GIAO DUC KI NANG SONG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thùy Dương
Ngày gửi: 16h:20' 17-02-2011
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 159
Nguồn:
Người gửi: Vũ Thùy Dương
Ngày gửi: 16h:20' 17-02-2011
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 159
Số lượt thích:
0 người
Chào mừng các
thầy cô đến dự chuyên đề
Môn: GIÁO DỤC CÔNG DÂN
cấp THCS
Trường Trung Học Cơ Sở
CỔ THÀNH
Giáo viên: Trần Thị Thinh
Chuyên đề
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN, GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP.
Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu của giáo dục phổ thông: giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Luật Giáo dục - (2005)
- Tuy nhiên trong những năm gần đây việc học sinh nắm bắt kiến thức trong sách vở rất thuần thục nhưng khi các em đem vận dụng vào thực tế còn rất hạn chế, thậm chí có em còn không biết cách vận dụng làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của chính các em và sự phát triển của xã hội.
- Thực tế được các địa phương đưa ra là các em học sinh hiện nay đầu tư quá nhiều thời gian cho việc học tập nên ít hoặc thậm chí không bao giờ tham gia các chương trình hoạt động tập thể, trong khi đó là cơ hội giúp cho các em hình thành kỹ năng sống.
Theo một nghiên cứu mới được ngành giáo dục công bố, có 37% sinh viên ra trường không tìm được việc làm do thiếu kỹ năng thực hành xã hội (khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, giao tiếp...); 83% sinh viên ra trường bị các nhà tuyển dụng đánh giá là thiếu kỹ năng sống.
Báo cáo của ngành giáo dục cho biết, từ đầu năm học 2009-2010 đến nay, toàn quốc có khoảng trên 1.598 vụ việc liên quan đến học sinh đánh nhau trong và ngoài trường học. Nhà trường đã xử lý kỷ luật với nhiều hình thức: 881 học sinh bị khiển trách, 1.558 học sinh bị cảnh cáo, 735 học sinh bị buộc thôi học có thời hạn từ 3 ngày đến 1 năm học...
Tình trạng học sinh đánh nhau đang nổi lên và có phần diễn biến phức tạp trong và ngoài nhà trường. Các vụ việc học sinh đánh nhau xảy ra nhiều hơn cả là các khu vực đông dân cư, khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh. Đồng thời hiện tượng này thường thấy ở các học sinh cuối cấp THCS và các lớp của cấp THPT.
I. Nguyên nhân:
1.Xã hội:
- Do ảnh hưởng tiêu cực bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường.
- Sự bùng nổ thông tin, nhất là game online => ảnh hưởng bởi các trò chơi mang tính bạo lực.
2. Nhà trường:
- Sự quan tâm của lãnh đạo và giáo viên về vấn đề giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh còn nhiều hạn chế.
- Thiếu sân chơi => cơ sở vật chất còn thiếu nhiều
3. Trong học sinh:
- Tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng nhất là học sinh phổ thông. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh đánh nhau theo Bộ Giáo dục – Đào tạo có nhiều. Tuy nhiên, chủ yếu là xuất phát từ chính bản thân các học sinh. Trong nhiều yếu tố dẫn đến hiện tượng đánh nhau, về cơ bản vẫn là các em thiếu kỹ năng sống. Các nguyên nhân khác xuất phát từ hoàn cảnh gia đình, từ môi trường xã hội, môi trường giáo dục trong nhà trường... cấu thành.
- Có nhiều hành vi ứng xử sai lệch chuẩn mực đạo đức xã hội
II. Thực trạng việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
- Hiện nay nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau
- Ở Việt Nam để ngăn chặn tình trạng học sinh đánh nhau gần đây xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều đã để lại hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần không chỉ riêng đối với các em mà cho cả gia đình và cộng đồng, ngoài sự nỗ lực của ngành giáo dục, cần có sự tham gia đồng bộ của các Ban, ngành, đoàn thể nhằm tạo ra các hoạt động vui chơi lành mạnh và môi trường trường học tập tích cực thu hút các em học sinh. ( theo Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân)
- Phó Thủ tướng cho rằng, cần đẩy mạnh trong phong trào "xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" để trang bị nhiều hơn nữa kỹ năng sống cho HS. “Các trường có thể thí điểm triển khai bố trí từ 1 -2 giáo viên chuyên trách về dạy kỹ năng sống cho học sinh. Trong thời gian tới, ngành giáo dục cần tổ chức thí điểm biên chế "giáo viên tư vấn học sinh" trong các nhà trường”, Phó Thủ tướng gợi mở.
- Tại Việt Nam, tỉnh Tiền Giang đang thí điểm sáng kiến "Trung tâm hỗ trợ giáo dục ngoài giờ" tương tự như phòng công tác học sinh – sinh viên nhưng hoạt động hiệu quả hơn và chuyên về kỹ năng sống. Trung tâm này đã rất gần với loại hình giáo viên tư vấn.
- Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh, việc cần làm ngay là đầu năm học tới, ngành giáo dục cần mở ra sinh hoạt chuyên đề "nói không với hiện tượng học sinh đánh nhau". Cần quản lý chặt chẽ hơn nữa trò chơi điện tử; có thái độ cương quyết, không khuyến khích đối với các trò chơi điện tử có hành vi bạo lực trong thanh thiếu niên ở Việt Nam.
- Hiện nay, Bộ Giáo dục – Đào tạo đang gấp rút hoàn thành bộ tài liệu giáo dục kỹ năng sống, đồng thời đang tập huấn cho trên 300 giáo viên nòng cốt dạy kỹ năng sống cho các địa phương trong cả nước. Những sáng kiến, các mô hình tiên tiến về giáo dục kỹ năng của các địa phương, các trường trong cả nước sẽ được Bộ nghiên cứu, để nhân rộng trong cả nước.
- Hiện Bộ GD&ĐT đang giao cho Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thiết kế giáo trình kỹ năng sống. Nội dung giáo trình căn cứ vào một số chuẩn mực: chương trình giáo dục sống khỏe mạnh, kỹ năng sống cho học sinh THCS…
- Năm học này, Bộ GD&ĐT chính thức đưa chương trình dạy kỹ năng sống cho học sinh vào triển khai đại trà ở tất cả các trường tiểu học, THCS và THPT.
Chương trình được tích hợp trong các môn học và hoạt động ngoại khóa ở trường. Việc làm này được nhiều người ủng hộ và kỳ vọng. Song, thực tế thí điểm một năm qua cho thấy, đây không phải là việc muốn là làm được và không hẳn có kết quả ngay mà phải có sự kết hợp cả gia đình, nhà trường và xã hội.
Phần thứ hai: NỘI DUNG
A.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KĨ NĂNG SỐNG VÀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
I. QUAN NIỆM VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG.
1. KĨ NĂNG SỐNG
a.Theo WHO
KNS là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
b.Theo UNESCO:
KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào
cuộc sống hàng ngày
c.Theo UNICEF
KNS là những KN tâm lý XH có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ,cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể
thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống
Tóm lại: Có rất nhiều quan điểm khác nhau về kĩ năng sống như trên nhưng chúng đều có điểm chung: Kĩ năng sống là năng lực ứng xử của mỗi người đối với các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy của chính mình.
2. GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
Là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng thích hợp.
II.TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
1. Vai trò của việc giáo dục kĩ năng sống
- Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày
- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
* Tác dụng cụ thể
- Có được kiến thức và dần dần hình thành kĩ năng để sống khoẻ mạnh, phòng chống các loại bệnh tật và có thái độ tích cực, có kĩ năng sống tốt cho mỗi người trong điều kiện cụ thể khác nhau..
- Nâng cao khả năng tự xác định các giá trị của bản thân mình trong các tình huống cụ thể của cuộc sống. Góp phần ngăn chặn cái nguy có xâm hại của một số tác động xấu đem lại.
- Hỗ trợ trong quá trình học tập, rèn luyện của học sinh. Tạo môi trường thân thiện cho mọi người để thúc đẩy cá nhân và cộng đồng cùng phát triển.
- Tạo điều kiện phát huy bản sắc văn hoá dân tộc chủ động trong hội nhập, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
- Xác định: có khoảng cách giữa kiến thức và hành vi của mỗi người ở mỗi hoàn cảnh cụ thể. Từ đó việc trang bị kiến thức là điều kiện cần thiết phải có song phải cần có cả ý thức và năng lực ứng xử thực tiễn của mỗi người. Đây là mối quan hệ mật thiết, biện chứng được phát triển dần dần và bền vững tuỳ thuộc vào mỗi cá nhân cụ thể.
2. Quá trình hình thành kĩ năng sống
Tạo cho người ta có được những tri thức đã được đúc kết, chắt lọc cuả nhân loại về kĩ năng sống. Từ đó cùng với sự chủ động của mỗi người để họ có được sự tự ý thức và rèn luyện các khả năng ứng phó với tình huống xã hội gặp phải. Mỗi người tự tìm hiểu thì sẽ rất khó khăn. Nếu được học tập, rèn luyện có hướng dẫn thì kết quả sẽ khả quan hơn. Do vậy giáo dục kĩ năng sống là cần thiết đối với tất cả mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ
3. Nội dung của giáo dục kĩ năng sống bao gồm:
Các tri thức về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa con người với nhau; thái độ tích cực của mỗi cá nhân đối với lối sống có văn hoá của xã hội; tự nâng cao ý thức và khả năng của mỗi người; góp phần phát triển, hoàn thiện thêm các khả năng ứng xử tích cực của mỗi người trước các tình huống gặp phải trong cuộc sống hàng ngày.
