Bài 11. Đoàn thuyền đánh cá

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Kim Anh
Ngày gửi: 11h:56' 17-12-2021
Dung lượng: 38.2 MB
Số lượt tải: 297
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Kim Anh
Ngày gửi: 11h:56' 17-12-2021
Dung lượng: 38.2 MB
Số lượt tải: 297
Số lượt thích:
0 người
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
(Huy Cận)
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả
Huy Cận
- Huy Cận (1919 – 2005)
- Tên đầy đủ : Cù Huy Cận
- Quê : Hà Tĩnh
- Ông nổi tiếng trong phong trào thơ mới với tập thơ
Lửa thiêng (1940)
Trước năm 1945, thơ ông thấm đẫm triết lí và thấm thía bao nỗi buồn nhân thế. Ông đã từng nói “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”
Sau năm 1945, thơ ông dạt dào niềm vui nhất là khi nói về con người mới, cuộc sống mới
Thơ Huy Cận
2. Tác phẩm
a. Hoàn cảnh sáng tác
- Viết năm 1958, trong một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh
- In trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng’’(1958).
Năm 1954 chiến dịch ĐBP vừa kết thúc, đất nước bị chia làm 2 miền. Miền Nam tiếp tục chống đế quốc Mĩ. Miền Bắc được giải phóng tiến lên xây dựng CNXH.
Bài thơ được viết năm 1958 khi đất nước đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp, Miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dựng cuộc sống mới. Không khí hào hứng, phấn chấn tin tưởng bao trùm trong đời sống xã hội và khắp nơi dấy lên phong trào phát triển sản xuất, xây dựng đất nước mới.
Chuyến đi thực tế của mình ở vùng mỏ Quảng Ninh vào nưả cuối năm 1958, đã giúp cho nhà thơ thấy rõ và sống trong không khí lao động ấy của nhân dân ta, góp phần quan trọng mở ra chặng đường mới trong thơ Huy Cận
b. Phương thức biểu đạt: Biểu cảm + Miêu tả.
c. Thể thơ: 7 chữ
d. Cảm hứng bao trùm:
- Có sự thống nhất giữa hai nguồn cảm hứng: về thiên nhiên vũ trụ và về con người lao động trong cuộc sống mới.
Ra khơi
Trở về
Đánh bắt cá
Bình minh
Đêm trăng
Hoàng hôn
Thiên nhiên
Con người
theo trình tự thời gian
theo chuyến hành trình chuyên biển
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng cá bạc biển Đông lặng
Cá Thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lướt ta đoàn cá ơi!
Thuyền ta lái gió với buồm chăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
Cá nhụ, cá chim, cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở: Sao lùa nước Hạ Long
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay trùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng Đông
Lưới xếp buồn lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôi dặm phơi.
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
- Huy Cận -
Phần 3: Khổ cuối:
Cảnh đoàn thuyền trở về.
Phần 2: Bốn khổ tiếp:
Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển.
Phần 1: Hai khổ đầu:
Cảnh đoàn thuyền ra khơi và tâm trạng của con người.
Bố cục
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1/ Cảnh đoàn thuyền ra khơi.
a. Cảnh hoàng hôn
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
- Điểm nhìn: Trên thuyền đánh cá..
- So sánh: gợi cảnh hoàng hôn trên biển đẹp kì vĩ, rực rỡ, tráng lệ, huy hoàng.
- Nhân hoá: Thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm. Biển ngôi nhà vũ trụ ấm áp, thân quen
=> Đoàn thuyền ra khơi đi trên biển như là đi trong ngôi nhà của mình.
1/ Cảnh đoàn thuyền ra khơi.
b. Hình ảnh đoàn thuyền ra khơi
‘‘Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”
=> Vũ trụ nghỉ ngơi, con người làm việc.
Từ “lại”: Công việc quen thuộc hằng ngày.
Hình ảnh “Đoàn thuyền”: gợi không khí đông vui, tấp nập
Đoàn thuyền chứ không phải 1 chiếc thuyền cô độc.
