Violet
Baigiang

Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 10. Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: PHẠM KHÁNH HƯƠNG
Ngày gửi: 14h:37' 16-11-2021
Dung lượng: 11.0 MB
Số lượt tải: 33
Số lượt thích: 0 người
Nguyễn Khoa Điềm
Đất Nước
THPT Thái Phiên
Lớp 12/9
Nhóm 3
Các thành viên
Phạm Ngọc Hiển
Huỳnh Tấn Hiếu
Nguyễn Huy Hoàng
Nguyễn Vĩnh Hoàng Huân
Phạm Gia Huy
Phạm Khánh Hương
Nguyễn Đình Quốc Khánh
Võ Tô Đình Khoa
Nguyễn Hồng Linh
Nguyễn Thị Nhật Linh
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên.
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hoá núi sông ta...
Sự hiện diện của nhân dân trong những địa danh của đất nước.(8 câu đầu)
01.
02.
03.
Tư tưởng Đất Nước là của nhân dân.
Nghệ thuật đặc sắc.
Nâng ý thơ lên tầm khái quát.(4 câu sau)
01
Sự hiện diện của nhân dân trong những địa danh đất nước
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên.
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
1. Sự hiện diện của nhân dân trong những địa danh đất nước
(8 câu đầu)
Điệp từ “Góp” => Sự đóng góp cống hiến của mỗi con người trong việc tạo nên vẻ đẹp của đất nước.
Nhắc tên địa danh,lãnh thổ, sông núi
+ do tự nhiên tạo hoá tạo ra.
+ vô tri , vô giác, vô hồn.
=> mật độ dày đặc.
=> Quen thuộc => Nổi tiếng => Gắn liền với những truyền thuyết cổ tích =>Di tích Lịch Sử.
=> Niềm tự hào của tác giả
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước nhưng núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Hòn Vọng Phu(nay ở tỉnh Lạng Sơn),gắn liền với tích nàng Tô Thị bồng con chờ chồng hóa đá,đó là sự hóa thân của những vợ chờ chồng.
Hòn Trống Mái ở Sầm Sơn, vịnh Hạ Long ở Quảng Ninh là biểu tượng đẹp đẽ cho tình yêu chung thủy,thắm thiết nồng nàn.
=>Tác giả đã có cái nhìn khám phá và đậm chất nhân văn.
“Gót ngựa của Thánh Gióng” là làng gióng ở Hà Bắc, nơi có rất nhiều ao đầm nhỏ, là những vết tích lịch sử.
“Chín mươi con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương”: núi Nghĩa Lĩnh ở Phú Thọ, là đất của địa linh người Việt, linh thiêng vô cùng => Sự đoàn kết.
“Những còn rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm ”: là những con sông của đất nước ta. Sông lớn, sông nhỏ đều có.
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên.
Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Người vợ, người chồng, người học trò nghèo,Ông Đốc,Ông Trang,Bà Đen,Bà Điểm.
=>Những con người bình dị.
Thánh Gióng,Hùng Vương
Những vị anh hùng trong truyền thuyết.
Hòn Con Cóc – Quảng Ninh
Con cóc, con gà
Những con vật nhỏ bé gần gũi trong cuộc sống đời thường.
Con rồng, con voi
Những loài vật thiêng liêng trong cuộc sống tâm linh của người Việt.
Qua cái nhìn của nhà thơ, mỗi danh thắng còn ẩn chứa nét đẹp tâm hồn của nhân dân:
Núi Vọng Phu, Hòn Trống Mái
Sự thủy chung, tình nghĩa vợ chồng thắm thiết.
Những “ao đầm” mà “gót ngựa Thánh Gióng đi qua”
Truyền thống yêu nước.
Đất Tổ Hùng Vương
Cội nguồn thiêng liêng.
Núi Bút non Nghiên là câu chuyện cuả cậu học trò nghèo
=> núi hình cây bút và nghiên mực ở Quảng Ngãi.
Truyền thống hiếu học nền văn hiến.
Sông Ông Đốc-Cà Mau
Cồn Ông Trang-Cà Mau
Những địa danh ở vùng cực Nam (Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm)
Nhà thơ không cảm nhận những cảnh quan kì thú đơn thuần là thắng cảnh thiên nhiên mà trong đó là chiều sâu số phận, cảnh ngộ, công lao của mỗi người đã đóng góp, hóa thân vào Đất Nước. Đất Nước thấm sâu tâm hồn, máu thịt của nhân dân.
Những địa danh trải dài khắp Đất nước.