B. một số kĩ năng sống cơ bản
1. Kĩ năng giao tiếp
- Là kĩ năng làm việc có hiệu quả với một tập thể, cá nhân; ứng xử của mỗi người khi tiếp xúc với người khác; thái độ cảm thông và ý thức hợp tác của mỗi người; khả năng bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc đối với người khác
Ví dụ: Chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, bày tỏ ý kiến, đề nghị hỗ trợ, cảm thông và chia sẻ
- Nội dung cụ thể bao gồm xây dựng tình bạn, tạo sự cảm thông, ngăn chặn và làm chủ bản thân trước sự lôi kéo cám dỗ không lành mạnh, trao đổi tranh luận giả quyết xung đột không cần bạo lực, giao tiếp hiệu quả, biết lắng nghe hợp lý.
2. Kĩ năng nhận thức bản thân
- Là kĩ năng nhận thức về bản thân, bao gồm trình độ, khả năng, điều kiện, đặc điểm tính cách, thói quen, thái độ, cách thức suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu của chính mình. Từ đó có cách ứng xử tích cực với cuộc sống.
- Biết mình, biết điều kiện có thì sẽ tạo ra cho mỗi người xác định hành vi, ứng xử một cách phù hợp và vững tin với cách xử lí của mình.
Làm thế nào để tự nhận thức:
+ Tự đánh giá
+ Tranh luận trao đổi, giao lưu với người khác để tự thấy mình.
+ Sự góp ý, đánh giá khách quan của người khác.
+ Làm thử thí điểm một số hoạt động để bộc lộ mình.
Ví dụ: Xác dịnh tên, sở thích, thói quen, năng khiếu, điểm mạnh điểm yếu của bản thân
3. Kĩ năng xác định giá trị.
- Là khả năng xác định giá trị của điều mình cho là quan trọng cần giữ gìn và phát huy. Từ đó có thái độ và hành vi để bảo vệ các giá trị đó. Biết bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai một cách hợp lí là kĩ năng xác định giá trị- Cách thức xác định: Tìm hiểu các khía cạnh của các giá trị quan tâm. Trao đổi, kiểm nghiệm bằng cuộc sống bản thân, ghi nhận và bổ sung, mở rộng, cập nhật ( nếu có).
4. kĩ năng suy nghĩ sáng tạo
Là phương pháp tự tư duy độc lập để tìm ra các giải pháp tối ưu trong cuộc sống không lệ thuộc hoàn toàn vào cái đã có.
Cách tạo ra suy nghĩ sáng tạo:
+ Tổng hợp từ tri thức và kinh nghiệm của cuộc sống
+ Dựa trên các quy luật của chuyên ngành và phương pháp tư duy để phân tích.
+ Liên hệ với thực tiễn điều kiện của mình.
+ Chủ động đưa ra giải pháp của mình.
+ Trao đổi với người có liên quan để xử lí.
5. Kĩ năng ra quyết định
Bao gồm 3 bước:
+ Thu thập thông tin càng đầy đủ càng tốt. Nếu thông tin được tập hơp đầy đủ thì đảm bảo quá nửa cho việc quyết định thành công trong quyết định.
+ Đưa ra hệ thống các giải pháp, hướng đi để cân nhắc khách quan các khả năng có thể để đưa ra quyết định. Có suy nghĩ độc lập, sáng tạo.
+ Chọn một giải pháp tối ưu hoặc hoặc phù hợp với điều kiện cụ thể mà bản thân tâm đắc nhất. Sau đó tập trung nguồn lực để giải quyết theo hướng đã chọn, tránh việc thay đổi lớn trong quá trình thực hiện.
6. Kĩ năng làm chủ bản thân
Tuân theo những quy luật chung, cơ bản để tìm ra chỗ dựa vững chắc cho bản thân. Từ đó có được sự kiên định làm chủ bản thân.
7. Kĩ năng kiên định
- Tính kiên định thực hiện mong muốn ( hoặc từ chối) với sự xem xét khách quan, hài hoà giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của các bên tham gia. Giữa lợi ích trước mắt và lâu dài. Kiên định là sự cân bằng, hài hoà giữa hiếu thắng, vị kỉ và phục tùng, phụ thuộc.
8. Kĩ năng đặt mục tiêu
- Mục tiêu được thể hiện bằng ngôn ngữ cụ thể, không chung chung, viển vông, lượng hoá được kết quả cụ thể để có thể kiểm định được.
- Xác định các bên liên quan (chủ trì, phối hợp trong thực tiễn)
- Xác định thời gian hoàn thành, các mốc thời gian trung gian.