1/ Cảnh đoàn thuyền ra khơi.
b. Hình ảnh đoàn thuyền ra khơi
“Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
Nghệ thuật ẩn dụ: thể hiện niềm vui, sự phấn chấn, tinh thần hăng say lao động.
- Tiếng hát khỏe khoắn cùng với gió nâng đỡ cánh buồm
Sự vận động của vũ trụ, biển cả đang dần khép lại, chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi
THIÊN NHIÊN
CON NGƯỜI
Con người bắt đầu ra khơi, bắt đầu một ngày lao động mới.
Đối lập
=> Đoàn thuyền ra khơi trong không gian rộng lớn, hung vĩ, tráng lệ của biển trời và ánh sáng rực rỡ của hoàng hôn.
“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi”
=> Sự giàu có và trù phú của biển khơi.
- Liệt kê: cá bạc, cá thu gợi vùng biển giàu có, trù phú.
- So sánh: gợi từng đoàn cá nối đuôi nhau nhiều như thoi đưa.
- Biển lặng: Cầu mong biển yên để có chuyến đi bình an, đầy ắp cá tôm.
“Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
- Nhân hoá: “Dệt biển”
- Hình ảnh ẩn dụ, nói quá: “Muôn luồng sáng”
=> Vẽ đẹp lung linh, kỳ ảo của biển đêm.
- Tiếng gọi thiết tha => Khát vọng chinh phục biển cả, chinh phục thiên nhiên, mong ước đánh bắt được nhiều tôm cá.
- Niềm tự hào của tác giả về vùng biển quê hương.
- Tiếng hát của họ đã thể hiện tâm hồn chan chứa niềm vui, phấn khởi, hăng say lao động.
- Câu cầu khiến: “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
Trong những năm gần đây một số vùng biển nước ta xảy ra tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường biển rất nhiều do những nguyên nhân như hiện tượng biển tiến , biển lùi, bão biển, nước dâng, sự ô nhiễm không khí ,tràn dầu tự nhiên….Đặc biệt là do con người vứt, xả rác trên bãi biển, cùng các chất thải khác từ tàu thuyền, (1.5 triệu tấn động vật chết mỗi năm vì ăn phải rác,2.4 triệu tấn dầu loang mỗi năm trên biển) gây thiệt hại cho một số vùng kinh tế , ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân như : sản lượng cá đánh bắt gần bờ giảm, nhiều loài thuỷ hải sản nuôi trồng chết hàng loạt, ảnh hưởng xấu đến du lịch Biển là tài nguyên vô cùng quí giá đối với con người .
Biển cho ta cá tôm ,cho ta khóang sản và là nguồn kinh tế du lịch vô tận . Vì thế chúng ta phải biết yêu biển bảo vệ biển như bảo vệ chính mình bảo vệ với ý thức cao và bằng hành động cụ thể. Mỗi người dân phải nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, không được xả rác bừa bãi…
2. Cảnh đánh cá trên biển:
a, Hình ảnh con thuyền đánh cá
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Hình ảnh con thyền nằm trong mối quan hệ: gió, buồm trăng, biển bằng.
Không gian mênh mông nhưng con thuyền cũng lớn lao kì vĩ.
Sử dụng thủ pháp phóng đại và những liên tưởng độc đáo.
Cuộc đánh cá như 1 cuộc chiến, trận chiến trên mặt trận lao động chinh phục biển khơi.
Cá nhụ, cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe,
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
Cá nhụ
Cá chim
Cá đé
Cá song
Các hình ảnh liệt kê
Trí tưởng tượng phong phú
Nghệ thuật phối sắc đặc biệt tài tình.
=> Cá đẹp rực rỡ, lộng lẫy huyền ảo, bầy cá như cá nàng tiên trong vũ hội
=> Ca ngợi biển cả thanh bình, giàu có
2. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển
b. Hình ảnh người dân chài với công việc lao động trên biển:
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Bút pháp lãng mạn cùng những liện tưởng độc đáo.
=> Biến công việc nặng nhọc thành niềm vui, thể hiện lòng yêu nghề chan chứa.
- NT: So sánh, nhân hóa.
