Huyện dường

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 11h:51' 01-08-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 154
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 11h:51' 01-08-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 154
Số lượt thích:
0 người
Huyện đường
(Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)
Thảo luận:
Theo em điểm khác biệt
cơ bản giữa chèo và
tuồng là gì?
❖ Chèo
Chèo nguyên là một loại hình kịch hát dân gian, phổ
biết ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, thường được diễn ở sân
đình trong thời gian có các lễ hội. Về sau, chèo được
chuyên nghiệp hóa dần với sự hình thành của các gánh
chèo, đoàn chèo.
- Tuồng
Là loại hình kịch hát cổ truyền của dân tộc, phát triển mạnh dưới
triều Nguyễn ở vùng Nam Trung Bộ.
Tuồng có hai bộ phận tương đối khác biệt nhau là tuồng cung đình và
tuồng dân gian
Điểm khác biệt
0
1 biểu
Không gian
diễn
Chèo: Sân khấu dân gian
Tuồng: Sân khấu dân gian và
cung đình
0
3
Nhân vật
Chèo: người dân bình
thường
Tuồng: vua, quan, dân
0
2
Chủ đề
Chèo: Vấn đề nhân sinh đời
thường
Tuồng: Vấn đề nhân sinh + xã
hội + cung đình
I
Tìm hiểu
chung
1. Thể loại:
Tuồng
2. Xuất xứ
- Đoạn trích thuộc vở tuồng “Nghêu, sò, ốc hến”
- Nội dung vở tuồng: Trộm Ốc nhờ thầy bói Nghêu (hay
Ngao) gieo quẻ chỉ hướng vào ăn trộm nhà Trùm Sò. Ốc
đem của trộm được bán cho Thị Hến, một gái góa trẻ đẹp.
Lý trưởng và Trùm Sò đến lục soát bắt được tang vật, liền
giải Thị Hến lên trình quan huyện. Khi đến công đường,
Thị Hến đã làm cho quan huyện và thầy đề mê mệt vì
nhan sắc của mình. Kết quả là Trùm Sò mất tiền, thầy Lý
bị đòn, Thị Hến được tha bổng. Kết thúc vở là cảnh cả
quan huyện, thầy đề, thầy Lý vì mê mẩn Thị Hến chạm
mặt nhau và bị các bà vợ đánh ghen tại nhà Thị Hến.
Mang tính châm biếm, đả kích quan lại địa phương.
3. Bố cục
Tri huyện xưng danh – Lời giới thiệu của tri huyện
(từ “Quyền trọng” đến “chuyên cần”).
Thủ đoạn của quan huyện và đề lại
(tiếp đó đến “Lệ đâu?”).
Lính lệ bắt đầu thực thi kế hoạch của “quan”
(đoạn còn lại).
4. Tóm tắt các sự kiện chính
Tri huyện
bước ra ,tự
xưng tên
tuổi, chức
vụ
Đề lại thưa
với tri
huyện về
vụ án của
Thị Hến
Tri huyện
và đề lại
đưa ra
phương án
xử lý
Lính lệ ra
gọi cả bên
vào hầu
II
Đọc hiểu
văn bản
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
“Lấy của cậy ngọn roi
Làm quan nhờ lỗ khẩu
Sự lí thường phân ẩu
Được thua tự đồng tiền
Dân xã nếu không kiêng
Bỏ xuống lao giam kĩ”.
“Quan chức nghĩ nên thú vị
Vào ra cũng phải chuyên cần”.
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
+ của, lỗ khẩu, đồng tiền Liên tục nhắc đến đồng tiền
+ động từ: Lấy của, cậy ngọn roi, phân ẩu, được thua, bỏ
xuống lao giam kĩ”.
Là một kẻ thuộc loại “ăn trên ngồi trốc”, hưởng đủ mùi
phú quý và quen sống phóng đãng “Đỉnh chung đà đủ
miếng/ Hoa nguyệt cũng quen mùi”.
+ Hai từ “thú vị” và “chuyên cần” cho thấy tri huyện đã hài lòng
biết bao với cuộc sống của mình. Ông ta càng “chuyên cần” thì
dân đen càng khốn đốn.
