Tìm kiếm Bài giảng
Tuần 2. Khái quát văn học dân gian Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Anh
Ngày gửi: 16h:22' 11-05-2022
Dung lượng: 20.2 MB
Số lượt tải: 112
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Anh
Ngày gửi: 16h:22' 11-05-2022
Dung lượng: 20.2 MB
Số lượt tải: 112
Số lượt thích:
0 người
KHÁI QUÁT VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
VĂN HỌC DÂN GIAN
Giúp học sinh
Văn học dân gian là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng
Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể
Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc.
Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người.
Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc.
Tranh Đông Hồ
Điêu khắc
dân gian
Điêu khắc
dân gian
Bức phù điêu
Truyện
Tấm Cám
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Truyền miệng là kiểu ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng lời nói và bằng cách trình diễn cho người nghe, người xem
“Trăm năm bia đá cũng mòn
Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”
Theo thời gian
Theo không gian
Kể
Nói
Hát
Diễn
Hình
thức
Truyền
miệng
Tục
ngữ
Ca
dao
Nói
Kể
Thần
thoại
Truyền
thuyết
Sử thi
Truyện
cổ tích
Truyện
cười
Truyện
ngụ ngôn
Thần trụ trời
Thánh gióng
Đẻ đất đẻ nước
Tấm Cám
Nhưng nó phải
bằng hai mày
Đeo nhạc cho mèo
Hát ru
Hát dân ca
Hát
Diễn
Chèo
Tuồng
Nhạc
Nghệ thuật
múa
Diễn xuất
Lời
Đạo cụ
Trang phục
(Văn học
dân gian)
Kể
Nói
Hát
Diễn
Diễn xướng dân gian
Hình
thức
Truyền
miệng
Lao động
Gia đình
Lễ hội
Vui chơi
Tính tập thể
Tính dị bản
+
Tính truyền miệng
Ví dụ 1:
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon
Thóc bồ thương kẻ ăn đong
Có chồng thương kẻ nằm không một mình
Dốc bồ thương kẻ ăn đong
Góa chồng thương kẻ nằm không một mình
Râu tôm nấu với ruột bù
Chồng chan vợ húp gật gù khen ngon
Ví dụ 2:
Ví dụ 3: Ba dị bản của một bài ca dao
Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng
Về kinh ăn cá, về đồng ăn cua
(Miền Nam)
Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng
Về bưng ăn ốc, về đồng ăn cua
(MiềnTrung - Nam)
Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua
(Miền Bắc)
Văn học
dân gian
Thần thoại
Sử thi
Truyền thuyết
Truyện cổ tích
Truyện cười
Truyện ngụ ngôn
Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Tục ngữ
Câu đố
Văn học
dân gian
Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Truyện thơ
Vè
Ca dao
Văn học
dân gian
Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Văn học
dân gian
Chèo
Tuồng
Múa rối
Thuở ấy, chưa có muôn vật và loài người. Trời đất chỉ là một vùng hỗn độn, tối tăm. Bỗng xuất hiện một vị thần khổng lồ, cao lớn vô cùng, chân dài không sao tả xiết. Mỗi bước thần đi là băng từ vùng này qua vùng khác, vượt từ núi nọ sang núi kia.
Một hôm, thần vươn vai đứng dậy, ngẩng đầu đội trời lên. Thần đào đất, khuân đá, đắp thành một cái cột vừa to, vừa cao để chống trời. Cột đắp lên cao chừng nào thì trời như tấm màn mênh mông được nâng dần lên chừng ấy. Thần một mình hì hục đào, đắp, cột đá cứ cao dần, cao dần và đẩy vòm trời lên tận mây xanh. Từ đó, trời đất mới phân đôi. Đất bằng như cái mâm vuông, trời tròn như cái bát úp, chỗ trời đất giáp nhau ấy là chân trời.