=> Biển hiền hòa, bao dung, nuôi sống con người
Những người dân chài làm việc với niềm vui hăng hái, say sưa của những người làm chủ đất nước,họ lao động với tất cả sức lực và trí tuệ, tình yêu biển yêu nghề.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
→ Công việc lao động tràn ngập niềm vui, lạc quan, yêu đời, yêu lao động nhịp nhàng cùng thiên nhiên.
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Kéo xoăn tay:
- Tả thực, từ ngữ gợi hình
->Vẻ đẹp mạnh mẽ, rắn rỏi, khỏe khoắn
“Nắng hồng”→ Người lao động hân hoan, phấn khởi với chuyến ra khơi tốt đẹp
3. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về
Khổ thơ cuối hô ứng với khổ thơ đầu tạo 2 cảnh đối xứng.
=> Biểu hiện nhịp tuần hoàn của vũ trụ.
Dòng thơ đầu được lập lại với dòng đầu của khổ 1
=> Tiếng hát xuất hiện suốt bài thơ: khúc ca lao động hào hứng.
Sử dụng nhân hóa, hoán dụ và cách nói khoa trương.
=> Cảnh tượng thiên nhiên kì vĩ, con người chạy đua cùng thời gian.
=> Đoàn thuyền trở về trong cảnh 1 ngày mới bắt đầu,con người chạy đua với thời gian, tranh thủ thời gian để lao động và đã thu được thành quả to lớn
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
III. Tổng kết:
1. Nghệ thuật:
- Sử dụng bút pháp lãng mạn với các biện pháp nghệ thuật đối lập, so sánh, nhân hoá, phóng đại
- Sử dụng ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, gợi liên tưởng
2. Nội dung:
Bài thơ thể hiện nguồn cảm hứng lãng mạn ca ngợi biển cả lớn lao và giàu đẹp ngợi ca nhiệt tình lao động vì sự giàu đẹp của đất nước của nhứng con người lao động mới .
Sơ đồ tư duy
Trong bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận có câu thơ sau:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng”
Câu 1: Chép chính xác ba câu thơ tiếp theo? Dựa vào trình tự ra khơi của đoàn thuyền thì đoạn trích em vừa chép mang nội dung gì? (Diễn đạt ngắn gọn bằng một câu văn).
Câu 2: Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng trong câu thơ “Thuyền ta lái gió với buồm trăng”? Các biện pháp nghệ thuật đó đã góp phần khắc họa vẻ đẹp nào của những người ngư dân?
Câu 3: Nêu mạch cảm xúc của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”.
Cáu 4: Phân tích nét đặc sắc của hình ảnh “buồm trăng”. Em hiểu cách nói “thuyền ta” nghĩa là gì? Theo em, có thể thay thế “thuyền ta” bằng “đoàn thuyền” được không? Vì sao?
Câu 5: Câu thơ “Lướt giữa mây cao với biển bằng", tác giả đã vi phạm phương châm hội thoại nào? Điều đó có phải chủ ý của nhà văn không, vì sao?
Cáu 6: Trong chương trinh Ngữ văn THCS, em cũng đã học một bài thơ rất hay có hinh ảnh con thuyền, cánh buồm. Đó là bài thơ nào? Của ai?
Câu 7: Cách viết “Lái gió với buồm trăng” đã gợi cho em điều gì?
Cáu 8: Viết đoạn văn nêu cảm nhận vể khổ thơ trên.
Câu 9: Bằng sự hiểu biết của bản thân, em hây viết đoạn văn khoảng 12 câu theo kiểu lập luận diễn dịch, trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của người dân chài khi đánh cá trên biển đêm, trong đoạn có sử dụng một câu phủ định và một phép lặp để liên kết.
Câu 10; Từ đoạn thơ vừa chép, với những hiểu biết xã hội của mình, em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng nửa trang giấy thi) về hình ảnh những người ngư dân vẫn đang ngày đêm vươn khơi bám biển trong thời điểm hiện nay.
PHIẾU BÀI TẬP
Xin chào
và tạm biệt các em!