Thực hiện chức phận một cách tồi tệ, cây quyền cậy thế để tự
tung tự tác, bất chấp công lí, đạo lí, miễn sao vơ vét được nhiều.
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
Nhận xét:
- Lời giới thiệu đã vạch trần bộ mặt xấu xa của quan
huyện
- Hình ảnh quan huyện hiện lên qua giọng điều đầy châm
biếm, sâu cay.
- Theo cách nhìn của tác giả dân gian, trong xã hội xưa,
đây là đặc điểm chung của tầng lớp thống trị chứ không
phải đặc điểm của một nhân vật cá biệt nào.
Thảo luận
Lời tự giới thiệu của tri huyện có gì khác
so với lời giới thiệu thông thường?
Theo em, vì sao có sự khác biệt ấy?
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
Liên hệ:
- Thông thường, trong đời sống, khi tự giới thiệu, không ai muốn
nói ra những cái xấu của bản thân.
- Tuy nhiên, nhân vật tri huyện đã làm điều ấy.
Lời thoại không phải là ngôn ngữ tự nhiên của nhân vật mà ngôn
ngữ của nghệ thuật, đảm nhiệm các chức năng vừa thể hiện hành
động theo tích trò đã xác định, vừa định hướng suy nghĩ, cảm nhận
của khán giả, độc giả về chính sự việc đang diễn ra.
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
- Lời thoại tri huyện
+ “Sự lí thường phân ẩu/ Được thua tự đồng tiền”;
+“Tôi thì tôi nghĩ cứ để đu đưa như vậy đã. Thằng Sò này giàu lắm,
chúng mình có thể “ấy” được”;
+ “Phải, nắm đứa có tóc ai nắm kẻ trọc đầu”;
+ “...lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, nói thế nào lại chả
được”.
Tính toán, nham hiểm, không hề quan tâm công lý mà
chỉ nhăm nhăm tìm cách chuộc lợi
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
- Lời thoại của đề lại:
+ “Vâng, ta cứ bảo là để tra cứu đã. Thưa còn thằng Ốc, thằng
Nghêu, lí trưởng, Thị Hến thì liệu xử cho xong, bọn này toàn đầu
trọc cả”;
“Bẩm quan xử thật sâu sắc”;
“Vâng
xửxun
hayxoe,
lắm”.
ạ
Đ,ồquan
ng loã,
nịnh bợ
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
- Lời thoại của lính lệ:
+“Nhắc lại ông Trùm, anh xã và chị Hến biết rằng hôm nay quan
bận lắm, tôi bẩm mãi quan mới chịu xử vụ này đấy”.
Mọi mối bận tâm của tri huyện, đề lại và lính lệ đều chỉ xoay
quanh một chữ “tiền”
Tác giả dân gian đã xây dựng được hệ thống lời thoại hết sức tinh
tế, hàm súc. Trong mỗi lời nhân vật thốt ra dường như có sẵn một
mũi dao chĩa ngược về chính người nói.
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
- Sự hô ứng nhịp nhàng trong lời thoại giữa hai nhân v ật tri
huyện và đề lại
+ Khi tri huyện nói muốn để trường hợp của Sò lại vì nó rất giàu,
đề lại đã đưa ra phương án để nói với mọi người là “ta cứ bảo là
để tra cứu đã”
+ Đề lại nói muốn xử cho xong những bọn trọc đầu, tri huyện lập
tức hưởng ứng “phải, nắm đứa có tóc ai nắm kẻ trọc đầu”
+ Đề lại khen ngợi, tâng bốc, nịnh nọt với cách xử kiện của tri
huyện “bẩm quan xử thật sâu sắc”, “vâng ạ, quan xử hay lắm”
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
Nhận xét:
+ Hành vi xấu xa này đã xảy ra thường xuyên, nhiều lần nên
được phối hợp và diễn ra rất trơn tru.
+ Hai nhân vật này có sự tương đồng về bản chất tham lam,
xấu xa sách nhiểu, cấu kết với nhau lâu dài trong việc tróc nã,
chiếm đoạt tiền bạc từ người thưa kiện.