Khi trời đã cao và khô cứng, thần liền phá tan cột đi, lấy đất đá ném tung ra khắp nơi. Mỗi hòn đá văng đi biến thành một hòn núi hay một hòn đảo, đất tung tóe ra mọi nơi thành gò, đống, thành những dải đồi cao. Vì thế, mặt đất ngày nay không còn bằng phẳng mà có chỗ lõm, chỗ lồi. Chỗ thần đào sâu để lấy đất đá đắp cột, ngày nay là biển cả mênh mông.
Cột trụ trời bây giờ không còn nữa. Người ta kể rằng vết tích cột đó ở núi Thạch Môn, vùng Hải Dương. Núi ấy còn gọi là Kình Thiên Trụ tức Cột chống Trời.
Vua phán:
“Ai làm
vừa ý Ta,
Ta sẽ
truyền
ngôi cho”
Lang Liêu chọn thứ gạo nếp thơm làm bánh lễ Tiên Vương
Bánh hình tròn tượng trưng cho trời, ta đặt tên là bánh giầy.
Bánh hình vuông tượng trưng cho đất, ta đặt tên là bánh chưng.
Anh có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?
Từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này thì không thấy con lợn nào chạy qua đây cả?
Thấy các con không thương yêu nhau, người cha rất buồn phiền
Một hôm,ông gọi các con lại và bảo:
“Ai bẻ gãy được bó đũa này thì cha sẽ thưởng cho
túi tiền”
Bốn người con lần lượt bẻ bó đũa.
Ai cũng cố hết sức, nhưng không sao bẻ gãy được
Người cha bèn cởi bó đũa ra, rồi thong thả bẻ gãy từng chiếc một cách dễ dàng
Sau đó, người cha bảo:
Các con thấy rằng chia lẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh. Vậy các con phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Có đoàn kết thì mới có sức mạnh.
1. Văn học dân gian là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng
ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
2. Văn học dân gian là sản phẩm của quá trính sáng tác tập thể
1. Thần thoại
II. HỆ THỐNG THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
2. Sử thi
3. Truyện cổ tích
5. Truyện cười
II. HỆ THỐNG THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
6. Truyện ngụ ngôn
VĂN HỌC DÂN GIAN
Giúp học sinh
Văn học dân gian là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng
Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể
Văn học dân gian là kho tri thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc.
Văn học dân gian có giá trị giáo dục sâu sắc về đạo lí làm người.
Văn học dân gian có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo nên bản sắc riêng cho nền văn học dân tộc.
Tranh Đông Hồ
Điêu khắc
dân gian
Điêu khắc
dân gian
Bức phù điêu
Truyện
Tấm Cám
Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Truyền miệng là kiểu ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng lời nói và bằng cách trình diễn cho người nghe, người xem
“Trăm năm bia đá cũng mòn
Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ”
Theo thời gian
Theo không gian
Kể
Nói
Hát
Diễn
Hình
thức
Truyền
miệng
Tục
ngữ
Ca
dao
Nói
Kể
Thần
thoại
Truyền
thuyết
Sử thi
Truyện
cổ tích
Truyện
cười
Truyện
ngụ ngôn
Thần trụ trời
Thánh gióng
Đẻ đất đẻ nước
Tấm Cám
Nhưng nó phải
bằng hai mày
Đeo nhạc cho mèo
Hát ru
Hát dân ca
Hát
Diễn
Chèo
Tuồng
Nhạc
Nghệ thuật
múa
Diễn xuất
Lời
Đạo cụ
Trang phục
(Văn học
dân gian)
Kể
Nói
Hát
Diễn
Diễn xướng dân gian
Hình
thức
Truyền
miệng
Lao động
Gia đình
Lễ hội
Vui chơi
Tính tập thể
Tính dị bản
+
Tính truyền miệng
Ví dụ 1:
Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon
Thóc bồ thương kẻ ăn đong
Có chồng thương kẻ nằm không một mình
Dốc bồ thương kẻ ăn đong
Góa chồng thương kẻ nằm không một mình
Râu tôm nấu với ruột bù
Chồng chan vợ húp gật gù khen ngon
Ví dụ 2:
Ví dụ 3: Ba dị bản của một bài ca dao
Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng
Về kinh ăn cá, về đồng ăn cua
(Miền Nam)
Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng
Về bưng ăn ốc, về đồng ăn cua
(MiềnTrung - Nam)
Gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua
(Miền Bắc)
Văn học
dân gian
Thần thoại
Sử thi
Truyền thuyết
Truyện cổ tích
Truyện cười
Truyện ngụ ngôn
Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Tục ngữ
Câu đố
Văn học
dân gian
Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Truyện thơ
Vè
Ca dao
Văn học
dân gian
Truyện dân gian
Câu nói dân gian
Thơ ca dân gian
Sân khấu dân gian
Văn học
dân gian
Chèo
Tuồng
Múa rối
Thuở ấy, chưa có muôn vật và loài người. Trời đất chỉ là một vùng hỗn độn, tối tăm. Bỗng xuất hiện một vị thần khổng lồ, cao lớn vô cùng, chân dài không sao tả xiết. Mỗi bước thần đi là băng từ vùng này qua vùng khác, vượt từ núi nọ sang núi kia.