Ở miền Bắc: Núi Vọng Phu, Hòn Trống Mái, “gót ngựa Thánh Gióng, đất tổ Hùng Vương.
Khẳng định nước ta là một dải non sông nối liền.
Ở miền Trung: núi Bút non Nghiên.
Ở miền Nam: những con rồng, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn Việt.
Ý chí thống nhất Đất Nước.
Nhân dân hóa thân mình, góp mình làm nên các địa danh của Đất Nước ?
Nếu không có sự hóa thân của nhân dân (những người vợ nhớ chồng, cặp vợ chồng yêu nhau, những Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm...), thì không có sự cảm nhận về núi Vọng Phu, hòn Trống Mái và những địa danh mang dấu ấn tâm hồn nhân dân.
Nếu không có sự hóa thân của truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm, truyền thống hiếu học của những người học trò nghèo thì không có sự cảm nhận về những núi Bút, non Nghiên và trăm ao đầm để lại cho tới ngày hôm nay.
Nếu không có sự hóa thân của những sự vật thân thương, bình dị trong đời sống hàng ngày của nhân dân thì không có sự cảm nhận về những dòng sông xanh thẳm, những con cóc, con gà đã làm nên thế núi, hình sông.
Tiểu kết
Từ quan điểm của thời hiện đại Nguyễn Khoa Điềm đã nhận thức về Đất Nước qua số phận con người về cá nhân (những người vợ người chồng, cặp vợ chồng yêu nhau, người học trò nghèo.......) nhân dân đã hóa thân làm nên hình hài đất nước, đã đặt tên, ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi dòng sông.
Bút pháp liệt kê => Tạo ấn tượng về vẻ đẹp phong phú, dồi dào phong phú của những địa danh, dấu tích.
Kết cấu lời thơ: Chủ ngữ (Danh từ số nhiều, không xác định)+vị ngữ (động từ chính “góp” ) => Nhấn mạnh công lao to lớn của nhân dân với Đất Nước.
02
Nâng ý thơ lên tầm khái quát.
2.Nâng ý thơ lên tầm khái quát.(4 câu sau )
“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”
“ruộng đồng gò bãi”
Nhân dân không chỉ góp địa danh, mà còn góp vào đó những giá trị tinh thần, là phong tục, tập quán, là truyền thống văn hóa lưu dấu tới mai sau.
Biện pháp liệt kê, khẳng định tầm vóc kì vĩ.
Quy nạp khái quát, khẳng định, mở rộng: không chỉ ở các danh thắng, mà ở tất cả mọi không gian đất nước là ruộng đồng gò bãi không thể kể ra hết cũng mang dấu ấn tâm hồn tính cách lối sống cha ông.
Cấu trúc “Ở đâu.......chẳng + động từ”: cách nói khẳng định tuyệt đối, mang tính quy luật bất biến, mang tính chân lí.
Chân lý mà tác giả hướng đến: vẻ đẹp non sông Đất Nước, của giang sơn gấm vóc => không thuần tuý tạo hoá => phần lớn vẻ đẹp được hun đúc từ chính tâm hồn đẹp đẽ của nhân dân: lối sống, đạo lí, ao ước, niềm tự hào.
=> Nó giống như một tuyên ngôn sôi nổi mang hình thức tranh luận để khẳng định mạnh mẽ.
“Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi”
“Và”  Còn nhiều nữa, không thể kể ra hết.
“Ôi đất nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”
Số từ ước lệ “bốn nghìn năm”.
Đó là thời gian văn hiến của dân tộc tính từ khi lập nước, chiều dài lịch sử dân tộc.
Sự trường tồn vĩnh hằng.
“Ôi Đất Nước sau bốn ngàn năm đi đâu ta cũng thấy ” như là trạng thái cảm xúc vươn tới đỉnh điểm.
Bốn nghìn lớp cha ông đều chiến đấu, đời cha đi trước, đời con đi sau, cha con đều là những đồng chí đồng đội chiến đấu vì độc lập dân tộc.
Kết thúc đọan thơ là một câu thơ vô cùng ấn tượng: “Những cuộc đời đã hóa núi sông ta...”
Những câu thơ trước đó mỗi dòng đều có từ mười ba đến mười lăm âm tiết nhưng ở câu thơ cuối lại chỉ vỏn vẹn trong tám âm tiết.
Sự trầm ngâm, một sự đúc kết để rút ra chân lý cô đọng.
Dấu ba chấm kết thúc đoạn thơ như một phút lặng của lòng người trước những xáo trộn của tâm hồn. Nhưng ấn tượng nhất là câu thơ thật hàm súc.