3. Thái độ của nhân dân
- Mỉa mai, khinh bỉ, đả kích chốn công quyền hoặc chốn “cửa
quan”: người dân xưa thấy “cửa quan” là chốn ô trọc, lúc nhúc
nhưng kẻ đục khoét đầy mưu mô, luôn tìm cơ hội vơ vét “cho đ ầy
túi tham” và làm hại những người “thấp cổ bé họng”, kể cả thành
phần bất hảo nhưng ở thế yếu hơn (như lí trưởng, Trùm Sò).
- Phơi bày hiện thực xã hội thiếu công bằng và tình người.
- Nhận xét: Đây là một cách nhìn nhận có tính lịch sử mà việc khắc
phục nó phải gắn liền với những đổi thay cơ bản của thể chế, xã
hội. Hiện nay, định kiến dai dẳng này đã dần được xoá bỏ khi xã
hội đã phát triển theo chiều hướng văn minh, tiến bộ
III
Tổng kết
1. Nội dung
Thể hiện cái nhìn châm biếm của tác giả
về thói tham nhũng, xử kiện dựa trên
đồng tiền của một bộ phận quan lại thối
nát vô lương tâm trong xã hội cũ
2. Nghệ thuật
Tiếng cười
sâu cay
Xây dựng
nhân vật đặc
sắc
Biện pháp
Đối lập, tăng tiến …
Luyện tập: đóng vai diễn xuất vở
tuồng trên
Lưu ý về diễn xuất
- Hành động, cử chỉ, bước đi, động tác nên mạnh mẽ, rõ ràng, dứt khoát
- Động tác và lời nói, sác thái biểu cảm phải hài hòa với các yếu tố khác
như tiếng trống, kèn, nhạc
- Đối với vai tri huyện, những đoạn cười nên diễn một cách tự nhiên,
khoái trá, bộc lộ được bản chất tham nhũng của nhân vật
- Vai đề lại, lính lệ nên nói năng nhỏ nhẹ, ánh mắt láo liên, cười gian
xảo
(Trích tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến)
Thảo luận:
Theo em điểm khác biệt
cơ bản giữa chèo và
tuồng là gì?
❖ Chèo
Chèo nguyên là một loại hình kịch hát dân gian, phổ
biết ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, thường được diễn ở sân
đình trong thời gian có các lễ hội. Về sau, chèo được
chuyên nghiệp hóa dần với sự hình thành của các gánh
chèo, đoàn chèo.
- Tuồng
Là loại hình kịch hát cổ truyền của dân tộc, phát triển mạnh dưới
triều Nguyễn ở vùng Nam Trung Bộ.
Tuồng có hai bộ phận tương đối khác biệt nhau là tuồng cung đình và
tuồng dân gian
Điểm khác biệt
0
1 biểu
Không gian
diễn
Chèo: Sân khấu dân gian
Tuồng: Sân khấu dân gian và
cung đình
0
3
Nhân vật
Chèo: người dân bình
thường
Tuồng: vua, quan, dân
0
2
Chủ đề
Chèo: Vấn đề nhân sinh đời
thường
Tuồng: Vấn đề nhân sinh + xã
hội + cung đình
I
Tìm hiểu
chung
1. Thể loại:
Tuồng
2. Xuất xứ
- Đoạn trích thuộc vở tuồng “Nghêu, sò, ốc hến”
- Nội dung vở tuồng: Trộm Ốc nhờ thầy bói Nghêu (hay
Ngao) gieo quẻ chỉ hướng vào ăn trộm nhà Trùm Sò. Ốc
đem của trộm được bán cho Thị Hến, một gái góa trẻ đẹp.
Lý trưởng và Trùm Sò đến lục soát bắt được tang vật, liền
giải Thị Hến lên trình quan huyện. Khi đến công đường,
Thị Hến đã làm cho quan huyện và thầy đề mê mệt vì
nhan sắc của mình. Kết quả là Trùm Sò mất tiền, thầy Lý
bị đòn, Thị Hến được tha bổng. Kết thúc vở là cảnh cả
quan huyện, thầy đề, thầy Lý vì mê mẩn Thị Hến chạm
mặt nhau và bị các bà vợ đánh ghen tại nhà Thị Hến.