- Có nguồn lực đảm bảo
9. Kĩ năng ứng phó với các tình huống căng thẳng
Phải xác định nguyên nhân,các giải pháp, đặt mục tiêu sau đó giải quyết căng thẳng, tập trung xử lí theo khả năng đã chọn
( tiếp tục vượt qua để đạt mục tiêu loại từ chối)
C. Cách tiếp cận và phương pháp giáo dục kĩ năng sống
1.CÁCH TI?P C?N
Là s? d?ng cỏc phuong phỏp và ki thu?t d?y h?c tớch c?c d? t?o di?u ki?n, co h?i cho HS du?c th?c hành, tr?i nghi?m KNS trong quỏ trỡnh h?c t?p.
2.MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC CÓ THỂ SỬ DỤNG ĐỂ GIÁO DỤC KNS CHO HS :
-Phương pháp dạy học nhóm
-Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
-Phương pháp giải quyết vấn đề
-Phương pháp tổ chức trò chơi
-Dạy học theo dự án
- Phương pháp kể chuyện
- Phương pháp xử lí tình huống
- Phương pháp đóng vai
3.Một số kĩ thuật dạy học tích cực
a.Kĩ thuật chia nhóm
- Có nhiều cách chia nhóm khác nhau:
- Theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…
- Theo sở thích
- Theo tháng sinh
- Theo trình độ
- Theo giới tính
b.Kĩ thuật giao nhiệm vụ
+. Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
+ Nhiệm vụ là gì?
+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
+ Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?
+. Nhiệm vụ phải phù hợp với:
+ Mục tiêu HĐ
+ Trình độ HS
+ Thời gian, không gian HĐ
+ CSVC, trang thiết bị
c.Kĩ thuật đặt câu hỏi
- Liên quan đến việc thực hiện MT bài học
- Ngắn gọn
- Rõ ràng, dễ hiểu
- Đúng lúc, đúng chỗ
- Phù hợp với trình độ HS
- Kích thích suy nghĩ của HS
- Phù hợp với thời gian thực tế
- Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó,từ đơn giản đến phức tạp.
- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích
- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
d. Kĩ thuật “Hỏi Chuyên gia”
Một nhóm học sinh đóng vai là một “tổ chuyên gia” về một chủ đề nhất định. Các em HS khác trong lớp đặt câu hỏi cho các chuyên gia về chủ đề đó để các chuyên gia giải đáp. Một em trưởng nhóm (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi “tư vấn”, mời các bạn đặt câu hỏi rồi mời chuyên gia trả lời.
* Lưu ý:
- Mỗi PPDH có những ưu điểm và hạn chế nhất định, vì vậy trong dạy học, GV cần sử dụng phối hợp nhiều PPDH khác nhau nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm của các PPDH.
- Đồng thời với việc sử dụng các PPDHTC, cần sử dụng các KTDHTC nhằm hỗ trợ và nâng cao hiệu quả của PPDH.
D. Hình thức hoạt động
- Thông qua các buổi ngoại khóa
- Tích hợp qua một số bộ môn trong đó có môn GDCD, GDNGLL.
- Thông qua các Câu lạc bộ
Các loại hình câu lạc bộ phù hợp với lứa tuổi học sinh trong nhà trường
- Câu lạc bộ tuổi tin
- Câu lạc bộ bạn gái/ nữ sinh
- Câu lạc bộ học sinh thanh lịch
- Câu lạc bộ tình bạn
- Câu lạc bộ bộ môn: Văn, Toán, Lí, Hoá..
- Câu lạc bộ hùng biện
- Câu lạc bộ thể thao
- Câu lạc bộ rèn luyện sức khoẻ
- Câu lạc bộ rèn luyện kĩ năng sống
Các chủ đề chính của Câu lạc bộ rèn luyện kĩ năng sống này thường gồm:
Kĩ năng kết bạn
Kĩ năng học bằng đa giác quan
Kĩ năng điều chỉnh nhận thức và hành vi
Kĩ năng tự đánh giá bản thân
Kĩ năng suy nghĩ tích cực duy trì thái độ lạc quan
Kĩ năng tư duy sáng tạo
Kĩ năng giao tiếp có ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
Kĩ năng lắng nghe tích cực
Kĩ năng thuyết trình
Kĩ năng ứng phó với lo âu và kiểm soát những cảm xúc tiêu cực
Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ
Kĩ năng giải quyết vấn đề
Kĩ năng ra quyết định
Kĩ năng xác định giá trị
Phần thứ ba: KếT LUậN
- Với thời gian tìm hiểu có hạn nên chuyên đề chỉ dừng lại ở hình thức thực hiện là thông qua hoạt động ngoại khóa để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
- Hầu hết các bài trong chương trình GDCD THCS đều có khả năng giáo dục KNS mà không cần đưa thêm các thông tin, kiến thức.
- Giáo dục KNS phải thông qua việc áp dụng các phương pháp/kĩ thuật dạy học tích cực để tổ chức các hoạt động dạy học, qua hoạt động HS mới có cơ hội để rèn luyện, hình thành KNS.