Một hôm, thần vươn vai đứng dậy, ngẩng đầu đội trời lên. Thần đào đất, khuân đá, đắp thành một cái cột vừa to, vừa cao để chống trời. Cột đắp lên cao chừng nào thì trời như tấm màn mênh mông được nâng dần lên chừng ấy. Thần một mình hì hục đào, đắp, cột đá cứ cao dần, cao dần và đẩy vòm trời lên tận mây xanh. Từ đó, trời đất mới phân đôi. Đất bằng như cái mâm vuông, trời tròn như cái bát úp, chỗ trời đất giáp nhau ấy là chân trời.
Khi trời đã cao và khô cứng, thần liền phá tan cột đi, lấy đất đá ném tung ra khắp nơi. Mỗi hòn đá văng đi biến thành một hòn núi hay một hòn đảo, đất tung tóe ra mọi nơi thành gò, đống, thành những dải đồi cao. Vì thế, mặt đất ngày nay không còn bằng phẳng mà có chỗ lõm, chỗ lồi. Chỗ thần đào sâu để lấy đất đá đắp cột, ngày nay là biển cả mênh mông.
Cột trụ trời bây giờ không còn nữa. Người ta kể rằng vết tích cột đó ở núi Thạch Môn, vùng Hải Dương. Núi ấy còn gọi là Kình Thiên Trụ tức Cột chống Trời.
Vua phán:
“Ai làm
vừa ý Ta,
Ta sẽ
truyền
ngôi cho”
Lang Liêu chọn thứ gạo nếp thơm làm bánh lễ Tiên Vương
Bánh hình tròn tượng trưng cho trời, ta đặt tên là bánh giầy.
Bánh hình vuông tượng trưng cho đất, ta đặt tên là bánh chưng.
Anh có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây không?
Từ lúc tôi mặc chiếc áo mới này thì không thấy con lợn nào chạy qua đây cả?
Thấy các con không thương yêu nhau, người cha rất buồn phiền
Một hôm,ông gọi các con lại và bảo:
“Ai bẻ gãy được bó đũa này thì cha sẽ thưởng cho
túi tiền”
Bốn người con lần lượt bẻ bó đũa.
Ai cũng cố hết sức, nhưng không sao bẻ gãy được
Người cha bèn cởi bó đũa ra, rồi thong thả bẻ gãy từng chiếc một cách dễ dàng
Sau đó, người cha bảo:
Các con thấy rằng chia lẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh. Vậy các con phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Có đoàn kết thì mới có sức mạnh.
1. Văn học dân gian là tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng
ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
2. Văn học dân gian là sản phẩm của quá trính sáng tác tập thể
1. Thần thoại
II. HỆ THỐNG THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
2. Sử thi
3. Truyện cổ tích
5. Truyện cười
II. HỆ THỐNG THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
6. Truyện ngụ ngôn
 








Các ý kiến mới nhất