Mang tính châm biếm, đả kích quan lại địa phương.
3. Bố cục
Tri huyện xưng danh – Lời giới thiệu của tri huyện
(từ “Quyền trọng” đến “chuyên cần”).
Thủ đoạn của quan huyện và đề lại
(tiếp đó đến “Lệ đâu?”).
Lính lệ bắt đầu thực thi kế hoạch của “quan”
(đoạn còn lại).
4. Tóm tắt các sự kiện chính
Tri huyện
bước ra ,tự
xưng tên
tuổi, chức
vụ
Đề lại thưa
với tri
huyện về
vụ án của
Thị Hến
Tri huyện
và đề lại
đưa ra
phương án
xử lý
Lính lệ ra
gọi cả bên
vào hầu
II
Đọc hiểu
văn bản
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
“Lấy của cậy ngọn roi
Làm quan nhờ lỗ khẩu
Sự lí thường phân ẩu
Được thua tự đồng tiền
Dân xã nếu không kiêng
Bỏ xuống lao giam kĩ”.
“Quan chức nghĩ nên thú vị
Vào ra cũng phải chuyên cần”.
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
+ của, lỗ khẩu, đồng tiền Liên tục nhắc đến đồng tiền
+ động từ: Lấy của, cậy ngọn roi, phân ẩu, được thua, bỏ
xuống lao giam kĩ”.
Là một kẻ thuộc loại “ăn trên ngồi trốc”, hưởng đủ mùi
phú quý và quen sống phóng đãng “Đỉnh chung đà đủ
miếng/ Hoa nguyệt cũng quen mùi”.
+ Hai từ “thú vị” và “chuyên cần” cho thấy tri huyện đã hài lòng
biết bao với cuộc sống của mình. Ông ta càng “chuyên cần” thì
dân đen càng khốn đốn.
Thực hiện chức phận một cách tồi tệ, cây quyền cậy thế để tự
tung tự tác, bất chấp công lí, đạo lí, miễn sao vơ vét được nhiều.
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
Nhận xét:
- Lời giới thiệu đã vạch trần bộ mặt xấu xa của quan
huyện
- Hình ảnh quan huyện hiện lên qua giọng điều đầy châm
biếm, sâu cay.
- Theo cách nhìn của tác giả dân gian, trong xã hội xưa,
đây là đặc điểm chung của tầng lớp thống trị chứ không
phải đặc điểm của một nhân vật cá biệt nào.
Thảo luận
Lời tự giới thiệu của tri huyện có gì khác
so với lời giới thiệu thông thường?
Theo em, vì sao có sự khác biệt ấy?
1. Lời giới thiệu của tri
huyện
Liên hệ:
- Thông thường, trong đời sống, khi tự giới thiệu, không ai muốn
nói ra những cái xấu của bản thân.
- Tuy nhiên, nhân vật tri huyện đã làm điều ấy.
Lời thoại không phải là ngôn ngữ tự nhiên của nhân vật mà ngôn
ngữ của nghệ thuật, đảm nhiệm các chức năng vừa thể hiện hành
động theo tích trò đã xác định, vừa định hướng suy nghĩ, cảm nhận
của khán giả, độc giả về chính sự việc đang diễn ra.
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
- Lời thoại tri huyện
+ “Sự lí thường phân ẩu/ Được thua tự đồng tiền”;
+“Tôi thì tôi nghĩ cứ để đu đưa như vậy đã. Thằng Sò này giàu lắm,
chúng mình có thể “ấy” được”;
+ “Phải, nắm đứa có tóc ai nắm kẻ trọc đầu”;
+ “...lưỡi không xương nhiều đường lắt léo, nói thế nào lại chả
được”.
Tính toán, nham hiểm, không hề quan tâm công lý mà
chỉ nhăm nhăm tìm cách chuộc lợi
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
- Lời thoại của đề lại:
+ “Vâng, ta cứ bảo là để tra cứu đã. Thưa còn thằng Ốc, thằng
Nghêu, lí trưởng, Thị Hến thì liệu xử cho xong, bọn này toàn đầu
trọc cả”;
“Bẩm quan xử thật sâu sắc”;
“Vâng
xửxun
hayxoe,
lắm”.
