D?I T? CÁC TÁC PH?M
Nhóm thực hiện:
Phạm Thị Thơm
Hà Thị Thủy Tiên
Phạm Thị Việt
Tô Tăng Như Ý
Lê Thị Lam
Võ Thị Kiều Trâm
Hoàng Thị Lan
Trần Mai Chi
Nội dung chính:
(I). LỜI NÓI ĐẦU
(II) NỘI DUNG
1. Tính quy phạm & tính bất quy phạm
a. Tính quy phạm
b. Tính bất quy phạm
2. Khuynh hướng trang nhã & xu hướng bình dị
3. Tiếp thu & dân tộc hóa tinh hoa van học nước ngoài
(III) Kết luận
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Văn học trung đại( còn được gọi bằng những cái tên khác nhau như văn học thành văn, văn học phong kiến, văn học cổ điển) đã xuất hiện như một tất yếu lịch sử đã tác động và có nghĩa to lớn đối với văn học dân tộc. Sau khi hình thành và trải qua hàng chục thế kỷ phát triển văn học trung đại ngày càng thể hiện rõ vị thế chủ đạo của mình trong nền văn học dân tộc , làm cho nền văn học dân tộc ta có diện mạo hoàn chỉnh, phong phú và đa dạng bởi những tác phẩm có tính chất kết tinh từ hai dòng văn học dân gian và văn học viết ở những tác gia văn học ưu tú, kiệt xuất.
LỜI NÓI ĐẦU
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Có thể nói giai đoạn văn học trung đại là một giai đoạn văn học phát triển rực rỡ nhất. Có các chủ đề lớn, có tính chất thời đại,các sự kiện văn học có ý nghĩa cột mốc quan trọng, các tác giả ưu tú,kiệt xuất giai đoạn này như Nguyễn Trãi, Chu An, Đỗ Pháp Thuận, Trần Quốc Tuấn, Lê Thánh Tông,Trương Hán Siêu…. Các tác phẩm có giá trị cao như: Nam quốc sơn hà, Quốc tộ, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bạch Đằng giang phú, Quốc âm thi tập…còn trường tồn mãi với thời gian. Và cũng chính giai đoạn này mà văn học trung đại mang những đặc điểm nghệ thuật rất riêng của dân tộc Việt. Sau đây kính mời thầy cùng các bạn tìm hiểu về nghệ thuật trong văn học trung đại Việt Nam.
NỘI DUNG
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Nghiên cứu tác phẩm “Bạch Đằng giang phú” (Trương Hán Siêu), “ Bình Ngô Đại Cáo” (Nguyễn Trãi)…, PGS.TS. Trần Nho Thìn nhận thấy có một triết lý xuất hiện ở các tác phẩm ấy là “ Tại đức bất tại hiểm” (Do đức chứ không do địa thế hiểm yếu). Đi tìm căn nguyên của triết lý trên, nhà khoa học văn học Trần Nho Thìn đã phát hiện ra một điều độc đáo. Đó là các nhà Nho Việt Nam trung đaị kể trên đã chịu ảnh hưởng chính trị Nho gia qua tác phẩm kinh điển: “Quá Tần luận”, tác giả là Giả Nghị thời Hán. “Tư tưỏng này đã tạo nguồn cảm hứng cho các thi sĩ nhà Nho Việt Nam thời trung đại viết hàng loạt tác phẩm ca ngợi triết lý “Tại đức bất tại hiểm” của các nhà lãnh đạo quân sự của Việt Nam”. Trên đây người viết bài này phân tích một dẫn chứng về nghiên cứu văn học của PGS. TS. Trần Nho Thìn.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Hiện tượng đó đã gợi cho người làm bài suy nghĩ : có nhiều cách để tiếp cận văn học, và cần tiếp cận dưới nhiều góc độ mới hiểu được cơ sở sâu xa của một thời kỳ văn học ...Chẳng hạn, cơ sở lịch sử - xã hội, tâm lý học, triết học... “Văn chương là một hình thái ý thức xã hội, nó phải chịu sự chi phối, sự tác động của các hình thái xã hội khác và sâu xa hơn là sự chi phối của hạ tầng, của tồn tại xã hội”. Mà tiếp cận dưới góc độ thi pháp học và văn hóa học có ý nghĩa khoa học thật sự, đặc biệt là đối với văn học trung đại. Thi pháp học văn học trung đại sẽ chỉ ra những biểu hiện đặc trưng thi pháp của văn học trung đại việt Nam so với văn học hiện đại, các thủ pháp của văn học trung đại thật sự chịu sự chi phối của cơ tầng văn hoá truyền thống, văn hóa Trung Quốc, văn hóa phương Đông. Do vậy, các thủ pháp nghệ thuật của nó có tính bắt buộc và có giá trị chủ yếu trong khuôn khổ trung đại .
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Trên cơ sở phương pháp luận như vậy nghiên cứu đề tài “ Quy phạm văn chương như một đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam”, người làm bài tham vọng tìm hiểu rõ một đặc trưng nổi trội của văn học trung đại.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Quy phạm:
Văn học trung đại Việt Nam cũng giống như bất cứ một thời kỳ văn học nào đều có
đặc trưng riêng của nó. Nổi bật ở văn học trung đại là hai đặc trưng : tính quy phạm và tính dung hợp – tiếp biến. Vậy quy phạm trong văn học là gì? Nó có những biểu hiện nào trong văn học trung đại và cơ sở văn hoá của nó là gì?
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Trước hết cần hiểu quy phạm là những quy tắc khuôn mẫu công thức có tính chất bắt buộc, là sự quy định chặt chẽ theo phép tắc khuôn mẫu. Trong đời sống không thiếu hiện tượng có tính quy phạm. Ví dụ trong lễ thành hôn của Trung Quốc thời xưa qua phim ảnh ta thấy các thủ tục “nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường, phu thê giao bái”. Như vậy quy phạm là biểu hiện của văn minh văn hoá của mỗi con người, ở mỗi cộng đồng người…Theo tác giả Nguyễn Phong Nam, “Khái niệm quy phạm bao hàm một nghĩa rất rộng rãi. Từ những yếu tố có tính bao quát, trừu tượng như phương pháp tư duy, cảm hứng sáng tạo...cho đến những yếu tố cụ thể, chi tiết như các biện pháp kỹ thuật, thủ pháp thể hiện...Tất cả đều chịu sự câu thúc của quy phạm.”
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Về quan niệm, ý thức nghệ thuật:
Trong ý nghĩ, trong phương thức tư duy của thi nhân trung đại luôn ý thức tuân thủ những nguyên tắc. Với người xưa, sáng tạo và tuân thủ các phép tắc (công thức đã được rút đúc những chân lý hiển nhiên) gọi là “điển phạm”, nó được chính trị hoá, “luật hoá” trong tất cả mọi phương diện giao tiếp của xã hội, cần có mặt của văn chương. Chính những công thức, những nguyên tắc hiển nhiên đúng không cần chứng minh này đã trở thành cái chuẩn trong nhiều lĩnh vực.Chẳng hạn, chương trình giáo dục, đào tạo trí thức, nhân tài của chế độ phong kiến có những phương diện được “chuẩn hóa”, mọi người theo đó mà thực hiện. Tính điển phạm xâm nhập vào văn học, bởi lẽ trong công việc đào tạo nhân tài của chế độ phong kiến, văn học bằng chữ Hán là để củng cố phục vụ cho thể chế chính trị.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Vậy nên, tính quy phạm thuộc về quy pháp, thành ý thức hệ, nguyên tắc quan niệm nghệ thuật của các nhà thơ nhà văn trung đại .
Trong quan niệm ý thức nghệ thuật văn chương phong kiến có một số khuôn mẫu thành nguyên tắc, đó là :Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí, văn chương cao nhã, hậu cổ bạc kim, thuật nhi bất tác, sính điển phạm và kị húy.
Trước hết là quan niệm “ Thi dĩ ngôn chí” “ văn dĩ tải đạo”. Văn chương nói lên cái “Chí”, nói cái quan niệm của nhà Nho, thể hiện cách hành xử của nhà Nho trước cuộc đời. “Ngôn chí” cũng là hành vi lập ngôn của người quân tử.
Các bài thơ có nhan đề “Thuật hoài”, “ Cảm hoài” trong văn học trung đại chính là bài thơ tỏ chí, tỏ lòng quen thuộc.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Dưới đây là một bài “tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão
“Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”
(Thuật hoài -Phạm Ngũ Lão)
“Thuật hoài” là bài thơ của Phạm Ngũ Lão thể hiện niềm tự hào trước sức mạnh dân tộc. sức mạnh thời đại (Hào Khí Đông A) và nỗi niềm của tác giả cũng là cái chí cái thẹn của người con trai thời Trần. Văn học trung đại không có không ít các bài thơ ngôn chí như vậy. Ở sáng tác của Nguyễn Trãi, cái “ Chí” đó là nỗi lòng yêu nước thương dân vô cùng của nhà Nho Nguyễn Trãi:
“Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước Triều Đông”.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Ở văn chương từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX có một công thức mang tính bắt buộc trong sáng tác đó là công thức “hậu cổ bạc kim” với ý thức nghệ thuật trọng cái cổ (xưa), cái chân lý được sáng lập từ xưa, từ trước được trân trọng và ca ngợi. Cái cổ (xưa) là cái đã được khẳng định,đã vượt qua được sự sàng lọc của thời gian nên văn học trung đại hay sử dụng điển cố, điển phạm. Sử dụng cái có sẵn của tiền nhân, điển tích điển cố càng nhiều càng thành thạo thì càng chứng tỏ sự điêu luyện hiểu biết của nhà văn. Muốn vậy nhà văn phải đọc nhiều nhớ nhiều và ngoài việc phục vụ thi cử giáo dục người đọc sách còn phục vụ cho việc sáng tạo của họ. Thực ra văn chương xưa hướng đến mục đích thi cử trường quy. Mà yêu cầu trước tiên của văn chương cử tử là khuôn phép và điển phạm. Ai vi phạm coi như công đèn sách ba năm trở thành vô nghĩa. Cần ghi nhận một thực tế sử dụng điển tích điển cố là một ưu thế của văn học phong kiến bởi có quy luật tích cực do sử dụng điển cố. Tiết kiệm ngôn ngữ, lời ít ý nhiều và gợi cảm. Trong văn chương trung đại sử dụng điển cố là một vẻ đẹp của nghệ thuật.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Vậy nên ta dễ thấy công thức này được Nguyễn Khuyến sử dụng khá nhuần nhuyễn để nói chuyện tình cảm cá nhân trong thi ca. Bài thơ “ Khóc Dương Khuê” có các câu sau:
Giường kia treo cũng hững hờ
Đàn kia gãy cũng ngẫn ngơ tiếng đàn
Câu thơ không một tên tuổi của tiền nhân nhưng khách văn chương thừa hiểu hai câu thơ có sử dụng điển tích về tình bạn của Bá Nha - Tử Kỳ. Sự tri âm tri kỷ của họ đến mức khi một người bạn của mình mất đi, người bạn còn lại cảm thấy sự cô đơn và vô hạn, cảm thấy không ai hiểu tiếng đàn tri âm với mình như người đã mất. “Đập vỡ cây đàn” vì lẽ đó. Câu chữ không nhiều, với hai câu ngắn gọn gợi ra tình cảm sâu nặng của Nguyễn Khuyến với Dương Khuê như đôi bạn của tiền nhân Bá Nha – Tử Kỳ.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Về phương thức diễn đạt
Các công thức được kể ra như trên đã ăn sâu vào ý thức nhận thức buộc các nhà Nho tìm ra phương thức để diễn đạt cho tác phẩm. Phương thức diễn đạt chính là nói đến thi pháp kỹ thuật, thao tác. Phương thức diễn đạt của văn chương từ TK X đến hết TK XIX đã trở thành đặc trưng quy phạm. Người sáng tạo và khách văn chương đều hiểu nguyên tắc quy phạm đó, họ xem đó là mã nghệ thuật thú vị của thời đại. Phương thức diễn đạt là một lĩnh vực rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực. Bài viết này chỉ xem xét đặc điểm phạm qua một vài biểu hiện cơ bản.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Phương diện đề tài - chủ đề là một quy tắc diễn đạt của văn chương trung đại. Thơ cổ xoay quanh một số chủ đề khuôn mẫu đã có sẵn như : Tống, biệt, cảm , tặng, cảm, hoài, vịnh, ngâm, hứng, điếu, vãn...Bản thân mỗi đề tài, chủ đề đã ấn định sẵn nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật. Nhiệm vụ của nhà văn là tìm cách diễn đạt phù hợp với khuôn mẫu, vi phạm sẽ coi là dốt nát. Văn chương Trung đại thường xoay quyanh các đề tài: tứ thời, tứ dân, tứ bình. Nhà nghiên cứu văn học GS.TS Lê Trí Viễn đã đưa ra một kết luận khoa học từ phương pháp thống kê : “ Giở hợp tuyển thơ văn Việt Nam Nxb văn học 1976, tính từ “ Chiếu dời đô” cho đến “Cảm hoài” từ đầu đời Lý đến cuối đời Trần, ngoài các bài văn xuôi, phú có 80 bài thơ dùng đầu đề trên đây, và 7 bài loại thị tịch, kệ. Một số lượng đậm đặc như vậy có ý nghĩa yêu cầu thời trung đại trong phạm vi một thể loại thơ”
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Nói về mô hình cấu trúc, hình thức diễn đạt của văn học phong kiến, ta thấy văn chương thời kỳ này có yêu cầu đối với nghệ sĩ là sử dụng mô hình cấu trúc có sẵn để ký thác tư tưởng của mình. Nhà văn sáng tác theo nguyên tắc: đảm bảo tính hệ thống và sự chuyên biệt hóa về mặt chức năng. Chuyên biệt hoá qua việc sử dụng một loại hình văn chương phù hợp với một hoàn cảnh nhất định. “Cáo” chỉ được sử dụng khi thiên tử (vua) cần thông báo đại sự cho nhân dân.Văn tế là thể loại viết ra để phúng viếng người mất.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Tính quy phạm về thể loại biểu hiện ở việc sử dụng các thể loại có niêm luật khá chặt chẽ vay mượn từ văn học Trung Hoa. Phú đường luật, cáo thường có kiểu câu biền ngẫu (hai con ngựa sóng đôi), bố cục gồm các phần được quy định sẵn. Tiêu biểu cho quy phạm thể loại là sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật. Thơ thất ngôn bát cú Đường luật tất yếu có 8 câu mỗi câu 7 tiếng với quy luật niêm bắt buộc ở các cặp câu sau phải dùng thanh bằng hay thanh sắc 1- 8, 2-3, 4-5, 6-7,. Mỗi bài lại có hai cặp câu đối thanh đối ý ở vị trí câu 3-4 và 5-6. Như vậy do quá trình tiếp biến văn học, thể thơ quy phạm triệt để trong mỹ thuật Phương Đông ở Trung Quốc đã tiếp biến và thành quy phạm của văn chương Việt.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Ngôn từ : Văn chương bác học yêu cầu khá nguyên tắc về sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong sáng tác phải hàm súc, tinh luyện, độ chuẩn xác cao mà người ta gọi kĩ thuật đúc chữ. Sử dụng ngôn ngữ Hán và chữ Nôm văn học thời kỳ từ TK X đến hết TK XIX còn gọi là văn học Hán – Nôm. Chữ Hán là thứ văn tự chính thức của nhà nước phong kiến, nó là thứ văn tự bắt buộc trong thi cử. Thậm chí nó được đề cao hơn chữ Nôm khi sáng tác văn học. Nguyên tắc sử dụng ngôn từ của văn học Hán –Nôm là hàm súc lời ít ý nhiều. Để đạt hiệu quả đó, thi nhân xưa phải thông thạo trong việc sử dụng các mẹo luật, các phép tắt từ. Theo chủ quan của người viết bài này, phép đối là một thủ pháp đặc trưng và phổ biến của thơ ca cổ điển. Bởi lẽ, phép đối được vận dụng phù hợp sẽ nhấn mạnh được nội dung ý nghĩa, khả năng gợi liên tưởng cũng như tạo nhịp điệu cho thi phẩm. Cái độc đáo khi mỗi tác giả vận dụng sáng tạo phép đối dễ nhận ra nếu khảo sát thơ Bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Đọc thơ của Bà Huyện Thanh Quan ta nhận thấy cái nhịp nhàng đăng đối vững vàng của từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu một phần được kiến tạo từ phép đối, kiểu như : “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”, hay “Lom khom dưới núi tiều vài chú, lác đác bên sông chợ mấy nhà”. Cũng ngay trong khuôn khổ của phép đối rất quy phạm chỉnh chu của thơ Đường, Hồ Xuân Hương đã tạo ra những câu thơ có sử dụng phép đối lại làm nghiên ngã câu thơ thất ngôn quen thuộc : “Xiên ngang mặt đát rêu từng đám, Đâm toạt chân mây đá mấy hòn”(Tự tình).
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Về hình tượng nghệ thuật văn học trung đại có những công thức quen thuộc. Chẳng hạn hình tượng nghệ thuật để nói về quân tử thì có tùng, cúc, trúc, mai. Về thiên nhiên thì có phong, hoa, tuyết, nguyệt. Về tứ thú thì có ngư tiều canh mục. Xem xét thế giới nghệ thuật của văn học Hán Nôm, các nhà nghiên cứu văn học hoàn toàn thống nhất rằng văn chương trung đại quy phạm chặt chẽ ở phương diện hình tượng nghệ thuật. Trạng thái tình cảm, cảm xúc của con người vốn phong phú khó lường hết được, nhưng văn học phong kiến vẫn có mẫu quen thuộc để diễn đạt tâm trạng như bạch đầu, tơ vò chín khúc...