(Huy Cận)
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả
Huy Cận
- Huy Cận (1919 – 2005)
- Tên đầy đủ : Cù Huy Cận
- Quê : Hà Tĩnh
- Ông nổi tiếng trong phong trào thơ mới với tập thơ
Lửa thiêng (1940)
Trước năm 1945, thơ ông thấm đẫm triết lí và thấm thía bao nỗi buồn nhân thế. Ông đã từng nói “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm”
Sau năm 1945, thơ ông dạt dào niềm vui nhất là khi nói về con người mới, cuộc sống mới
Thơ Huy Cận
2. Tác phẩm
a. Hoàn cảnh sáng tác
- Viết năm 1958, trong một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh
- In trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng’’(1958).
Năm 1954 chiến dịch ĐBP vừa kết thúc, đất nước bị chia làm 2 miền. Miền Nam tiếp tục chống đế quốc Mĩ. Miền Bắc được giải phóng tiến lên xây dựng CNXH.
Bài thơ được viết năm 1958 khi đất nước đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp, Miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dựng cuộc sống mới. Không khí hào hứng, phấn chấn tin tưởng bao trùm trong đời sống xã hội và khắp nơi dấy lên phong trào phát triển sản xuất, xây dựng đất nước mới.
Chuyến đi thực tế của mình ở vùng mỏ Quảng Ninh vào nưả cuối năm 1958, đã giúp cho nhà thơ thấy rõ và sống trong không khí lao động ấy của nhân dân ta, góp phần quan trọng mở ra chặng đường mới trong thơ Huy Cận
b. Phương thức biểu đạt: Biểu cảm + Miêu tả.
c. Thể thơ: 7 chữ
d. Cảm hứng bao trùm:
- Có sự thống nhất giữa hai nguồn cảm hứng: về thiên nhiên vũ trụ và về con người lao động trong cuộc sống mới.
Ra khơi
Trở về
Đánh bắt cá
Bình minh
Đêm trăng
Hoàng hôn
Thiên nhiên
Con người
theo trình tự thời gian
theo chuyến hành trình chuyên biển
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng cá bạc biển Đông lặng
Cá Thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lướt ta đoàn cá ơi!
Thuyền ta lái gió với buồm chăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng
Ra đậu dặm xa dò bụng biển
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
Cá nhụ, cá chim, cùng cá đé
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe
Đêm thở: Sao lùa nước Hạ Long
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng
Ta kéo xoăn tay trùm cá nặng
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng Đông
Lưới xếp buồn lên đón nắng hồng.
Câu hát căng buồm cùng gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôi dặm phơi.
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
- Huy Cận -
Phần 3: Khổ cuối:
Cảnh đoàn thuyền trở về.
Phần 2: Bốn khổ tiếp:
Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển.
Phần 1: Hai khổ đầu:
Cảnh đoàn thuyền ra khơi và tâm trạng của con người.
Bố cục
II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
1/ Cảnh đoàn thuyền ra khơi.
a. Cảnh hoàng hôn
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
- Điểm nhìn: Trên thuyền đánh cá..
- So sánh: gợi cảnh hoàng hôn trên biển đẹp kì vĩ, rực rỡ, tráng lệ, huy hoàng.
- Nhân hoá: Thời khắc chuyển giao giữa ngày và đêm. Biển ngôi nhà vũ trụ ấm áp, thân quen
=> Đoàn thuyền ra khơi đi trên biển như là đi trong ngôi nhà của mình.
1/ Cảnh đoàn thuyền ra khơi.
b. Hình ảnh đoàn thuyền ra khơi
‘‘Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi”
=> Vũ trụ nghỉ ngơi, con người làm việc.
Từ “lại”: Công việc quen thuộc hằng ngày.
Hình ảnh “Đoàn thuyền”: gợi không khí đông vui, tấp nập
Đoàn thuyền chứ không phải 1 chiếc thuyền cô độc.
1/ Cảnh đoàn thuyền ra khơi.
b. Hình ảnh đoàn thuyền ra khơi
“Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
Nghệ thuật ẩn dụ: thể hiện niềm vui, sự phấn chấn, tinh thần hăng say lao động.