Nó còn được kết thúc bởi hai thanh bằng => Như một lời hạ giọng để suy tư in dấu vào âm hưởng.
Chữ “một” được điệp lại 3 lần, chữ “ta” được láy lại 2 lần, kết hợp từ “ôi” cảm thán.
Tạo nên những vần thơ du dương về nhạc điệu, nồng nàn, say đắm tự hào về cảm xúc. Vừa dõng đạc, hào hùng, vừa thiết tha, lắng đọng, vẻ đẹp nhân văn chan hòa trên những dòng thơ tráng lệ.
Kết luận mang tính khái quát: Đất Nước đều do nhân dân tạo ra ,đều kết tinh từ công sức và khát vọng của nhân dân - những người bình thường,vô danh.
Tiểu kết
Thể thơ tự do phóng túng => Tạo ra nét độc đáo về hình thức cho bài thơ, vừa là cơ hội để dòng chảy của cảm xúc được phát triển một cách tự nhiên.
Nghệ thuật đặc sắc
Thể thơ tự do phóng khoáng không bị bó buộc về số chữ trong một câu => Tạo ra nét độc đáo về hình thức cho bài thơ, vừa là cơ hội để dòng chảy của cảm xúc được phát triển một cách tự nhiên.
Các biện pháp tu từ đặc sắc khác: liệt kê, điệp từ điệp ngữ, ẩn dụ, cấu trúc hô ứng “Có…thì”.
Ngôn ngữ, hình ảnh thơ gần gũi giản dị.
Hình thức lời tâm tình trò chuyện của anh và em- mang tính giãi bày, bộc bạch, như lời tự nói, một kiểu tùy bút thơ độc đáo, bộc lộ suy cảm rất sâu về tổ quốc, lồng vào đó suy nghĩ về trách nhiệm và nghĩa vụ của thế hệ mình.
Nghệ thuật đặc sắc
Giọng thơ tâm tình, tha thiết, sâu lắng như giọng điệu của đôi lứa yêu nhau =>Làm cho nội dung nghị luận vốn khô khan trở nên mềm mại, ngọt ngào thấm sâu vào lòng người.
Đoạn thơ quy nạp hàng loạt hiện tượng để đưa đến một khái quát sâu sắc: Đất Nước là sự “hóa thân” của nhân dân và những truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc.
Sử dụng các chất liệu văn hóa dân gian với đa dạng các thể loại:
Truyền thuyết Thánh Gióng, Hùng Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ.
Sự tích trầu cau, sự tích hòn Trống Mái, sự tích núi Vọng Phu,Tấm Cám, Thạch Sanh.
Nghệ thuật đặc sắc
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn → ca dao “Em ơi chua ngọt đã từng – Gừng cay muối mặn ta đừng quên nhau.”
+ Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng → thành ngữ “Một nắng hai sương.”
+ Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm → bài ca dao “Khăn thương nhớ ai/Khăn rơi xuống đất/Khăn thương nhớ ai/Khăn vắt lên vai/Khăn thương nhớ ai/Khăn chùi nước mắt”.
Câu thơ “Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội” là lấy ý tứ từ câu ca dao : “Cầm vàng mà lội qua sông / Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng”
Truyến thống đoàn kết, , tinh thần cảnh giác cao độ trước kẻ thù “dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”, tinh thần uống nước nhớ nguồn "Hằng năm ăn đâu làm đâu/Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ"
Phong tục, lối sống, tập quán sinh hoạt, vật dụng quen thuộc (miếng trầu, tóc bới sau đầu, cái kèo, cái cột, hạt gạo xay, giã, giần, sàng, hòn than, con cúi,...).
Câu thơ “ Biết trồng tre…Đi trả thù không sợ dài lâu” lấy ý từ câu ca dao : “ Thù này ắt hẵn còn lâu / Trồng tre thành gậy ,gặp đâu đánh què”
Cụm từ “ yêu em từ thuở trong nôi” lấy từ bài ca dao : “Yêu em từ thuở trong nôi / Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru”
Phong cách trữ tình chính luận
Trữ tình: giọng điệu thiết tha, giàu cảm xúc, ngôn từ giản dị nhưng giàu sức gợi.
Chính luận:
Đất Nước có từ bao giờ ?
Đất Nước là gì ?
Đất Nước của ai, do ai làm nên ?
Trách nhiệm của mỗi người
Cảm ơn các bạn đã lắng nghe bài thuyết trình của nhóm 3.
 
Gửi ý kiến