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Điều cần lưu ý là trong sự chi phối của văn hoá - văn học trung đại một mặt các nhà Nho tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu quy phạm của văn học phong kiến, mặt khác các nghệ sĩ văn chương thời kỳ này đã bức phá khỏi khuôn khổ của quy phạm văn chương. Chẳng hạn, bên cạnh đặc điểm cao nhã nhiều cây bút tài năng đã đưa hình ảnh bình dị đời thường vào thơ ca. Bên cạnh tính quy phạm , nhiều nhà Nho trong sáng tác đã phá vỡ tính quy phạm. Đó có thể xem là sự sáng tạo độc đáo của các nghệ sĩ trung đại làm cho văn học nước ta ngày càng được dân tộc hóa và hiện đại hóa.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Trên đây là một số biểu hiện quy phạm của văn học Hán Nôm không chỉ phương diện phương thức diễn đạt mà còn ở chiều sâu của tư duy, quan niệm. Trong quá trình phân tích và chứng minh những biểu hiện quy phạm như là một đặc trưng của văn học trung đại, chúng tôi đã lý giải phần nào căn cứ của tính quy phạm ở văn học cổ điển. Dưới đây, người làm bài thống kê lại những cơ sở của tính quy phạm đã được nhiều công trình nghiên cứu.Ở đây chúng tôi dựa vào kết luận của tác giả Nguyễn Phong Nam ở giáo trình “Thi pháp học văn học trung đại Việt Nam”.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Trước hết, xuất phát từ quy luật nhận thức của con người. Mô hình hóa thế giới vật thể, thế giới nội tâm của con người là một phương thức thuận tiện để nhận thức đối tượng, vì vậy người sáng tác văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX đã vận dụng đến mức trở thành một nguyên tắc sáng tạo.Nguyên nhân trực tiếp hơn là ở yêu cầu bắt buộc của trường quy, của nguyên tắc giáo dục của chế độ phong kiến.Chế độ thi cử của mười thế kỷ trung đại với biết bao chuẩn mực quy phạm, nó trở thành chuẩn mực để thi nhân đối chiếu khi sáng tác hay thưởng thức. Nó trở thành một quy ước xã hội về văn chương.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Nói về đặc trưng của văn học Hán Nôm, tính quy phạm của nó có thể nói có gốc gác từ văn chương Trung Quốc. Văn học Trung Quốc vốn sính quy phạm, điều đó đã tỏa bóng vào văn học cổ điển Việt Nam bằng con đường tiếp biến và sự khích lệ từ thiết chế chính trị, từ ý thức hệ.
Tính quy phạm là những quy định chặt chẽ trong những phạm vi giới hạn đã được định sẵn mà người sáng tác văn học buộc phải tuân theo trong quá trình sáng tác. Đặc điểm này nhằm hướng tới việc giáo huấn đạo đức. Mục đích chung của các nhà Nho là giáo hóa cuộc đời dù sáng tác có lúc để tiêu khiển, một thú chơi văn hóa, tao nhã. ``Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí``, văn thơ sáng tác là để giáo huấn đạo đức, văn thơ dùng để tải đạo, để bộc lộ ý chí, diễn đạt tiếng nói của thời đại. Ngôn ngữ sáng tác gồm chữ Hán và chữ Nôm nhưng chữ Hán được xem là chính thống.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Bất quy phạm có nghĩa là không chịu gò mình, tự cởi trói khỏi khuôn khổ, những quy định ràng buộc trong quá trình sáng tác.
+ Suốt 10 TK văn học trung đại cũng đã phá bỏ dần tính quy phạm, ước lệ để phát huy cá tính, sáng tạo nội dung và hình thức thể hiện. Các tác giả đã có nhiều tác phẩm viết bằng chữ Nôm rất thành công như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du,...
+ Bên cạnh đó còn đem vào trong sáng tác các thể thơ nội sinh như lục bát, hát nói, có sử dụng một số thể thơ Đường nhưng có ý thức đổi mới chẳng hạn thơ thất ngôn xen lục ngôn :
Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh phát cỏ ương sen
Nguyễn Trãi
Hay Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét
Trải qua một cuộc bể dâu.
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Nguyễn Du
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
b. Tớnh b?t quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
+ Hình ảnh dân dã, bình dị, gắn liền với đời sống con người Việt Nam. Chẳng hạn rau muống, bèo, quả mít, cái quạt, con ốc nhồi...
Qua (Qủa dưa)
Ngọt bằng mít,mát bằng dừa,
Trợ khát nào qua một quả dưa,
Mùi mẻ ngon, người dễ trọng,
Tinh thần lạ, thế dễ ưa.
Lê Thánh Tông
- Phá vỡ: khai thác ngôn ngữ dân gian, sáng tạo ra các thể thơ mới để cho hồn thơ nở hoa kết trái tự nhiên nhiều màu sắc và ngọt dịu hơn, tạo nên khuynh hướng dân chủ hóa văn học thể hiện tinh thần dân tộc mặc dù viết bằng chữ Hán nhưng thể hiện tâm hồn của người Việt. Vận dụng thành thạo chữ Nôm, thể thơ lục bát, song thất lục bát,…
- Ảnh hưởng: chữ viết, thể thơ, thi liệu, văn liệu.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
b. Tớnh b?t quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Văn chương Trung đại Việt Nam có tính quy phạm là do nước ta giáp với Trung Quốc, một nền văn minh cổ của nhân loại. Hơn nữa Việt Nam còn phải chịu hơn 1000 năm phong kiến Bắc thuộc. Phong kiến phương Bắc luôn có ý đồng hóa dân tộc Việt Nam nên người Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố Hán và văn hóa Hán. Và đến khi dân tộc ta giành được độc lập thì nước ta xây dựng nhà nước theo hình thái xã hội phong kiến, một xã hội của chữ lễ mà có thể coi quy phạm là một biểu hiện của chữ lễ đó. Tôn ti cao thấp là đặc trưng của xã hội phong kiến nên văn chương cũng có loại cao loại thấp. Tính chất cao quý từ quan niệm nguồn gốc, quan niệm sáng tác và sinh hoạt thơ văn xưa cũng đẻ ra tính quy phạm. Tuy vậy nhưng chúng ta một mặt tiếp thu những tinh hoa của văn học Trung Quốc nhưng mặt khác lại cũng không ngừng phát triển văn học của đất nước mình theo xu hướng dân chủ hóa, dân tộc hóa. Do vậy người Việt Nam đã cố gắng phá vỡ tính quy phạm.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
b. Tớnh b?t quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Văn học trung đại có đề tài hướng tới cái cao cả, trang trọng, hình tượng nghệ thuật hướng tới vẻ tao nhã, mĩ lệ với ngôn ngữ cao quý, diễn đạt trau chuốt, hoa mĩ. Dần dần, văn học Việt Nam cũng đã có những nỗ lực không nhỏ để tiếp cận với xu hướng bình dân, gần gũi với đời sống của con người Việt Nam.
+ Đề tài, chủ đề: hướng tới cái cao cả trang trọng hơn cái đời thường bình dị.
+ Nghệ thuật: hướng tới vẻ tao nhã, mĩ lệ hơn vẻ đẹp thô sơ, mộc mạc.
+ Ngôn ngữ: mang tính nghệ thuật, cách diễn đạt trau chuốt, hoa mĩ hơn là thông tục, tự nhiên.
- Văn học gắn liền với hiện thực, đưa cái trang trọng tao nhã về gần gũi với đời sống hiện thực, tự nhiên và bình dị.
– Khuynh hướng trang nhã ở đề tài, chủ đề cao cả, trang trọng, hình tượng tao nhã mĩ lệ, ngôn ngữ trau chuốt, hoa mĩ.
Vd: Truyện Kiều (Nguyễn Du).
Đoạn trích “Hai chị em Thuý Kiều” nằm ở phần đàu của câu chuyện. Trong đoạn trích này, Nguyễn Du tập trung miêu tả hai chân dung tuyệt mỹ của chị em Thuý Kiều bằng bút pháp ước lệ. Đằng sau những nét bút miêu tả tinh tế và độc đáo, người đọc có thể nhận thấy tấm lòng ưu ái, trân trọng đặc biệt của Nguyễn Du đối với nhân vật của mình.
2. Khuynh hu?ng trang nhó và xu hu?ng bỡnh d?.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Qua ngòi bút của Nguyễn Du, hai chị em Thuý Kiều đều xinh đẹp, nhưng “mỗi người (tài tình) mỗi vẻ” với dự báo trước số phận, tính cách, cuộc đời của mỗi nhân vật, đặc biệt là Thuý Kiều, nhân vật của truyện.
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du giới thiệu vẻ đẹp chung về hai chị em với bốn câu thơ:
“Đầu lòng hai ả tố nga
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”
Cả hai chị em đều có vẻ đẹp toàn mỹ, từ hình thức bên ngoài “Mai cốt cách” đến vẻ đẹp bên trong tâm hồn “Tuyết tinh thần”. Vẻ đẹp của Thuý Vân được miêu tả ở bốn câu thơ tiếp:
“Vân xen trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”
2. Khuynh hu?ng trang nhó và xu hu?ng bỡnh d?.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Quả thật, với những từ ngữ trau chuốt, những hình ảnh ước lệ tượng trưng vẻ đẹp và giàu sức gợi tả, được lọc qua tâm hồn mẫn cảm, tinh tế, Ng.Du đã khắc hoạ khá sống động vẻ đẹp đài các, đoan trang viên mãn, mơn mởn sức sống của Thuý Vân, biểu hiện một tâm hồn vô tư, dự báo trước một cuộc đời yên ổn, vinh hoa, phú quý sẽ mỉm cười, vui vẻ rước đón nàng.
Song, việc miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân, không phải là chủ đích nghệ thuật của tác giả. Đó thực chất chỉ là việc tạo tiền đề, tao ra một điểm tựa nghệ thuật “tả khách hình chủ” để làm nổi bật hơn tài sắc của Thuý Kiều, nhân vật trung tâm của tác phẩm.