- Tiếng hát khỏe khoắn cùng với gió nâng đỡ cánh buồm
Sự vận động của vũ trụ, biển cả đang dần khép lại, chuyển sang trạng thái nghỉ ngơi
THIÊN NHIÊN
CON NGƯỜI
Con người bắt đầu ra khơi, bắt đầu một ngày lao động mới.
Đối lập
=> Đoàn thuyền ra khơi trong không gian rộng lớn, hung vĩ, tráng lệ của biển trời và ánh sáng rực rỡ của hoàng hôn.
“Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi”
=> Sự giàu có và trù phú của biển khơi.
- Liệt kê: cá bạc, cá thu gợi vùng biển giàu có, trù phú.
- So sánh: gợi từng đoàn cá nối đuôi nhau nhiều như thoi đưa.
- Biển lặng: Cầu mong biển yên để có chuyến đi bình an, đầy ắp cá tôm.
“Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
- Nhân hoá: “Dệt biển”
- Hình ảnh ẩn dụ, nói quá: “Muôn luồng sáng”
=> Vẽ đẹp lung linh, kỳ ảo của biển đêm.
- Tiếng gọi thiết tha => Khát vọng chinh phục biển cả, chinh phục thiên nhiên, mong ước đánh bắt được nhiều tôm cá.
- Niềm tự hào của tác giả về vùng biển quê hương.
- Tiếng hát của họ đã thể hiện tâm hồn chan chứa niềm vui, phấn khởi, hăng say lao động.
- Câu cầu khiến: “Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!”
Trong những năm gần đây một số vùng biển nước ta xảy ra tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường biển rất nhiều do những nguyên nhân như hiện tượng biển tiến , biển lùi, bão biển, nước dâng, sự ô nhiễm không khí ,tràn dầu tự nhiên….Đặc biệt là do con người vứt, xả rác trên bãi biển, cùng các chất thải khác từ tàu thuyền, (1.5 triệu tấn động vật chết mỗi năm vì ăn phải rác,2.4 triệu tấn dầu loang mỗi năm trên biển) gây thiệt hại cho một số vùng kinh tế , ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân như : sản lượng cá đánh bắt gần bờ giảm, nhiều loài thuỷ hải sản nuôi trồng chết hàng loạt, ảnh hưởng xấu đến du lịch Biển là tài nguyên vô cùng quí giá đối với con người .
Biển cho ta cá tôm ,cho ta khóang sản và là nguồn kinh tế du lịch vô tận . Vì thế chúng ta phải biết yêu biển bảo vệ biển như bảo vệ chính mình bảo vệ với ý thức cao và bằng hành động cụ thể. Mỗi người dân phải nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, không được xả rác bừa bãi…
2. Cảnh đánh cá trên biển:
a, Hình ảnh con thuyền đánh cá
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
Hình ảnh con thyền nằm trong mối quan hệ: gió, buồm trăng, biển bằng.
Không gian mênh mông nhưng con thuyền cũng lớn lao kì vĩ.
Sử dụng thủ pháp phóng đại và những liên tưởng độc đáo.
Cuộc đánh cá như 1 cuộc chiến, trận chiến trên mặt trận lao động chinh phục biển khơi.
Cá nhụ, cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe,
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long
Cá nhụ
Cá chim
Cá đé
Cá song
Các hình ảnh liệt kê
Trí tưởng tượng phong phú
Nghệ thuật phối sắc đặc biệt tài tình.
=> Cá đẹp rực rỡ, lộng lẫy huyền ảo, bầy cá như cá nàng tiên trong vũ hội
=> Ca ngợi biển cả thanh bình, giàu có
2. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển
b. Hình ảnh người dân chài với công việc lao động trên biển:
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao
Bút pháp lãng mạn cùng những liện tưởng độc đáo.
=> Biến công việc nặng nhọc thành niềm vui, thể hiện lòng yêu nghề chan chứa.
- NT: So sánh, nhân hóa.
=> Biển hiền hòa, bao dung, nuôi sống con người
Những người dân chài làm việc với niềm vui hăng hái, say sưa của những người làm chủ đất nước,họ lao động với tất cả sức lực và trí tuệ, tình yêu biển yêu nghề.
