Tìm kiếm Bài giảng
Tuần 2. Khái quát văn học dân gian Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: phạm thị thanh huyền
Ngày gửi: 18h:53' 18-03-2021
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 379
Nguồn:
Người gửi: phạm thị thanh huyền
Ngày gửi: 18h:53' 18-03-2021
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 379
Số lượt thích:
0 người
NGỮ VĂN 10
TIẾT 6: KHÁI QUÁT VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM (tiết 1)
I. ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
1.Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng
- Truyền miệng: là sự ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng lời nói hoặc bằng trình diễn cho người khác nghe, xem.
- VHDG tồn tại, lưu truyền và phát triển bằng phương thức truyền miệng, đây là điểm khác biệt với văn học viết.
- Quá trình truyền miệng được thực hiện qua diễn xướng dân gian(trình bày tác phẩm một cách tổng hợp thông qua các hình thức nói, kể, hát, diễn).
CHÈO
LỜI - VHDG
NHẠC
MÚA
DIỄN XUẤT
TRANG PHỤC
ĐẠO CỤ
-Vai trò:
+ Làm cho tác phẩm được lưu truyền rộng rãi, được sáng tạo hoàn chỉnh hơn.
+ Tạo nên những dị bản khác nhau tùy theo mục đích sử dụng.
Ví dụ:
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.
Dị bản:
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở ban sơ mới về.
Tóm lại :Tính truyền miệng là phương thức tồn tại cơ bản của VHDG
- Tập thể: một nhóm người, một cộng đồng người.
- Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể vì:
- Quá trình sáng tác tập thể: một người khởi xướng tác phẩm được hình thành, tiếp nhận những người khác tham gia sửa chữa, sáng tạo lại.
- Tác phẩm VHDG là tài sản chung của tập thể.
- Vai trò: làm tác phẩm được trau chuốt, hoàn thiện hơn.
Tính tập thể và tính truyền miệng là những đặc trưng cơ bản chi phối sự tồn tại và lưu truyền tác phẩm VHDG.
Một số đặc trưng khác: tính dị bản, tính nguyên hợp, tính biểu diễn, tính địa phương.
2.VHDG là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (Tính tập thể)
- Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau của đời sống cộng đồng.
+ Tạo không khí, cổ vũ lao động.
+ Khơi gợi nguồn cảm xúc cho người trong cuộc.
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
......
3. Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp trong sinh hoạt cộng đồng.
II. HỆ THỐNG THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
II. HỆ THỐNG THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
III- LUYỆN TẬP
Câu 1: Nối cột: Chọn lựa tên tác phẩm phù hợp với thể loại:
III- LUYỆN TẬP
Câu 1: Nối cột: Chọn lựa tên tác phẩm phù hợp với thể loại:
Đáp án:
a. Thân em như cá rô thia - Ra sông mắc lưới vào đìa mắc câu.
b. Thân em vừa trắng lại vừa tròn - Bảy nổi ba chìm với nước non.
c. Thân em như trái bần trôi - Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
d. Thân em như tấm lụa đào - Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
câu 2: Trong những văn bản sau, văn bản nào không thuộc tác phẩm văn học dân gian?
Đáp án:
b. Thân em vừa trắng lại vừa tròn - Bảy nổi ba chìm với nước non.
Kính chúc quý thầy, cô giáo sức khoẻ!
Chúc các em học giỏi!
TIẾT 6: KHÁI QUÁT VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM (tiết 1)
I. ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM
1.Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ truyền miệng
- Truyền miệng: là sự ghi nhớ theo kiểu nhập tâm và phổ biến bằng lời nói hoặc bằng trình diễn cho người khác nghe, xem.
- VHDG tồn tại, lưu truyền và phát triển bằng phương thức truyền miệng, đây là điểm khác biệt với văn học viết.
- Quá trình truyền miệng được thực hiện qua diễn xướng dân gian(trình bày tác phẩm một cách tổng hợp thông qua các hình thức nói, kể, hát, diễn).
CHÈO
LỜI - VHDG
NHẠC
MÚA
DIỄN XUẤT
TRANG PHỤC
ĐẠO CỤ
-Vai trò:
+ Làm cho tác phẩm được lưu truyền rộng rãi, được sáng tạo hoàn chỉnh hơn.
+ Tạo nên những dị bản khác nhau tùy theo mục đích sử dụng.
Ví dụ:
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.
Dị bản:
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ từ thuở ban sơ mới về.
Tóm lại :Tính truyền miệng là phương thức tồn tại cơ bản của VHDG
- Tập thể: một nhóm người, một cộng đồng người.
- Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể vì:
- Quá trình sáng tác tập thể: một người khởi xướng tác phẩm được hình thành, tiếp nhận những người khác tham gia sửa chữa, sáng tạo lại.
- Tác phẩm VHDG là tài sản chung của tập thể.
- Vai trò: làm tác phẩm được trau chuốt, hoàn thiện hơn.
Tính tập thể và tính truyền miệng là những đặc trưng cơ bản chi phối sự tồn tại và lưu truyền tác phẩm VHDG.
Một số đặc trưng khác: tính dị bản, tính nguyên hợp, tính biểu diễn, tính địa phương.
2.VHDG là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (Tính tập thể)
- Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp cho các sinh hoạt khác nhau của đời sống cộng đồng.
+ Tạo không khí, cổ vũ lao động.
+ Khơi gợi nguồn cảm xúc cho người trong cuộc.
Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng bay vừa thì râm.
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
......
3. Văn học dân gian gắn bó và phục vụ trực tiếp trong sinh hoạt cộng đồng.
II. HỆ THỐNG THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
II. HỆ THỐNG THỂ LOẠI CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN
III- LUYỆN TẬP
Câu 1: Nối cột: Chọn lựa tên tác phẩm phù hợp với thể loại:
III- LUYỆN TẬP
Câu 1: Nối cột: Chọn lựa tên tác phẩm phù hợp với thể loại:
Đáp án:
a. Thân em như cá rô thia - Ra sông mắc lưới vào đìa mắc câu.
b. Thân em vừa trắng lại vừa tròn - Bảy nổi ba chìm với nước non.
c. Thân em như trái bần trôi - Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.
d. Thân em như tấm lụa đào - Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
câu 2: Trong những văn bản sau, văn bản nào không thuộc tác phẩm văn học dân gian?
Đáp án:
b. Thân em vừa trắng lại vừa tròn - Bảy nổi ba chìm với nước non.
Kính chúc quý thầy, cô giáo sức khoẻ!
Chúc các em học giỏi!
 








Các ý kiến mới nhất