2. Khuynh hu?ng trang nhó và xu hu?ng bỡnh d?.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
- Ngôn ngữ dùng chữ Hán để sáng tác: Phần lớn các tác phẩm văn học trung đại đều viết bằng chữ Hán, có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như:
Chuyện người con gái Nam Xương, truyện thứ 16 trong 20 truyện truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (TK 16), mượn cốt truyện “Vợ chàng Trương”. Là truyện truyền kì viết bằng chữ Hán – một thể loại của văn học Trung Quốc. Truyện khẳng định vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, niềm cảm thương số phận bi kịch của họ dưới chế độ phong kiến. Kết hợp những yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo, hoang đường với cách kể chuyện, xây dựng nhân vật rất thành công.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh viết khoảng đầu đời Nguyễn (đầu TK XIX) của Phạm Đình Hổ cũng là một tùy bút viết bằng chữ Hán. Tái hiện đời sống xa hoa vô độ của bọn vua chúa, quan lại phong kiến thời vua Lê, chúa Trịnh suy tàn. Ghi chép theo cảm hứng sự việc, câu chuyện con người đương thời cụ thể, sinh động.
Hồi thứ 14 của Hoàng Lê Nhất Thống Trí của Ngô Gia Văn Phái (TK XVIII) là tiểu thuyết lịch sử chương hồi cũng viết bằng chữ Hán, phản ánh giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam cuối TK XVIII. Với cách kể chuyện nhanh gọn, chọn lọc sự việc, khắc họa nhân vật chủ yếu qua hành động và lời nói.
+Thể loại: Văn vần (thể cổ phong và Đường luật), văn xuôi, chiếu, biểu, truyền kì, tiểu thuyết,...
Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt là thể thơ do các thi sĩ đời Đường (618-907) nước Trung Hoa sáng tạo nên. Mỗi bài có 4 câu, mội câu 7 tiếng.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
Nam Quốc Sơn Hà của Lí Thường Kiệt là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng chữ Hán:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư “
Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản đầu tiên của Việt Nam, khẳng định chủ quyền của nhà cầm quyền Đại Việt trên các vùng đất của mình.
Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm, bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam cả về thể chất lẫn tinh thần, tố cáo XHPK vùi dập, coi thường người phụ nữ.
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Thể thơ thất ngôn bát cú được hình thành từ thời nhà Đường. Một thời gian dài trong chế độ phong kiến, thể thơ này đã được dùng cho việc thi cử tuyển chọn nhân tài. Thể thơ này đã được phổ biến ở nước ta vào thời Bắc thuộc và chủ yếu được những cây bút quý tộc sử dụng. Mỗi bài gồm 8 câu, mỗi câu 7 tiếng.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
Tóm lại, văn học trung đại Việt Nam tiếp thu khá đa dạng các loại hình văn học Trung Quốc, từ đó sáng tạo nên những tác phẩm đặc sắc mang hơi thở thời đại.
Điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật phổ biến, quan trọng không thể thiếu của văn học cổ điển. Trong giai đoạn trung đại, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai tượng đài tiêu biểu nhất của văn học cổ điển Việt Nam. Cả hai đều được tôn vinh là đại thi hào. Vậy thì chỉ xét riêng trong thủ pháp nghệ thuật này, ta sẽ thấy gì về đặc trưng phong cách của mỗi thi hào?
Vì thành tựu văn học của hai nhà thơ này là quá đồ sộ, trong khuôn khổ một bài viết ngắn khó có thể khảo sát thấu đáo toàn bộ nên người viết chỉ chọn ra hai tác phẩm chữ Nôm tiêu biểu nhất của hai ông để nhận xét.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
+ Điển cố trong Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi:
Trong Quốc Âm thi tập, Nguyễn Trãi sử dụng rất nhiều điển cố, điển tích, cụ thể là trong 71 bài, với nhiều cách đa dạng và phong phú. Các điển cố, điển tích này có thể quy vào các loại, được thống kê như sau:
- Mượn tên địa danh: 18 địa danh, xuất hiện 23 lần
- Mượn tên học phái: 2 học phái, xuất hiện 6 lần
- Mượn tên ẩn sĩ: 14 người, 23 lần
- Mượn tên Nhà thơ: 5 người, 9 lần
- Mượn tên Người đẹp: 7 người, 8 lần
- Các tên tuổi khác: quan tốt, trung thần, tài tử, đạo sĩ, thuyết khách, nhà thám hiểm, mạnh thường quân…
- Mượn các câu nói, câu truyện nổi tiếng: 15 lần.
Đặc biệt có những tên tuổi là điển hình cho nhiều phương diện, ví dụ như Đỗ Phủ vừa là nhà thơ, vừa là trung thần, ẩn sĩ… Lý Bạch là nhà thơ, tài tử, hiệp khách, ẩn sĩ…
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
* Sáng tác ra chữ Nôm ghi âm tiếng Việt
- Văn học Việt Nam là sự tích hợp từ hai dòng văn học dân gian và văn học viết của những người dùng tiếng Việt. Trong suốt thời phong kiến, phần lớn các tác phẩm thành văn của văn học Việt Nam được viết bằng chữ Hán do nhiều nguyên nhân: ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, thiếu chữ viết bản địa, chữ Nôm ra đời lại không được triều đình khuyến khích... Về sau, văn học Việt Nam được thống nhất viết bằng chữ quốc ngữ.
- Nhiều phát hiện mới của khảo cổ học chứng minh từ thời đại Hùng Vương, người Việt đã có một nền văn hóa với nhiều nét cá tính khá rõ rệt, thể hiện qua nhiều thần thoại và truyền thuyết. Tiếp theo một thời gian dài tiếp xúc với nền văn hóa Trung Quốc tiên tiến hơn nhiều mặt, người Việt đã biết cách chuyển hóa chữ Hán trên nền tảng văn hóa Việt, đọc theo thanh điệu của tiếng Việt mà vẫn hiểu được một cách chính xác các giá trị tư tưởng, văn hóa, triết học của Trung Quốc lẫn của người Việt.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
Từ truyền thống văn hóa có sẵn, Hán học tiếp sức cho người Việt hình thành nền văn học độc lập của dân tộc và là nền tảng, cơ sở để sáng tạo ra chữ viết đầu tiên: chữ Nôm.
- Về mặt thể loại, hình thức : văn học viết thời kỳ đầu chủ yếu là thơ với hai loại: cổ thể và cận thể - tôn trọng khuôn phép mẫu mực của thơ ca Trung Quốc; ngoài ra theo Dương Quảng Hàm (trong quyển Văn học Việt Nam) thì văn viết trong thời kỳ đầu "có nhiều thể, nhưng có thể chia ra làm ba loại lớn" gồm:
• Vận văn: tức loại văn có vần
• Biền văn: tức loại văn không có vần mà có đối (như câu đối)
• Tản văn hoặc văn xuôi: tức loại văn không có vần mà cũng không có đối.
Cuối thế kỷ 18 trở đi, khi chữ Nôm hình thành thì văn học viết có vài chuyển biến trong sáng tác: văn học từ chiếu cung đình dần thâm nhập vào đời sống thường nhật (văn chương bình dân) và cái tôi cá nhân bắt đầu được đề cập đến. "Bà Chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương và Truyện Kiều (của Nguyễn Du) được xem là những thành tựu nổi bật của chữ Nôm trong văn học Việt Nam.
• Thời kỳ văn học Trung đại (từ thế kỷ 10 đến cuối thế kỷ 19) gồm: tự sự và trữ tình.
- Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi.
Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
Về văn bản thì khi tìm chứng tích trước thời nhà Lý, văn tịch hoàn toàn không lưu lại dấu vết chữ Nôm nào cả. Sang thời Lý thì mới có một số chữ Nôm như trong bài bi ký ở chùa xã Hương Nộn, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ (tạc năm 1173 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 11) hay bia chùa Tháp Miếu, huyện Yên Lãng (nay thuộc Phúc Yên, tỉnhVĩnh Phúc (tạc năm 1210 triều vua Lý Cao Tông).
Trước tác thì phải sang thời nhà Trần mới có dấu tích rõ ràng.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
- Phát triển chữ Nôm:
Trang chữ Nôm trong Dialogues Cochinchinois in năm 1871 tại Paris, Pháp, có phiên giải ra tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Latin. Trang này liệt kê những sản vật giá trị Nam Kỳ có thể bán cho các thương thuyền ngoại quốc như da trâu, quế, gỗ mun, ngà voi... đổi lấy mua súng ống các loại
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
Truyện Nôm Phan Trần, ấn bản Nhâm dần (1902) triều Thành Thái
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
Chữ Nôm khảm xà cừ dùng trang trí trên điếu ống thế kỷ 19-20 thời Nguyễn
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
+ Những cách tạo chữ Nôm:
Áng văn Nôm Truyện Kiều bản Chiêm Vân Thị dưới tựa Thúy Kiều Truyện tường chú
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
+ Những cách tạo chữ Nôm:
Ba câu lục bát đầu của Truyện Kiều
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
- Mượn cả âm và nghĩa của chữ Hán
Mượn cả âm đọc (âm Hán Việt) và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các từ từ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là:
• Âm Hán Việt tiêu chuẩn: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán thời Đường. Ví dụ: "ông" 翁, "bà" 婆, "thuận lợi" 順利, "công thành danh toại" 功成名遂.
• Âm Hán Việt cổ: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường. Ví dụ: "mùa" 務 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là"vụ"), "bay" 飛 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "phi"), "buồng" 房 (âm Hán Việt tiê
(Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIV)
Ch? d?:
CH?NG MINH D?C DI?M NGH? THU?T C?A VAN H?C TRUNG D?I T? CÁC TÁC PH?M
Nhóm thực hiện:
Phạm Thị Thơm
Hà Thị Thủy Tiên
Phạm Thị Việt
Tô Tăng Như Ý
Lê Thị Lam
Võ Thị Kiều Trâm
Hoàng Thị Lan
Trần Mai Chi
Nội dung chính:
(I). LỜI NÓI ĐẦU
(II) NỘI DUNG
1. Tính quy phạm & tính bất quy phạm
a. Tính quy phạm
b. Tính bất quy phạm
2. Khuynh hướng trang nhã & xu hướng bình dị
3. Tiếp thu & dân tộc hóa tinh hoa van học nước ngoài
(III) Kết luận
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Văn học trung đại( còn được gọi bằng những cái tên khác nhau như văn học thành văn, văn học phong kiến, văn học cổ điển) đã xuất hiện như một tất yếu lịch sử đã tác động và có nghĩa to lớn đối với văn học dân tộc. Sau khi hình thành và trải qua hàng chục thế kỷ phát triển văn học trung đại ngày càng thể hiện rõ vị thế chủ đạo của mình trong nền văn học dân tộc , làm cho nền văn học dân tộc ta có diện mạo hoàn chỉnh, phong phú và đa dạng bởi những tác phẩm có tính chất kết tinh từ hai dòng văn học dân gian và văn học viết ở những tác gia văn học ưu tú, kiệt xuất.
LỜI NÓI ĐẦU
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Có thể nói giai đoạn văn học trung đại là một giai đoạn văn học phát triển rực rỡ nhất. Có các chủ đề lớn, có tính chất thời đại,các sự kiện văn học có ý nghĩa cột mốc quan trọng, các tác giả ưu tú,kiệt xuất giai đoạn này như Nguyễn Trãi, Chu An, Đỗ Pháp Thuận, Trần Quốc Tuấn, Lê Thánh Tông,Trương Hán Siêu…. Các tác phẩm có giá trị cao như: Nam quốc sơn hà, Quốc tộ, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Bạch Đằng giang phú, Quốc âm thi tập…còn trường tồn mãi với thời gian. Và cũng chính giai đoạn này mà văn học trung đại mang những đặc điểm nghệ thuật rất riêng của dân tộc Việt. Sau đây kính mời thầy cùng các bạn tìm hiểu về nghệ thuật trong văn học trung đại Việt Nam.
NỘI DUNG
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Nghiên cứu tác phẩm “Bạch Đằng giang phú” (Trương Hán Siêu), “ Bình Ngô Đại Cáo” (Nguyễn Trãi)…, PGS.TS. Trần Nho Thìn nhận thấy có một triết lý xuất hiện ở các tác phẩm ấy là “ Tại đức bất tại hiểm” (Do đức chứ không do địa thế hiểm yếu). Đi tìm căn nguyên của triết lý trên, nhà khoa học văn học Trần Nho Thìn đã phát hiện ra một điều độc đáo. Đó là các nhà Nho Việt Nam trung đaị kể trên đã chịu ảnh hưởng chính trị Nho gia qua tác phẩm kinh điển: “Quá Tần luận”, tác giả là Giả Nghị thời Hán. “Tư tưỏng này đã tạo nguồn cảm hứng cho các thi sĩ nhà Nho Việt Nam thời trung đại viết hàng loạt tác phẩm ca ngợi triết lý “Tại đức bất tại hiểm” của các nhà lãnh đạo quân sự của Việt Nam”. Trên đây người viết bài này phân tích một dẫn chứng về nghiên cứu văn học của PGS. TS. Trần Nho Thìn.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Hiện tượng đó đã gợi cho người làm bài suy nghĩ : có nhiều cách để tiếp cận văn học, và cần tiếp cận dưới nhiều góc độ mới hiểu được cơ sở sâu xa của một thời kỳ văn học ...Chẳng hạn, cơ sở lịch sử - xã hội, tâm lý học, triết học... “Văn chương là một hình thái ý thức xã hội, nó phải chịu sự chi phối, sự tác động của các hình thái xã hội khác và sâu xa hơn là sự chi phối của hạ tầng, của tồn tại xã hội”. Mà tiếp cận dưới góc độ thi pháp học và văn hóa học có ý nghĩa khoa học thật sự, đặc biệt là đối với văn học trung đại. Thi pháp học văn học trung đại sẽ chỉ ra những biểu hiện đặc trưng thi pháp của văn học trung đại việt Nam so với văn học hiện đại, các thủ pháp của văn học trung đại thật sự chịu sự chi phối của cơ tầng văn hoá truyền thống, văn hóa Trung Quốc, văn hóa phương Đông. Do vậy, các thủ pháp nghệ thuật của nó có tính bắt buộc và có giá trị chủ yếu trong khuôn khổ trung đại .
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Trên cơ sở phương pháp luận như vậy nghiên cứu đề tài “ Quy phạm văn chương như một đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam”, người làm bài tham vọng tìm hiểu rõ một đặc trưng nổi trội của văn học trung đại.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Quy phạm:
Văn học trung đại Việt Nam cũng giống như bất cứ một thời kỳ văn học nào đều có
đặc trưng riêng của nó. Nổi bật ở văn học trung đại là hai đặc trưng : tính quy phạm và tính dung hợp – tiếp biến. Vậy quy phạm trong văn học là gì? Nó có những biểu hiện nào trong văn học trung đại và cơ sở văn hoá của nó là gì?
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Trước hết cần hiểu quy phạm là những quy tắc khuôn mẫu công thức có tính chất bắt buộc, là sự quy định chặt chẽ theo phép tắc khuôn mẫu. Trong đời sống không thiếu hiện tượng có tính quy phạm. Ví dụ trong lễ thành hôn của Trung Quốc thời xưa qua phim ảnh ta thấy các thủ tục “nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường, phu thê giao bái”. Như vậy quy phạm là biểu hiện của văn minh văn hoá của mỗi con người, ở mỗi cộng đồng người…Theo tác giả Nguyễn Phong Nam, “Khái niệm quy phạm bao hàm một nghĩa rất rộng rãi. Từ những yếu tố có tính bao quát, trừu tượng như phương pháp tư duy, cảm hứng sáng tạo...cho đến những yếu tố cụ thể, chi tiết như các biện pháp kỹ thuật, thủ pháp thể hiện...Tất cả đều chịu sự câu thúc của quy phạm.”
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Về quan niệm, ý thức nghệ thuật:
Trong ý nghĩ, trong phương thức tư duy của thi nhân trung đại luôn ý thức tuân thủ những nguyên tắc. Với người xưa, sáng tạo và tuân thủ các phép tắc (công thức đã được rút đúc những chân lý hiển nhiên) gọi là “điển phạm”, nó được chính trị hoá, “luật hoá” trong tất cả mọi phương diện giao tiếp của xã hội, cần có mặt của văn chương. Chính những công thức, những nguyên tắc hiển nhiên đúng không cần chứng minh này đã trở thành cái chuẩn trong nhiều lĩnh vực.Chẳng hạn, chương trình giáo dục, đào tạo trí thức, nhân tài của chế độ phong kiến có những phương diện được “chuẩn hóa”, mọi người theo đó mà thực hiện. Tính điển phạm xâm nhập vào văn học, bởi lẽ trong công việc đào tạo nhân tài của chế độ phong kiến, văn học bằng chữ Hán là để củng cố phục vụ cho thể chế chính trị.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Vậy nên, tính quy phạm thuộc về quy pháp, thành ý thức hệ, nguyên tắc quan niệm nghệ thuật của các nhà thơ nhà văn trung đại .
Trong quan niệm ý thức nghệ thuật văn chương phong kiến có một số khuôn mẫu thành nguyên tắc, đó là :Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí, văn chương cao nhã, hậu cổ bạc kim, thuật nhi bất tác, sính điển phạm và kị húy.
Trước hết là quan niệm “ Thi dĩ ngôn chí” “ văn dĩ tải đạo”. Văn chương nói lên cái “Chí”, nói cái quan niệm của nhà Nho, thể hiện cách hành xử của nhà Nho trước cuộc đời. “Ngôn chí” cũng là hành vi lập ngôn của người quân tử.