Biển cho ta cá như lòng mẹ
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào
→ Công việc lao động tràn ngập niềm vui, lạc quan, yêu đời, yêu lao động nhịp nhàng cùng thiên nhiên.
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng.
Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.
Kéo xoăn tay:
- Tả thực, từ ngữ gợi hình
->Vẻ đẹp mạnh mẽ, rắn rỏi, khỏe khoắn
“Nắng hồng”→ Người lao động hân hoan, phấn khởi với chuyến ra khơi tốt đẹp
3. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về
Khổ thơ cuối hô ứng với khổ thơ đầu tạo 2 cảnh đối xứng.
=> Biểu hiện nhịp tuần hoàn của vũ trụ.
Dòng thơ đầu được lập lại với dòng đầu của khổ 1
=> Tiếng hát xuất hiện suốt bài thơ: khúc ca lao động hào hứng.
Sử dụng nhân hóa, hoán dụ và cách nói khoa trương.
=> Cảnh tượng thiên nhiên kì vĩ, con người chạy đua cùng thời gian.
=> Đoàn thuyền trở về trong cảnh 1 ngày mới bắt đầu,con người chạy đua với thời gian, tranh thủ thời gian để lao động và đã thu được thành quả to lớn
Câu hát căng buồm với gió khơi
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.
III. Tổng kết:
1. Nghệ thuật:
- Sử dụng bút pháp lãng mạn với các biện pháp nghệ thuật đối lập, so sánh, nhân hoá, phóng đại
- Sử dụng ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, gợi liên tưởng
2. Nội dung:
Bài thơ thể hiện nguồn cảm hứng lãng mạn ca ngợi biển cả lớn lao và giàu đẹp ngợi ca nhiệt tình lao động vì sự giàu đẹp của đất nước của nhứng con người lao động mới .
Sơ đồ tư duy
Trong bài “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận có câu thơ sau:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng”
Câu 1: Chép chính xác ba câu thơ tiếp theo? Dựa vào trình tự ra khơi của đoàn thuyền thì đoạn trích em vừa chép mang nội dung gì? (Diễn đạt ngắn gọn bằng một câu văn).
Câu 2: Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật mà tác giả sử dụng trong câu thơ “Thuyền ta lái gió với buồm trăng”? Các biện pháp nghệ thuật đó đã góp phần khắc họa vẻ đẹp nào của những người ngư dân?
Câu 3: Nêu mạch cảm xúc của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”.
Cáu 4: Phân tích nét đặc sắc của hình ảnh “buồm trăng”. Em hiểu cách nói “thuyền ta” nghĩa là gì? Theo em, có thể thay thế “thuyền ta” bằng “đoàn thuyền” được không? Vì sao?
Câu 5: Câu thơ “Lướt giữa mây cao với biển bằng", tác giả đã vi phạm phương châm hội thoại nào? Điều đó có phải chủ ý của nhà văn không, vì sao?
Cáu 6: Trong chương trinh Ngữ văn THCS, em cũng đã học một bài thơ rất hay có hinh ảnh con thuyền, cánh buồm. Đó là bài thơ nào? Của ai?
Câu 7: Cách viết “Lái gió với buồm trăng” đã gợi cho em điều gì?
Cáu 8: Viết đoạn văn nêu cảm nhận vể khổ thơ trên.
Câu 9: Bằng sự hiểu biết của bản thân, em hây viết đoạn văn khoảng 12 câu theo kiểu lập luận diễn dịch, trình bày cảm nhận về vẻ đẹp của người dân chài khi đánh cá trên biển đêm, trong đoạn có sử dụng một câu phủ định và một phép lặp để liên kết.
Câu 10; Từ đoạn thơ vừa chép, với những hiểu biết xã hội của mình, em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng nửa trang giấy thi) về hình ảnh những người ngư dân vẫn đang ngày đêm vươn khơi bám biển trong thời điểm hiện nay.
PHIẾU BÀI TẬP
Xin chào
và tạm biệt các em!
 








Các ý kiến mới nhất