Tuần 21. Khái quát lịch sử Tiếng Việt

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mai Nguyen Trong Nhan
Ngày gửi: 12h:02' 18-02-2010
Dung lượng: 346.5 KB
Số lượt tải: 71
Nguồn:
Người gửi: Mai Nguyen Trong Nhan
Ngày gửi: 12h:02' 18-02-2010
Dung lượng: 346.5 KB
Số lượt tải: 71
Số lượt thích:
0 người
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TIẾNG VIỆT
Nội dung trình bày của nhóm em gồm:
Lịch sử phát triển của tiếng Việt
Chữ viết của tiếng Việt
I/Lịch sử phát triển của tiếng Việt
1/ Tiếng Việt trong thời kì dựng nước:
Tiếng Việt có lịch sử phát triển rất lâu đời. Hiện nay, giới nghiên cứu chưa tìm ra những chứng tích rõ ràng nên dịên mạo tiếng Việt chỉ có thể tìm hiểu một cách khái quát( nguồn gốc, quan hệ họ hàng…)
a) Nguồn gốc chữ Việt
Tiếng Việt là tiếng có nguồn gốc bản địa, tiếng Việt gắn bó mật thiết với nguồn gốc, tiến trình phát triển dân tộc Việt. Tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ Nam Á
b) Quan hệ họ hàng của tiếng Việt
Môn - Khmer là một họ ngôn ngữ ở vùng cao nguyên Nam Đông Dương và một vài nơi khác. Từ dòng Môn-Khmer đã tách ra thành tiếng Việt và tiếng Mường, ta có thể tìm thấy một số điểm tương ứng về ngữ âm, ngữ nghĩa của một số từ ở hai ngôn ngữ này như:
Việt Mường
Khi trước Khây khước
Sông Ksông
Mới nên Mê dênh
Chết Chết
Vợ Bợ
Nó Nã
Một Mống
Vật Pât
Gà Kà
Ăn Ăn
2/ Tiếng Việt trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc:
Do hoàn cảnh lịch sử, sự tiếp xúc giữa chữ Việt và tiếng Hán diển ra dài nhất và sâu rộng nhất. Tiếng Việt đã vay mượn rất nhiều từ Hán nhưng với hứơng Việt hóa, qua nhiều thế kỉ, người Việt đã xác lập được cách đọc chữ Hán riêng biệt
Vd: y sĩ, sống động, thể công, công an, tàu thuỷ, tàu hoả, cướp đoạt...
3) Tiếng Việt dưới thời độc lập tự chủ:
Đầu TK 11, Nho học được đề cao giữ vị trí độc tôn. Một nền văn học chữ Hán mang sắc thái Việt Nam ra đời. Ngoài ra, việc sáng tạo ra chữ Nôm đã khẳng định ưu thế của Việt Nam trong sáng tác văn chương. Điển hình là tác phẩm” Truyện Kiều” của Nguyễn Du và nhà thơ Hồ Xuân Hương nổi tiếng.
Nguyễn Du và tác phẩm truyện Kiều
Nhà thơ Hồ Xuân Hương( bà chúa thơ Nôm)
5)Tiếng Việt từ thời kì Pháp thuộc đến nay:
Dưới thời Pháp, tiếng Việt vẫn bị đàn chèn ép. Ngôn ngữ hành chính, ngoại giao, giáo dục…. lúc này là tiếng Pháp.
Alexandre de Rhodes (1951-1660) là người có công rất lớn trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ.
Alexandre de Rhodes (1951-1660)
Nhiều thể loại mới ra đời như văn xuôi nghị luận chính trị xã hội, tiểu thuyết…
Lúc bấy giờ, nước ta vẫn chủ yếu dùng từ Hán Việt và một số từ gốc Pháp
VD: axit, săm, lốp, sơ mi, moay ơ…
5) Tiếng Việt sau Cách mạng tháng Tám đến nay:
Sau cách Cách mạng tháng Tám việc chuẩn hóa tiếng Việt diễn ra một cách mạnh mẽ như phiên âm, vay mượn thuật ngữ khoa học, đặt thuật ngữ Việt,
phù hợp với tập quán sử dụng ngôn ngữ của người dân Việt Nam.
VD: acide axit
cafe cà phê
creme kem
không phận vùng trời
II/CHỮ VIẾT CỦA TIẾNG VIỆT:
Từ thời xa xưa người Việt cổ đã có chữ viết riêng, trông giống như “đàn nòng nọc đang bơi”( theo sử sáchTQ)
Ban đầu, dưới sự cai trị của chính quyền phương Bắc ta chủ yếu sử dụng tiến Hán
Vào khoảng thế kỉ thứ 10, chữ Nôm ra đời, là một thành quả lớn của dân tộc
Thế kỉ thứ 17, chữ Quốc ngữ ra đời. Ở thời kì đầu, khi ghi âm tiếng Việt còn chịu ảnh hưởng của tiếng nước ngoài
VD: sách sayc
blái núi trái núi
mlời lời
Đầu TK 20, chữ Nôm và chữ Hán bị gạt bỏ, việc sử dụng chữ quốc ngữ được đẩy mạnh.Từ đấy, chữ Quốc ngữ trở thành chử viết chính thức của dân tộc Việt Nam.