Các bài thơ có nhan đề “Thuật hoài”, “ Cảm hoài” trong văn học trung đại chính là bài thơ tỏ chí, tỏ lòng quen thuộc.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Dưới đây là một bài “tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão
“Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”
(Thuật hoài -Phạm Ngũ Lão)
“Thuật hoài” là bài thơ của Phạm Ngũ Lão thể hiện niềm tự hào trước sức mạnh dân tộc. sức mạnh thời đại (Hào Khí Đông A) và nỗi niềm của tác giả cũng là cái chí cái thẹn của người con trai thời Trần. Văn học trung đại không có không ít các bài thơ ngôn chí như vậy. Ở sáng tác của Nguyễn Trãi, cái “ Chí” đó là nỗi lòng yêu nước thương dân vô cùng của nhà Nho Nguyễn Trãi:
“Bui một tấc lòng ưu ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nước Triều Đông”.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Ở văn chương từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX có một công thức mang tính bắt buộc trong sáng tác đó là công thức “hậu cổ bạc kim” với ý thức nghệ thuật trọng cái cổ (xưa), cái chân lý được sáng lập từ xưa, từ trước được trân trọng và ca ngợi. Cái cổ (xưa) là cái đã được khẳng định,đã vượt qua được sự sàng lọc của thời gian nên văn học trung đại hay sử dụng điển cố, điển phạm. Sử dụng cái có sẵn của tiền nhân, điển tích điển cố càng nhiều càng thành thạo thì càng chứng tỏ sự điêu luyện hiểu biết của nhà văn. Muốn vậy nhà văn phải đọc nhiều nhớ nhiều và ngoài việc phục vụ thi cử giáo dục người đọc sách còn phục vụ cho việc sáng tạo của họ. Thực ra văn chương xưa hướng đến mục đích thi cử trường quy. Mà yêu cầu trước tiên của văn chương cử tử là khuôn phép và điển phạm. Ai vi phạm coi như công đèn sách ba năm trở thành vô nghĩa. Cần ghi nhận một thực tế sử dụng điển tích điển cố là một ưu thế của văn học phong kiến bởi có quy luật tích cực do sử dụng điển cố. Tiết kiệm ngôn ngữ, lời ít ý nhiều và gợi cảm. Trong văn chương trung đại sử dụng điển cố là một vẻ đẹp của nghệ thuật.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Vậy nên ta dễ thấy công thức này được Nguyễn Khuyến sử dụng khá nhuần nhuyễn để nói chuyện tình cảm cá nhân trong thi ca. Bài thơ “ Khóc Dương Khuê” có các câu sau:
Giường kia treo cũng hững hờ
Đàn kia gãy cũng ngẫn ngơ tiếng đàn
Câu thơ không một tên tuổi của tiền nhân nhưng khách văn chương thừa hiểu hai câu thơ có sử dụng điển tích về tình bạn của Bá Nha - Tử Kỳ. Sự tri âm tri kỷ của họ đến mức khi một người bạn của mình mất đi, người bạn còn lại cảm thấy sự cô đơn và vô hạn, cảm thấy không ai hiểu tiếng đàn tri âm với mình như người đã mất. “Đập vỡ cây đàn” vì lẽ đó. Câu chữ không nhiều, với hai câu ngắn gọn gợi ra tình cảm sâu nặng của Nguyễn Khuyến với Dương Khuê như đôi bạn của tiền nhân Bá Nha – Tử Kỳ.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Về phương thức diễn đạt
Các công thức được kể ra như trên đã ăn sâu vào ý thức nhận thức buộc các nhà Nho tìm ra phương thức để diễn đạt cho tác phẩm. Phương thức diễn đạt chính là nói đến thi pháp kỹ thuật, thao tác. Phương thức diễn đạt của văn chương từ TK X đến hết TK XIX đã trở thành đặc trưng quy phạm. Người sáng tạo và khách văn chương đều hiểu nguyên tắc quy phạm đó, họ xem đó là mã nghệ thuật thú vị của thời đại. Phương thức diễn đạt là một lĩnh vực rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực. Bài viết này chỉ xem xét đặc điểm phạm qua một vài biểu hiện cơ bản.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Phương diện đề tài - chủ đề là một quy tắc diễn đạt của văn chương trung đại. Thơ cổ xoay quanh một số chủ đề khuôn mẫu đã có sẵn như : Tống, biệt, cảm , tặng, cảm, hoài, vịnh, ngâm, hứng, điếu, vãn...Bản thân mỗi đề tài, chủ đề đã ấn định sẵn nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật. Nhiệm vụ của nhà văn là tìm cách diễn đạt phù hợp với khuôn mẫu, vi phạm sẽ coi là dốt nát. Văn chương Trung đại thường xoay quyanh các đề tài: tứ thời, tứ dân, tứ bình. Nhà nghiên cứu văn học GS.TS Lê Trí Viễn đã đưa ra một kết luận khoa học từ phương pháp thống kê : “ Giở hợp tuyển thơ văn Việt Nam Nxb văn học 1976, tính từ “ Chiếu dời đô” cho đến “Cảm hoài” từ đầu đời Lý đến cuối đời Trần, ngoài các bài văn xuôi, phú có 80 bài thơ dùng đầu đề trên đây, và 7 bài loại thị tịch, kệ. Một số lượng đậm đặc như vậy có ý nghĩa yêu cầu thời trung đại trong phạm vi một thể loại thơ”
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Nói về mô hình cấu trúc, hình thức diễn đạt của văn học phong kiến, ta thấy văn chương thời kỳ này có yêu cầu đối với nghệ sĩ là sử dụng mô hình cấu trúc có sẵn để ký thác tư tưởng của mình. Nhà văn sáng tác theo nguyên tắc: đảm bảo tính hệ thống và sự chuyên biệt hóa về mặt chức năng. Chuyên biệt hoá qua việc sử dụng một loại hình văn chương phù hợp với một hoàn cảnh nhất định. “Cáo” chỉ được sử dụng khi thiên tử (vua) cần thông báo đại sự cho nhân dân.Văn tế là thể loại viết ra để phúng viếng người mất.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Tính quy phạm về thể loại biểu hiện ở việc sử dụng các thể loại có niêm luật khá chặt chẽ vay mượn từ văn học Trung Hoa. Phú đường luật, cáo thường có kiểu câu biền ngẫu (hai con ngựa sóng đôi), bố cục gồm các phần được quy định sẵn. Tiêu biểu cho quy phạm thể loại là sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật. Thơ thất ngôn bát cú Đường luật tất yếu có 8 câu mỗi câu 7 tiếng với quy luật niêm bắt buộc ở các cặp câu sau phải dùng thanh bằng hay thanh sắc 1- 8, 2-3, 4-5, 6-7,. Mỗi bài lại có hai cặp câu đối thanh đối ý ở vị trí câu 3-4 và 5-6. Như vậy do quá trình tiếp biến văn học, thể thơ quy phạm triệt để trong mỹ thuật Phương Đông ở Trung Quốc đã tiếp biến và thành quy phạm của văn chương Việt.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Ngôn từ : Văn chương bác học yêu cầu khá nguyên tắc về sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong sáng tác phải hàm súc, tinh luyện, độ chuẩn xác cao mà người ta gọi kĩ thuật đúc chữ. Sử dụng ngôn ngữ Hán và chữ Nôm văn học thời kỳ từ TK X đến hết TK XIX còn gọi là văn học Hán – Nôm. Chữ Hán là thứ văn tự chính thức của nhà nước phong kiến, nó là thứ văn tự bắt buộc trong thi cử. Thậm chí nó được đề cao hơn chữ Nôm khi sáng tác văn học. Nguyên tắc sử dụng ngôn từ của văn học Hán –Nôm là hàm súc lời ít ý nhiều. Để đạt hiệu quả đó, thi nhân xưa phải thông thạo trong việc sử dụng các mẹo luật, các phép tắt từ. Theo chủ quan của người viết bài này, phép đối là một thủ pháp đặc trưng và phổ biến của thơ ca cổ điển. Bởi lẽ, phép đối được vận dụng phù hợp sẽ nhấn mạnh được nội dung ý nghĩa, khả năng gợi liên tưởng cũng như tạo nhịp điệu cho thi phẩm. Cái độc đáo khi mỗi tác giả vận dụng sáng tạo phép đối dễ nhận ra nếu khảo sát thơ Bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Đọc thơ của Bà Huyện Thanh Quan ta nhận thấy cái nhịp nhàng đăng đối vững vàng của từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu một phần được kiến tạo từ phép đối, kiểu như : “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”, hay “Lom khom dưới núi tiều vài chú, lác đác bên sông chợ mấy nhà”. Cũng ngay trong khuôn khổ của phép đối rất quy phạm chỉnh chu của thơ Đường, Hồ Xuân Hương đã tạo ra những câu thơ có sử dụng phép đối lại làm nghiên ngã câu thơ thất ngôn quen thuộc : “Xiên ngang mặt đát rêu từng đám, Đâm toạt chân mây đá mấy hòn”(Tự tình).
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Về hình tượng nghệ thuật văn học trung đại có những công thức quen thuộc. Chẳng hạn hình tượng nghệ thuật để nói về quân tử thì có tùng, cúc, trúc, mai. Về thiên nhiên thì có phong, hoa, tuyết, nguyệt. Về tứ thú thì có ngư tiều canh mục. Xem xét thế giới nghệ thuật của văn học Hán Nôm, các nhà nghiên cứu văn học hoàn toàn thống nhất rằng văn chương trung đại quy phạm chặt chẽ ở phương diện hình tượng nghệ thuật. Trạng thái tình cảm, cảm xúc của con người vốn phong phú khó lường hết được, nhưng văn học phong kiến vẫn có mẫu quen thuộc để diễn đạt tâm trạng như bạch đầu, tơ vò chín khúc...
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Điều cần lưu ý là trong sự chi phối của văn hoá - văn học trung đại một mặt các nhà Nho tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu quy phạm của văn học phong kiến, mặt khác các nghệ sĩ văn chương thời kỳ này đã bức phá khỏi khuôn khổ của quy phạm văn chương. Chẳng hạn, bên cạnh đặc điểm cao nhã nhiều cây bút tài năng đã đưa hình ảnh bình dị đời thường vào thơ ca. Bên cạnh tính quy phạm , nhiều nhà Nho trong sáng tác đã phá vỡ tính quy phạm. Đó có thể xem là sự sáng tạo độc đáo của các nghệ sĩ trung đại làm cho văn học nước ta ngày càng được dân tộc hóa và hiện đại hóa.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Trên đây là một số biểu hiện quy phạm của văn học Hán Nôm không chỉ phương diện phương thức diễn đạt mà còn ở chiều sâu của tư duy, quan niệm. Trong quá trình phân tích và chứng minh những biểu hiện quy phạm như là một đặc trưng của văn học trung đại, chúng tôi đã lý giải phần nào căn cứ của tính quy phạm ở văn học cổ điển. Dưới đây, người làm bài thống kê lại những cơ sở của tính quy phạm đã được nhiều công trình nghiên cứu.Ở đây chúng tôi dựa vào kết luận của tác giả Nguyễn Phong Nam ở giáo trình “Thi pháp học văn học trung đại Việt Nam”.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Trước hết, xuất phát từ quy luật nhận thức của con người. Mô hình hóa thế giới vật thể, thế giới nội tâm của con người là một phương thức thuận tiện để nhận thức đối tượng, vì vậy người sáng tác văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX đã vận dụng đến mức trở thành một nguyên tắc sáng tạo.Nguyên nhân trực tiếp hơn là ở yêu cầu bắt buộc của trường quy, của nguyên tắc giáo dục của chế độ phong kiến.Chế độ thi cử của mười thế kỷ trung đại với biết bao chuẩn mực quy phạm, nó trở thành chuẩn mực để thi nhân đối chiếu khi sáng tác hay thưởng thức. Nó trở thành một quy ước xã hội về văn chương.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Nói về đặc trưng của văn học Hán Nôm, tính quy phạm của nó có thể nói có gốc gác từ văn chương Trung Quốc. Văn học Trung Quốc vốn sính quy phạm, điều đó đã tỏa bóng vào văn học cổ điển Việt Nam bằng con đường tiếp biến và sự khích lệ từ thiết chế chính trị, từ ý thức hệ.
Tính quy phạm là những quy định chặt chẽ trong những phạm vi giới hạn đã được định sẵn mà người sáng tác văn học buộc phải tuân theo trong quá trình sáng tác. Đặc điểm này nhằm hướng tới việc giáo huấn đạo đức. Mục đích chung của các nhà Nho là giáo hóa cuộc đời dù sáng tác có lúc để tiêu khiển, một thú chơi văn hóa, tao nhã. ``Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí``, văn thơ sáng tác là để giáo huấn đạo đức, văn thơ dùng để tải đạo, để bộc lộ ý chí, diễn đạt tiếng nói của thời đại. Ngôn ngữ sáng tác gồm chữ Hán và chữ Nôm nhưng chữ Hán được xem là chính thống.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
a. Tớnh quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Bất quy phạm có nghĩa là không chịu gò mình, tự cởi trói khỏi khuôn khổ, những quy định ràng buộc trong quá trình sáng tác.
+ Suốt 10 TK văn học trung đại cũng đã phá bỏ dần tính quy phạm, ước lệ để phát huy cá tính, sáng tạo nội dung và hình thức thể hiện. Các tác giả đã có nhiều tác phẩm viết bằng chữ Nôm rất thành công như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du,...
+ Bên cạnh đó còn đem vào trong sáng tác các thể thơ nội sinh như lục bát, hát nói, có sử dụng một số thể thơ Đường nhưng có ý thức đổi mới chẳng hạn thơ thất ngôn xen lục ngôn :
Ao cạn vớt bèo cấy muống
Đìa thanh phát cỏ ương sen
Nguyễn Trãi
Hay Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét
Trải qua một cuộc bể dâu.
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Nguyễn Du
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
b. Tớnh b?t quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
+ Hình ảnh dân dã, bình dị, gắn liền với đời sống con người Việt Nam. Chẳng hạn rau muống, bèo, quả mít, cái quạt, con ốc nhồi...
Qua (Qủa dưa)
Ngọt bằng mít,mát bằng dừa,
Trợ khát nào qua một quả dưa,
Mùi mẻ ngon, người dễ trọng,
Tinh thần lạ, thế dễ ưa.
Lê Thánh Tông
- Phá vỡ: khai thác ngôn ngữ dân gian, sáng tạo ra các thể thơ mới để cho hồn thơ nở hoa kết trái tự nhiên nhiều màu sắc và ngọt dịu hơn, tạo nên khuynh hướng dân chủ hóa văn học thể hiện tinh thần dân tộc mặc dù viết bằng chữ Hán nhưng thể hiện tâm hồn của người Việt. Vận dụng thành thạo chữ Nôm, thể thơ lục bát, song thất lục bát,…
- Ảnh hưởng: chữ viết, thể thơ, thi liệu, văn liệu.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
b. Tớnh b?t quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Văn chương Trung đại Việt Nam có tính quy phạm là do nước ta giáp với Trung Quốc, một nền văn minh cổ của nhân loại. Hơn nữa Việt Nam còn phải chịu hơn 1000 năm phong kiến Bắc thuộc. Phong kiến phương Bắc luôn có ý đồng hóa dân tộc Việt Nam nên người Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố Hán và văn hóa Hán. Và đến khi dân tộc ta giành được độc lập thì nước ta xây dựng nhà nước theo hình thái xã hội phong kiến, một xã hội của chữ lễ mà có thể coi quy phạm là một biểu hiện của chữ lễ đó. Tôn ti cao thấp là đặc trưng của xã hội phong kiến nên văn chương cũng có loại cao loại thấp. Tính chất cao quý từ quan niệm nguồn gốc, quan niệm sáng tác và sinh hoạt thơ văn xưa cũng đẻ ra tính quy phạm. Tuy vậy nhưng chúng ta một mặt tiếp thu những tinh hoa của văn học Trung Quốc nhưng mặt khác lại cũng không ngừng phát triển văn học của đất nước mình theo xu hướng dân chủ hóa, dân tộc hóa. Do vậy người Việt Nam đã cố gắng phá vỡ tính quy phạm.
1. Tớnh quy ph?m và tớnh b?t quy ph?m:
b. Tớnh b?t quy ph?m:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
- Văn học trung đại có đề tài hướng tới cái cao cả, trang trọng, hình tượng nghệ thuật hướng tới vẻ tao nhã, mĩ lệ với ngôn ngữ cao quý, diễn đạt trau chuốt, hoa mĩ. Dần dần, văn học Việt Nam cũng đã có những nỗ lực không nhỏ để tiếp cận với xu hướng bình dân, gần gũi với đời sống của con người Việt Nam.
+ Đề tài, chủ đề: hướng tới cái cao cả trang trọng hơn cái đời thường bình dị.
+ Nghệ thuật: hướng tới vẻ tao nhã, mĩ lệ hơn vẻ đẹp thô sơ, mộc mạc.
+ Ngôn ngữ: mang tính nghệ thuật, cách diễn đạt trau chuốt, hoa mĩ hơn là thông tục, tự nhiên.
- Văn học gắn liền với hiện thực, đưa cái trang trọng tao nhã về gần gũi với đời sống hiện thực, tự nhiên và bình dị.
– Khuynh hướng trang nhã ở đề tài, chủ đề cao cả, trang trọng, hình tượng tao nhã mĩ lệ, ngôn ngữ trau chuốt, hoa mĩ.
Vd: Truyện Kiều (Nguyễn Du).
Đoạn trích “Hai chị em Thuý Kiều” nằm ở phần đàu của câu chuyện. Trong đoạn trích này, Nguyễn Du tập trung miêu tả hai chân dung tuyệt mỹ của chị em Thuý Kiều bằng bút pháp ước lệ. Đằng sau những nét bút miêu tả tinh tế và độc đáo, người đọc có thể nhận thấy tấm lòng ưu ái, trân trọng đặc biệt của Nguyễn Du đối với nhân vật của mình.
2. Khuynh hu?ng trang nhó và xu hu?ng bỡnh d?.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Qua ngòi bút của Nguyễn Du, hai chị em Thuý Kiều đều xinh đẹp, nhưng “mỗi người (tài tình) mỗi vẻ” với dự báo trước số phận, tính cách, cuộc đời của mỗi nhân vật, đặc biệt là Thuý Kiều, nhân vật của truyện.
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du giới thiệu vẻ đẹp chung về hai chị em với bốn câu thơ:
“Đầu lòng hai ả tố nga
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”
Cả hai chị em đều có vẻ đẹp toàn mỹ, từ hình thức bên ngoài “Mai cốt cách” đến vẻ đẹp bên trong tâm hồn “Tuyết tinh thần”. Vẻ đẹp của Thuý Vân được miêu tả ở bốn câu thơ tiếp:
“Vân xen trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”
2. Khuynh hu?ng trang nhó và xu hu?ng bỡnh d?.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
Quả thật, với những từ ngữ trau chuốt, những hình ảnh ước lệ tượng trưng vẻ đẹp và giàu sức gợi tả, được lọc qua tâm hồn mẫn cảm, tinh tế, Ng.Du đã khắc hoạ khá sống động vẻ đẹp đài các, đoan trang viên mãn, mơn mởn sức sống của Thuý Vân, biểu hiện một tâm hồn vô tư, dự báo trước một cuộc đời yên ổn, vinh hoa, phú quý sẽ mỉm cười, vui vẻ rước đón nàng.
Song, việc miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân, không phải là chủ đích nghệ thuật của tác giả. Đó thực chất chỉ là việc tạo tiền đề, tao ra một điểm tựa nghệ thuật “tả khách hình chủ” để làm nổi bật hơn tài sắc của Thuý Kiều, nhân vật trung tâm của tác phẩm.
2. Khuynh hu?ng trang nhó và xu hu?ng bỡnh d?.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
- Ngôn ngữ dùng chữ Hán để sáng tác: Phần lớn các tác phẩm văn học trung đại đều viết bằng chữ Hán, có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như:
Chuyện người con gái Nam Xương, truyện thứ 16 trong 20 truyện truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (TK 16), mượn cốt truyện “Vợ chàng Trương”. Là truyện truyền kì viết bằng chữ Hán – một thể loại của văn học Trung Quốc. Truyện khẳng định vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, niềm cảm thương số phận bi kịch của họ dưới chế độ phong kiến. Kết hợp những yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo, hoang đường với cách kể chuyện, xây dựng nhân vật rất thành công.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh viết khoảng đầu đời Nguyễn (đầu TK XIX) của Phạm Đình Hổ cũng là một tùy bút viết bằng chữ Hán. Tái hiện đời sống xa hoa vô độ của bọn vua chúa, quan lại phong kiến thời vua Lê, chúa Trịnh suy tàn. Ghi chép theo cảm hứng sự việc, câu chuyện con người đương thời cụ thể, sinh động.
Hồi thứ 14 của Hoàng Lê Nhất Thống Trí của Ngô Gia Văn Phái (TK XVIII) là tiểu thuyết lịch sử chương hồi cũng viết bằng chữ Hán, phản ánh giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam cuối TK XVIII. Với cách kể chuyện nhanh gọn, chọn lọc sự việc, khắc họa nhân vật chủ yếu qua hành động và lời nói.
+Thể loại: Văn vần (thể cổ phong và Đường luật), văn xuôi, chiếu, biểu, truyền kì, tiểu thuyết,...
Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt là thể thơ do các thi sĩ đời Đường (618-907) nước Trung Hoa sáng tạo nên. Mỗi bài có 4 câu, mội câu 7 tiếng.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
Nam Quốc Sơn Hà của Lí Thường Kiệt là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng chữ Hán:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư “
Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản đầu tiên của Việt Nam, khẳng định chủ quyền của nhà cầm quyền Đại Việt trên các vùng đất của mình.
Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm, bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam cả về thể chất lẫn tinh thần, tố cáo XHPK vùi dập, coi thường người phụ nữ.
“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Thể thơ thất ngôn bát cú được hình thành từ thời nhà Đường. Một thời gian dài trong chế độ phong kiến, thể thơ này đã được dùng cho việc thi cử tuyển chọn nhân tài. Thể thơ này đã được phổ biến ở nước ta vào thời Bắc thuộc và chủ yếu được những cây bút quý tộc sử dụng. Mỗi bài gồm 8 câu, mỗi câu 7 tiếng.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
Tóm lại, văn học trung đại Việt Nam tiếp thu khá đa dạng các loại hình văn học Trung Quốc, từ đó sáng tạo nên những tác phẩm đặc sắc mang hơi thở thời đại.
Điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật phổ biến, quan trọng không thể thiếu của văn học cổ điển. Trong giai đoạn trung đại, Nguyễn Trãi và Nguyễn Du là hai tượng đài tiêu biểu nhất của văn học cổ điển Việt Nam. Cả hai đều được tôn vinh là đại thi hào. Vậy thì chỉ xét riêng trong thủ pháp nghệ thuật này, ta sẽ thấy gì về đặc trưng phong cách của mỗi thi hào?
Vì thành tựu văn học của hai nhà thơ này là quá đồ sộ, trong khuôn khổ một bài viết ngắn khó có thể khảo sát thấu đáo toàn bộ nên người viết chỉ chọn ra hai tác phẩm chữ Nôm tiêu biểu nhất của hai ông để nhận xét.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
3. Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài.
+ Điển cố trong Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi:
Trong Quốc Âm thi tập, Nguyễn Trãi sử dụng rất nhiều điển cố, điển tích, cụ thể là trong 71 bài, với nhiều cách đa dạng và phong phú. Các điển cố, điển tích này có thể quy vào các loại, được thống kê như sau:
- Mượn tên địa danh: 18 địa danh, xuất hiện 23 lần
- Mượn tên học phái: 2 học phái, xuất hiện 6 lần
- Mượn tên ẩn sĩ: 14 người, 23 lần
- Mượn tên Nhà thơ: 5 người, 9 lần
- Mượn tên Người đẹp: 7 người, 8 lần
- Các tên tuổi khác: quan tốt, trung thần, tài tử, đạo sĩ, thuyết khách, nhà thám hiểm, mạnh thường quân…
- Mượn các câu nói, câu truyện nổi tiếng: 15 lần.
Đặc biệt có những tên tuổi là điển hình cho nhiều phương diện, ví dụ như Đỗ Phủ vừa là nhà thơ, vừa là trung thần, ẩn sĩ… Lý Bạch là nhà thơ, tài tử, hiệp khách, ẩn sĩ…
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
* Sáng tác ra chữ Nôm ghi âm tiếng Việt
- Văn học Việt Nam là sự tích hợp từ hai dòng văn học dân gian và văn học viết của những người dùng tiếng Việt. Trong suốt thời phong kiến, phần lớn các tác phẩm thành văn của văn học Việt Nam được viết bằng chữ Hán do nhiều nguyên nhân: ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, thiếu chữ viết bản địa, chữ Nôm ra đời lại không được triều đình khuyến khích... Về sau, văn học Việt Nam được thống nhất viết bằng chữ quốc ngữ.
- Nhiều phát hiện mới của khảo cổ học chứng minh từ thời đại Hùng Vương, người Việt đã có một nền văn hóa với nhiều nét cá tính khá rõ rệt, thể hiện qua nhiều thần thoại và truyền thuyết. Tiếp theo một thời gian dài tiếp xúc với nền văn hóa Trung Quốc tiên tiến hơn nhiều mặt, người Việt đã biết cách chuyển hóa chữ Hán trên nền tảng văn hóa Việt, đọc theo thanh điệu của tiếng Việt mà vẫn hiểu được một cách chính xác các giá trị tư tưởng, văn hóa, triết học của Trung Quốc lẫn của người Việt.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
Từ truyền thống văn hóa có sẵn, Hán học tiếp sức cho người Việt hình thành nền văn học độc lập của dân tộc và là nền tảng, cơ sở để sáng tạo ra chữ viết đầu tiên: chữ Nôm.
- Về mặt thể loại, hình thức : văn học viết thời kỳ đầu chủ yếu là thơ với hai loại: cổ thể và cận thể - tôn trọng khuôn phép mẫu mực của thơ ca Trung Quốc; ngoài ra theo Dương Quảng Hàm (trong quyển Văn học Việt Nam) thì văn viết trong thời kỳ đầu "có nhiều thể, nhưng có thể chia ra làm ba loại lớn" gồm:
• Vận văn: tức loại văn có vần
• Biền văn: tức loại văn không có vần mà có đối (như câu đối)
• Tản văn hoặc văn xuôi: tức loại văn không có vần mà cũng không có đối.
Cuối thế kỷ 18 trở đi, khi chữ Nôm hình thành thì văn học viết có vài chuyển biến trong sáng tác: văn học từ chiếu cung đình dần thâm nhập vào đời sống thường nhật (văn chương bình dân) và cái tôi cá nhân bắt đầu được đề cập đến. "Bà Chúa thơ Nôm" Hồ Xuân Hương và Truyện Kiều (của Nguyễn Du) được xem là những thành tựu nổi bật của chữ Nôm trong văn học Việt Nam.
• Thời kỳ văn học Trung đại (từ thế kỷ 10 đến cuối thế kỷ 19) gồm: tự sự và trữ tình.
- Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi.
Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
Về văn bản thì khi tìm chứng tích trước thời nhà Lý, văn tịch hoàn toàn không lưu lại dấu vết chữ Nôm nào cả. Sang thời Lý thì mới có một số chữ Nôm như trong bài bi ký ở chùa xã Hương Nộn, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ (tạc năm 1173 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 11) hay bia chùa Tháp Miếu, huyện Yên Lãng (nay thuộc Phúc Yên, tỉnhVĩnh Phúc (tạc năm 1210 triều vua Lý Cao Tông).
Trước tác thì phải sang thời nhà Trần mới có dấu tích rõ ràng.
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
- Phát triển chữ Nôm:
Trang chữ Nôm trong Dialogues Cochinchinois in năm 1871 tại Paris, Pháp, có phiên giải ra tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Latin. Trang này liệt kê những sản vật giá trị Nam Kỳ có thể bán cho các thương thuyền ngoại quốc như da trâu, quế, gỗ mun, ngà voi... đổi lấy mua súng ống các loại
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
Truyện Nôm Phan Trần, ấn bản Nhâm dần (1902) triều Thành Thái
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
Chữ Nôm khảm xà cừ dùng trang trí trên điếu ống thế kỷ 19-20 thời Nguyễn
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
+ Những cách tạo chữ Nôm:
Áng văn Nôm Truyện Kiều bản Chiêm Vân Thị dưới tựa Thúy Kiều Truyện tường chú
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
+ Những cách tạo chữ Nôm:
Ba câu lục bát đầu của Truyện Kiều
Phan Thị Mỹ Huế
Trường THCS Phú Hồ
b) Quá trình Việt hóa:
- Mượn cả âm và nghĩa của chữ Hán
Mượn cả âm đọc (âm Hán Việt) và nghĩa của chữ Hán để ghi lại các từ từ Hán Việt. Âm Hán Việt có ba loại là:
• Âm Hán Việt tiêu chuẩn: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán thời Đường. Ví dụ: "ông" 翁, "bà" 婆, "thuận lợi" 順利, "công thành danh toại" 功成名遂.
• Âm Hán Việt cổ: bắt nguồn từ ngữ âm tiếng Hán trước thời Đường. Ví dụ: "mùa" 務 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là"vụ"), "bay" 飛 (âm Hán Việt tiêu chuẩn là "phi"), "buồng" 房 (âm Hán Việt tiê
 







Các ý kiến mới nhất