Chúc các thầy cô sức khỏe
và thành công!
thầy cô đến dự chuyên đề
Môn: GIÁO DỤC CÔNG DÂN
cấp THCS
Trường Trung Học Cơ Sở
CỔ THÀNH
Giáo viên: Trần Thị Thinh
Chuyên đề
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN, GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP.
Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu của giáo dục phổ thông: giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Luật Giáo dục - (2005)
- Tuy nhiên trong những năm gần đây việc học sinh nắm bắt kiến thức trong sách vở rất thuần thục nhưng khi các em đem vận dụng vào thực tế còn rất hạn chế, thậm chí có em còn không biết cách vận dụng làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của chính các em và sự phát triển của xã hội.
- Thực tế được các địa phương đưa ra là các em học sinh hiện nay đầu tư quá nhiều thời gian cho việc học tập nên ít hoặc thậm chí không bao giờ tham gia các chương trình hoạt động tập thể, trong khi đó là cơ hội giúp cho các em hình thành kỹ năng sống.
Theo một nghiên cứu mới được ngành giáo dục công bố, có 37% sinh viên ra trường không tìm được việc làm do thiếu kỹ năng thực hành xã hội (khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, giao tiếp...); 83% sinh viên ra trường bị các nhà tuyển dụng đánh giá là thiếu kỹ năng sống.
Báo cáo của ngành giáo dục cho biết, từ đầu năm học 2009-2010 đến nay, toàn quốc có khoảng trên 1.598 vụ việc liên quan đến học sinh đánh nhau trong và ngoài trường học. Nhà trường đã xử lý kỷ luật với nhiều hình thức: 881 học sinh bị khiển trách, 1.558 học sinh bị cảnh cáo, 735 học sinh bị buộc thôi học có thời hạn từ 3 ngày đến 1 năm học...
Tình trạng học sinh đánh nhau đang nổi lên và có phần diễn biến phức tạp trong và ngoài nhà trường. Các vụ việc học sinh đánh nhau xảy ra nhiều hơn cả là các khu vực đông dân cư, khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh. Đồng thời hiện tượng này thường thấy ở các học sinh cuối cấp THCS và các lớp của cấp THPT.
I. Nguyên nhân:
1.Xã hội:
- Do ảnh hưởng tiêu cực bởi những mặt trái của nền kinh tế thị trường.
- Sự bùng nổ thông tin, nhất là game online => ảnh hưởng bởi các trò chơi mang tính bạo lực.
2. Nhà trường:
- Sự quan tâm của lãnh đạo và giáo viên về vấn đề giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh còn nhiều hạn chế.
- Thiếu sân chơi => cơ sở vật chất còn thiếu nhiều
3. Trong học sinh:
- Tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng nhất là học sinh phổ thông. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh đánh nhau theo Bộ Giáo dục – Đào tạo có nhiều. Tuy nhiên, chủ yếu là xuất phát từ chính bản thân các học sinh. Trong nhiều yếu tố dẫn đến hiện tượng đánh nhau, về cơ bản vẫn là các em thiếu kỹ năng sống. Các nguyên nhân khác xuất phát từ hoàn cảnh gia đình, từ môi trường xã hội, môi trường giáo dục trong nhà trường... cấu thành.
- Có nhiều hành vi ứng xử sai lệch chuẩn mực đạo đức xã hội
II. Thực trạng việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
- Hiện nay nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau
- Ở Việt Nam để ngăn chặn tình trạng học sinh đánh nhau gần đây xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều đã để lại hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần không chỉ riêng đối với các em mà cho cả gia đình và cộng đồng, ngoài sự nỗ lực của ngành giáo dục, cần có sự tham gia đồng bộ của các Ban, ngành, đoàn thể nhằm tạo ra các hoạt động vui chơi lành mạnh và môi trường trường học tập tích cực thu hút các em học sinh. ( theo Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân)
- Phó Thủ tướng cho rằng, cần đẩy mạnh trong phong trào "xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" để trang bị nhiều hơn nữa kỹ năng sống cho HS. “Các trường có thể thí điểm triển khai bố trí từ 1 -2 giáo viên chuyên trách về dạy kỹ năng sống cho học sinh. Trong thời gian tới, ngành giáo dục cần tổ chức thí điểm biên chế "giáo viên tư vấn học sinh" trong các nhà trường”, Phó Thủ tướng gợi mở.
- Tại Việt Nam, tỉnh Tiền Giang đang thí điểm sáng kiến "Trung tâm hỗ trợ giáo dục ngoài giờ" tương tự như phòng công tác học sinh – sinh viên nhưng hoạt động hiệu quả hơn và chuyên về kỹ năng sống. Trung tâm này đã rất gần với loại hình giáo viên tư vấn.
- Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh, việc cần làm ngay là đầu năm học tới, ngành giáo dục cần mở ra sinh hoạt chuyên đề "nói không với hiện tượng học sinh đánh nhau". Cần quản lý chặt chẽ hơn nữa trò chơi điện tử; có thái độ cương quyết, không khuyến khích đối với các trò chơi điện tử có hành vi bạo lực trong thanh thiếu niên ở Việt Nam.
- Hiện nay, Bộ Giáo dục – Đào tạo đang gấp rút hoàn thành bộ tài liệu giáo dục kỹ năng sống, đồng thời đang tập huấn cho trên 300 giáo viên nòng cốt dạy kỹ năng sống cho các địa phương trong cả nước. Những sáng kiến, các mô hình tiên tiến về giáo dục kỹ năng của các địa phương, các trường trong cả nước sẽ được Bộ nghiên cứu, để nhân rộng trong cả nước.
- Hiện Bộ GD&ĐT đang giao cho Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thiết kế giáo trình kỹ năng sống. Nội dung giáo trình căn cứ vào một số chuẩn mực: chương trình giáo dục sống khỏe mạnh, kỹ năng sống cho học sinh THCS…
- Năm học này, Bộ GD&ĐT chính thức đưa chương trình dạy kỹ năng sống cho học sinh vào triển khai đại trà ở tất cả các trường tiểu học, THCS và THPT.
Chương trình được tích hợp trong các môn học và hoạt động ngoại khóa ở trường. Việc làm này được nhiều người ủng hộ và kỳ vọng. Song, thực tế thí điểm một năm qua cho thấy, đây không phải là việc muốn là làm được và không hẳn có kết quả ngay mà phải có sự kết hợp cả gia đình, nhà trường và xã hội.
Phần thứ hai: NỘI DUNG
A.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KĨ NĂNG SỐNG VÀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG
I. QUAN NIỆM VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG.
1. KĨ NĂNG SỐNG
a.Theo WHO
KNS là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
b.Theo UNESCO:
KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào
cuộc sống hàng ngày
c.Theo UNICEF
KNS là những KN tâm lý XH có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ,cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể
thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống
Tóm lại: Có rất nhiều quan điểm khác nhau về kĩ năng sống như trên nhưng chúng đều có điểm chung: Kĩ năng sống là năng lực ứng xử của mỗi người đối với các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy của chính mình.
2. GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
Là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng thích hợp.
II.TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
1. Vai trò của việc giáo dục kĩ năng sống
- Trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp. Trên cơ sở đó hình thành cho HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày
- Tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
* Tác dụng cụ thể
- Có được kiến thức và dần dần hình thành kĩ năng để sống khoẻ mạnh, phòng chống các loại bệnh tật và có thái độ tích cực, có kĩ năng sống tốt cho mỗi người trong điều kiện cụ thể khác nhau..
- Nâng cao khả năng tự xác định các giá trị của bản thân mình trong các tình huống cụ thể của cuộc sống. Góp phần ngăn chặn cái nguy có xâm hại của một số tác động xấu đem lại.
- Hỗ trợ trong quá trình học tập, rèn luyện của học sinh. Tạo môi trường thân thiện cho mọi người để thúc đẩy cá nhân và cộng đồng cùng phát triển.
- Tạo điều kiện phát huy bản sắc văn hoá dân tộc chủ động trong hội nhập, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
- Xác định: có khoảng cách giữa kiến thức và hành vi của mỗi người ở mỗi hoàn cảnh cụ thể. Từ đó việc trang bị kiến thức là điều kiện cần thiết phải có song phải cần có cả ý thức và năng lực ứng xử thực tiễn của mỗi người. Đây là mối quan hệ mật thiết, biện chứng được phát triển dần dần và bền vững tuỳ thuộc vào mỗi cá nhân cụ thể.
2. Quá trình hình thành kĩ năng sống
Tạo cho người ta có được những tri thức đã được đúc kết, chắt lọc cuả nhân loại về kĩ năng sống. Từ đó cùng với sự chủ động của mỗi người để họ có được sự tự ý thức và rèn luyện các khả năng ứng phó với tình huống xã hội gặp phải. Mỗi người tự tìm hiểu thì sẽ rất khó khăn. Nếu được học tập, rèn luyện có hướng dẫn thì kết quả sẽ khả quan hơn. Do vậy giáo dục kĩ năng sống là cần thiết đối với tất cả mọi người đặc biệt là thế hệ trẻ
3. Nội dung của giáo dục kĩ năng sống bao gồm:
Các tri thức về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa con người với nhau; thái độ tích cực của mỗi cá nhân đối với lối sống có văn hoá của xã hội; tự nâng cao ý thức và khả năng của mỗi người; góp phần phát triển, hoàn thiện thêm các khả năng ứng xử tích cực của mỗi người trước các tình huống gặp phải trong cuộc sống hàng ngày.