ạ
Đ,ồquan
ng loã,
nịnh bợ
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
- Lời thoại của lính lệ:
+“Nhắc lại ông Trùm, anh xã và chị Hến biết rằng hôm nay quan
bận lắm, tôi bẩm mãi quan mới chịu xử vụ này đấy”.
Mọi mối bận tâm của tri huyện, đề lại và lính lệ đều chỉ xoay
quanh một chữ “tiền”
Tác giả dân gian đã xây dựng được hệ thống lời thoại hết sức tinh
tế, hàm súc. Trong mỗi lời nhân vật thốt ra dường như có sẵn một
mũi dao chĩa ngược về chính người nói.
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
- Sự hô ứng nhịp nhàng trong lời thoại giữa hai nhân v ật tri
huyện và đề lại
+ Khi tri huyện nói muốn để trường hợp của Sò lại vì nó rất giàu,
đề lại đã đưa ra phương án để nói với mọi người là “ta cứ bảo là
để tra cứu đã”
+ Đề lại nói muốn xử cho xong những bọn trọc đầu, tri huyện lập
tức hưởng ứng “phải, nắm đứa có tóc ai nắm kẻ trọc đầu”
+ Đề lại khen ngợi, tâng bốc, nịnh nọt với cách xử kiện của tri
huyện “bẩm quan xử thật sâu sắc”, “vâng ạ, quan xử hay lắm”
2. Thủ đoạn của quan huyện và đề
lại
Nhận xét:
+ Hành vi xấu xa này đã xảy ra thường xuyên, nhiều lần nên
được phối hợp và diễn ra rất trơn tru.
+ Hai nhân vật này có sự tương đồng về bản chất tham lam,
xấu xa sách nhiểu, cấu kết với nhau lâu dài trong việc tróc nã,
chiếm đoạt tiền bạc từ người thưa kiện.
3. Thái độ của nhân dân
- Mỉa mai, khinh bỉ, đả kích chốn công quyền hoặc chốn “cửa
quan”: người dân xưa thấy “cửa quan” là chốn ô trọc, lúc nhúc
nhưng kẻ đục khoét đầy mưu mô, luôn tìm cơ hội vơ vét “cho đ ầy
túi tham” và làm hại những người “thấp cổ bé họng”, kể cả thành
phần bất hảo nhưng ở thế yếu hơn (như lí trưởng, Trùm Sò).
- Phơi bày hiện thực xã hội thiếu công bằng và tình người.
- Nhận xét: Đây là một cách nhìn nhận có tính lịch sử mà việc khắc
phục nó phải gắn liền với những đổi thay cơ bản của thể chế, xã
hội. Hiện nay, định kiến dai dẳng này đã dần được xoá bỏ khi xã
hội đã phát triển theo chiều hướng văn minh, tiến bộ
III
Tổng kết
1. Nội dung
Thể hiện cái nhìn châm biếm của tác giả
về thói tham nhũng, xử kiện dựa trên
đồng tiền của một bộ phận quan lại thối
nát vô lương tâm trong xã hội cũ
2. Nghệ thuật
Tiếng cười
sâu cay
Xây dựng
nhân vật đặc
sắc
Biện pháp
Đối lập, tăng tiến …
Luyện tập: đóng vai diễn xuất vở
tuồng trên
Lưu ý về diễn xuất
- Hành động, cử chỉ, bước đi, động tác nên mạnh mẽ, rõ ràng, dứt khoát
- Động tác và lời nói, sác thái biểu cảm phải hài hòa với các yếu tố khác
như tiếng trống, kèn, nhạc
- Đối với vai tri huyện, những đoạn cười nên diễn một cách tự nhiên,
khoái trá, bộc lộ được bản chất tham nhũng của nhân vật
- Vai đề lại, lính lệ nên nói năng nhỏ nhẹ, ánh mắt láo liên, cười gian
xảo
 







Các ý kiến mới nhất