CÁM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ CHÚ Ý LẮN NGHE
Thành viên nhóm 2 :
Mai Nguyễn Trọng Nhân
Nguyễn Minh Trí
Đỗ Trọng Tường Du
Nguyễn Thị Thảo Nhi
Đặng Nguyễn Quân
Ngô Tiểu Khanh
Vũ Nhật Tài
Hoàng Thị Kim Như
Nguyễn Đông Cao Tùng
Nội dung trình bày của nhóm em gồm:
Lịch sử phát triển của tiếng Việt
Chữ viết của tiếng Việt
I/Lịch sử phát triển của tiếng Việt
1/ Tiếng Việt trong thời kì dựng nước:
Tiếng Việt có lịch sử phát triển rất lâu đời. Hiện nay, giới nghiên cứu chưa tìm ra những chứng tích rõ ràng nên dịên mạo tiếng Việt chỉ có thể tìm hiểu một cách khái quát( nguồn gốc, quan hệ họ hàng…)
a) Nguồn gốc chữ Việt
Tiếng Việt là tiếng có nguồn gốc bản địa, tiếng Việt gắn bó mật thiết với nguồn gốc, tiến trình phát triển dân tộc Việt. Tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ Nam Á
b) Quan hệ họ hàng của tiếng Việt
Môn - Khmer là một họ ngôn ngữ ở vùng cao nguyên Nam Đông Dương và một vài nơi khác. Từ dòng Môn-Khmer đã tách ra thành tiếng Việt và tiếng Mường, ta có thể tìm thấy một số điểm tương ứng về ngữ âm, ngữ nghĩa của một số từ ở hai ngôn ngữ này như:
Việt Mường
Khi trước Khây khước
Sông Ksông
Mới nên Mê dênh
Chết Chết
Vợ Bợ
Nó Nã
Một Mống
Vật Pât
Gà Kà
Ăn Ăn
2/ Tiếng Việt trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc:
Do hoàn cảnh lịch sử, sự tiếp xúc giữa chữ Việt và tiếng Hán diển ra dài nhất và sâu rộng nhất. Tiếng Việt đã vay mượn rất nhiều từ Hán nhưng với hứơng Việt hóa, qua nhiều thế kỉ, người Việt đã xác lập được cách đọc chữ Hán riêng biệt
Vd: y sĩ, sống động, thể công, công an, tàu thuỷ, tàu hoả, cướp đoạt...
3) Tiếng Việt dưới thời độc lập tự chủ:
Đầu TK 11, Nho học được đề cao giữ vị trí độc tôn. Một nền văn học chữ Hán mang sắc thái Việt Nam ra đời. Ngoài ra, việc sáng tạo ra chữ Nôm đã khẳng định ưu thế của Việt Nam trong sáng tác văn chương. Điển hình là tác phẩm” Truyện Kiều” của Nguyễn Du và nhà thơ Hồ Xuân Hương nổi tiếng.
Nguyễn Du và tác phẩm truyện Kiều
Nhà thơ Hồ Xuân Hương( bà chúa thơ Nôm)
5)Tiếng Việt từ thời kì Pháp thuộc đến nay:
Dưới thời Pháp, tiếng Việt vẫn bị đàn chèn ép. Ngôn ngữ hành chính, ngoại giao, giáo dục…. lúc này là tiếng Pháp.
Alexandre de Rhodes (1951-1660) là người có công rất lớn trong việc sáng tạo ra chữ Quốc ngữ.
Alexandre de Rhodes (1951-1660)
Nhiều thể loại mới ra đời như văn xuôi nghị luận chính trị xã hội, tiểu thuyết…
Lúc bấy giờ, nước ta vẫn chủ yếu dùng từ Hán Việt và một số từ gốc Pháp
VD: axit, săm, lốp, sơ mi, moay ơ…
5) Tiếng Việt sau Cách mạng tháng Tám đến nay:
Sau cách Cách mạng tháng Tám việc chuẩn hóa tiếng Việt diễn ra một cách mạnh mẽ như phiên âm, vay mượn thuật ngữ khoa học, đặt thuật ngữ Việt,
phù hợp với tập quán sử dụng ngôn ngữ của người dân Việt Nam.
VD: acide axit
cafe cà phê
creme kem
không phận vùng trời
II/CHỮ VIẾT CỦA TIẾNG VIỆT:
Từ thời xa xưa người Việt cổ đã có chữ viết riêng, trông giống như “đàn nòng nọc đang bơi”( theo sử sáchTQ)
Ban đầu, dưới sự cai trị của chính quyền phương Bắc ta chủ yếu sử dụng tiến Hán
Vào khoảng thế kỉ thứ 10, chữ Nôm ra đời, là một thành quả lớn của dân tộc
Thế kỉ thứ 17, chữ Quốc ngữ ra đời. Ở thời kì đầu, khi ghi âm tiếng Việt còn chịu ảnh hưởng của tiếng nước ngoài
VD: sách sayc
blái núi trái núi
mlời lời
Đầu TK 20, chữ Nôm và chữ Hán bị gạt bỏ, việc sử dụng chữ quốc ngữ được đẩy mạnh.Từ đấy, chữ Quốc ngữ trở thành chử viết chính thức của dân tộc Việt Nam.
CÁM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ CHÚ Ý LẮN NGHE
Thành viên nhóm 2 :
Mai Nguyễn Trọng Nhân
Nguyễn Minh Trí
Đỗ Trọng Tường Du
Nguyễn Thị Thảo Nhi
Đặng Nguyễn Quân
Ngô Tiểu Khanh
Vũ Nhật Tài
Hoàng Thị Kim Như
Nguyễn Đông Cao Tùng
 







Các ý kiến mới nhất