B. một số kĩ năng sống cơ bản
1. Kĩ năng giao tiếp
- Là kĩ năng làm việc có hiệu quả với một tập thể, cá nhân; ứng xử của mỗi người khi tiếp xúc với người khác; thái độ cảm thông và ý thức hợp tác của mỗi người; khả năng bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc đối với người khác
Ví dụ: Chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, bày tỏ ý kiến, đề nghị hỗ trợ, cảm thông và chia sẻ
- Nội dung cụ thể bao gồm xây dựng tình bạn, tạo sự cảm thông, ngăn chặn và làm chủ bản thân trước sự lôi kéo cám dỗ không lành mạnh, trao đổi tranh luận giả quyết xung đột không cần bạo lực, giao tiếp hiệu quả, biết lắng nghe hợp lý.
2. Kĩ năng nhận thức bản thân
- Là kĩ năng nhận thức về bản thân, bao gồm trình độ, khả năng, điều kiện, đặc điểm tính cách, thói quen, thái độ, cách thức suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu của chính mình. Từ đó có cách ứng xử tích cực với cuộc sống.
- Biết mình, biết điều kiện có thì sẽ tạo ra cho mỗi người xác định hành vi, ứng xử một cách phù hợp và vững tin với cách xử lí của mình.
Làm thế nào để tự nhận thức:
+ Tự đánh giá
+ Tranh luận trao đổi, giao lưu với người khác để tự thấy mình.
+ Sự góp ý, đánh giá khách quan của người khác.
+ Làm thử thí điểm một số hoạt động để bộc lộ mình.
Ví dụ: Xác dịnh tên, sở thích, thói quen, năng khiếu, điểm mạnh điểm yếu của bản thân
3. Kĩ năng xác định giá trị.
- Là khả năng xác định giá trị của điều mình cho là quan trọng cần giữ gìn và phát huy. Từ đó có thái độ và hành vi để bảo vệ các giá trị đó. Biết bảo vệ cái đúng, phê phán cái sai một cách hợp lí là kĩ năng xác định giá trị- Cách thức xác định: Tìm hiểu các khía cạnh của các giá trị quan tâm. Trao đổi, kiểm nghiệm bằng cuộc sống bản thân, ghi nhận và bổ sung, mở rộng, cập nhật ( nếu có).
4. kĩ năng suy nghĩ sáng tạo
Là phương pháp tự tư duy độc lập để tìm ra các giải pháp tối ưu trong cuộc sống không lệ thuộc hoàn toàn vào cái đã có.
Cách tạo ra suy nghĩ sáng tạo:
+ Tổng hợp từ tri thức và kinh nghiệm của cuộc sống
+ Dựa trên các quy luật của chuyên ngành và phương pháp tư duy để phân tích.
+ Liên hệ với thực tiễn điều kiện của mình.
+ Chủ động đưa ra giải pháp của mình.
+ Trao đổi với người có liên quan để xử lí.
5. Kĩ năng ra quyết định
Bao gồm 3 bước:
+ Thu thập thông tin càng đầy đủ càng tốt. Nếu thông tin được tập hơp đầy đủ thì đảm bảo quá nửa cho việc quyết định thành công trong quyết định.
+ Đưa ra hệ thống các giải pháp, hướng đi để cân nhắc khách quan các khả năng có thể để đưa ra quyết định. Có suy nghĩ độc lập, sáng tạo.
+ Chọn một giải pháp tối ưu hoặc hoặc phù hợp với điều kiện cụ thể mà bản thân tâm đắc nhất. Sau đó tập trung nguồn lực để giải quyết theo hướng đã chọn, tránh việc thay đổi lớn trong quá trình thực hiện.
6. Kĩ năng làm chủ bản thân
Tuân theo những quy luật chung, cơ bản để tìm ra chỗ dựa vững chắc cho bản thân. Từ đó có được sự kiên định làm chủ bản thân.
7. Kĩ năng kiên định
- Tính kiên định thực hiện mong muốn ( hoặc từ chối) với sự xem xét khách quan, hài hoà giữa lợi ích cá nhân với lợi ích của các bên tham gia. Giữa lợi ích trước mắt và lâu dài. Kiên định là sự cân bằng, hài hoà giữa hiếu thắng, vị kỉ và phục tùng, phụ thuộc.
8. Kĩ năng đặt mục tiêu
- Mục tiêu được thể hiện bằng ngôn ngữ cụ thể, không chung chung, viển vông, lượng hoá được kết quả cụ thể để có thể kiểm định được.
- Xác định các bên liên quan (chủ trì, phối hợp trong thực tiễn)
- Xác định thời gian hoàn thành, các mốc thời gian trung gian.
- Có nguồn lực đảm bảo
9. Kĩ năng ứng phó với các tình huống căng thẳng
Phải xác định nguyên nhân,các giải pháp, đặt mục tiêu sau đó giải quyết căng thẳng, tập trung xử lí theo khả năng đã chọn
( tiếp tục vượt qua để đạt mục tiêu loại từ chối)
C. Cách tiếp cận và phương pháp giáo dục kĩ năng sống
1.CÁCH TI?P C?N
Là s? d?ng cỏc phuong phỏp và ki thu?t d?y h?c tớch c?c d? t?o di?u ki?n, co h?i cho HS du?c th?c hành, tr?i nghi?m KNS trong quỏ trỡnh h?c t?p.
2.MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC CÓ THỂ SỬ DỤNG ĐỂ GIÁO DỤC KNS CHO HS :
-Phương pháp dạy học nhóm
-Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
-Phương pháp giải quyết vấn đề
-Phương pháp tổ chức trò chơi
-Dạy học theo dự án
- Phương pháp kể chuyện
- Phương pháp xử lí tình huống
- Phương pháp đóng vai
3.Một số kĩ thuật dạy học tích cực
a.Kĩ thuật chia nhóm
- Có nhiều cách chia nhóm khác nhau:
- Theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…
- Theo sở thích
- Theo tháng sinh
- Theo trình độ
- Theo giới tính
b.Kĩ thuật giao nhiệm vụ
+. Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
+ Nhiệm vụ là gì?
+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
+ Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?
+. Nhiệm vụ phải phù hợp với:
+ Mục tiêu HĐ
+ Trình độ HS
+ Thời gian, không gian HĐ
+ CSVC, trang thiết bị
c.Kĩ thuật đặt câu hỏi
- Liên quan đến việc thực hiện MT bài học
- Ngắn gọn
- Rõ ràng, dễ hiểu
- Đúng lúc, đúng chỗ
- Phù hợp với trình độ HS
- Kích thích suy nghĩ của HS
- Phù hợp với thời gian thực tế
- Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó,từ đơn giản đến phức tạp.
- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích
- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
d. Kĩ thuật “Hỏi Chuyên gia”
Một nhóm học sinh đóng vai là một “tổ chuyên gia” về một chủ đề nhất định. Các em HS khác trong lớp đặt câu hỏi cho các chuyên gia về chủ đề đó để các chuyên gia giải đáp. Một em trưởng nhóm (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi “tư vấn”, mời các bạn đặt câu hỏi rồi mời chuyên gia trả lời.
* Lưu ý:
- Mỗi PPDH có những ưu điểm và hạn chế nhất định, vì vậy trong dạy học, GV cần sử dụng phối hợp nhiều PPDH khác nhau nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm của các PPDH.
- Đồng thời với việc sử dụng các PPDHTC, cần sử dụng các KTDHTC nhằm hỗ trợ và nâng cao hiệu quả của PPDH.
D. Hình thức hoạt động
- Thông qua các buổi ngoại khóa
- Tích hợp qua một số bộ môn trong đó có môn GDCD, GDNGLL.
- Thông qua các Câu lạc bộ
Các loại hình câu lạc bộ phù hợp với lứa tuổi học sinh trong nhà trường
- Câu lạc bộ tuổi tin
- Câu lạc bộ bạn gái/ nữ sinh
- Câu lạc bộ học sinh thanh lịch
- Câu lạc bộ tình bạn
- Câu lạc bộ bộ môn: Văn, Toán, Lí, Hoá..
- Câu lạc bộ hùng biện
- Câu lạc bộ thể thao
- Câu lạc bộ rèn luyện sức khoẻ
- Câu lạc bộ rèn luyện kĩ năng sống
Các chủ đề chính của Câu lạc bộ rèn luyện kĩ năng sống này thường gồm:
Kĩ năng kết bạn
Kĩ năng học bằng đa giác quan
Kĩ năng điều chỉnh nhận thức và hành vi
Kĩ năng tự đánh giá bản thân
Kĩ năng suy nghĩ tích cực duy trì thái độ lạc quan
Kĩ năng tư duy sáng tạo
Kĩ năng giao tiếp có ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
Kĩ năng lắng nghe tích cực
Kĩ năng thuyết trình
Kĩ năng ứng phó với lo âu và kiểm soát những cảm xúc tiêu cực
Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ
Kĩ năng giải quyết vấn đề
Kĩ năng ra quyết định
Kĩ năng xác định giá trị
Phần thứ ba: KếT LUậN
- Với thời gian tìm hiểu có hạn nên chuyên đề chỉ dừng lại ở hình thức thực hiện là thông qua hoạt động ngoại khóa để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
- Hầu hết các bài trong chương trình GDCD THCS đều có khả năng giáo dục KNS mà không cần đưa thêm các thông tin, kiến thức.
- Giáo dục KNS phải thông qua việc áp dụng các phương pháp/kĩ thuật dạy học tích cực để tổ chức các hoạt động dạy học, qua hoạt động HS mới có cơ hội để rèn luyện, hình thành KNS.
Chúc các thầy cô sức khỏe
và thành công!
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất