Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Kinh thi

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thu Thúy
Ngày gửi: 10h:11' 20-03-2018
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 92
Số lượt thích: 0 người
Chương 2: Văn học Trung Quốc
2.2. Kinh Thi
I. Giới thiệu chung
Do Khổng Tử sưu tập, biên tập làm môn học văn chương duy nhất trong bộ Ngũ kinh
Kinh Thi gồm có 311 thiên. Trong số đó, chỉ có 305 thiên là đầy đủ, còn 6 thiên kia chỉ có đề mục nhưng không có lời.
- Chia làm ba bộ phận: + Phong
+ Nhã
+ Tụng
Nguồn gốc: Phức tạp gồm cả ca dao,dân ca và nhạc triều đình với các tác giả thuộc mọi tầng lớp
Thời chiến quốc, Kinh thi được coi là sách giáo khoa của toàn xã hội. Nhưng bị mất mát nhiều trong sự kiện “đốt sách trôn nho” của nhà Tần
Thời nhà Hán, Kinh thi là một trong “ngũ kinh” của nho gia
Đời Tống : Chu Hy chú giải lại toàn bộ kinh thi nhằm phù hợp với yêu cầu của giáo huấn
Đời Thanh: Thi kinh tập truyện của Chu Hy bị phản đối mạnh mẽ



Kinh thi được ví như một bức tranh toàn cảnh của xã hội đương thời.
Được coi là nền tảng cho khuynh hướng hiện thực văn hóa Trung Quốc
Kinh Thi là một kiệt tác văn học giàu tính sáng tạo

Ba thể phú, tỷ và hứng nói về kỹ thuật làm thơ:
Phú là phô bày, nói thẳng ra, bày tỏ thẳng thắn
Tỷ: so sánh, ví von, mượn sự việc khác để nói
Hứng: nhân một sự việc để nói đến tình cảm của mình, trước là để miêu tả sự việc đó, sau là thể hiện lòng người
Sự bất đồng giữa tỷ và hứng do ở điểm này: thể tỷ chỉ lấy vật làm tỷ dụ chứ không nói rõ ý chính, thể hứng thì trước hết dùng phép tỷ dụ rồi nói rõ ý chính ra.


Khuynh hướng tư tưởng và phong cách nghệ thuật đều ảnh hưởng đến đời sống
- Là tài liệu giáo dục quan trọng của nho sĩ Trung Quốc
- Có vai trò ảnh hưởng to lớn ,được truyền bá nhiều nơi trên thế giới
Tên gọi:
Thi tam bách
Thi bách
Mao thi
II. Quá trình biên soạn và chỉnh lý Kinh Thi
2.1.Chế độ Thái thi
- Thu thập thơ ca trong dân chúng gọi là thái thi (hái thơ) được nhà Chu thực hiện một cách nghiêm túc có quan đãi trách theo quy chế nhà nước.
Hầu hết các bài thơ sưu tầm được đều ra đời trong thực tiễn lao động của dân chúng hoặc có liên quan đến các hoạt động chính trị, quân sự, tôn giáo.
Không gian sưu tầm thi ca trong Thập ngũ quốc phong các địa phương thu thập được kinh thi ngày nay đại để tương ứng các tỉnh : Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, Hồ Bắc tổng diện tích khoảng trên 1.020.000km2.
2.2. Khổng Tử san định
- Thiên Khổng Tử thế gia trong Sử ký của Tư Mã Thiên chép rằng: “Ngày xưa Kinh Thi có tất cả hơn ba nghìn thiên. Đến thời Khổng Tử, Khổng Tử bỏ bớt những thiên trùng điệp, chỉ lấy 305 thiên có thể có ích cho lễ nghĩa, đều phổ nhạc, cố tìm âm nhạc hợp với nhạc Thiều, Vũ, Nhã, Tụng”.
- Thiên Tử Hãn trong sách Luận Ngữ cũng ghi rằng “Khổng Tử nói: Ta từ nước Vệ trở về Lỗ, sau đó chỉnh đốn âm nhạc, rồi nhã tụng đâu ra đấy”
- Lục Đức Minh trong Kinh điển thích văn cũng viết “Khổng Tử san lục kinh thi, trước hết chọn lấy những bài về đời Chu, lại lấy cả những bài Thương tụng, phàm ba trăm mười một thiên”.
→ Người ta thường dựa vào các thuyết trên để cho rằng Khổng Tử có chọn lọc, san định để tạo nên bộ Kinh Thi 305 bài ngày nay.
1. Nói Khổng Tử là người sáng tác ra Kinh thi, đúng hay sai?
Sai.

Kinh thi là bộ tổng tập thơ ca vô danh, sáng tác trong khoảng thời gian 500 năm, từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu, gồm hàng ngàn bài thơ. 

Nguồn gốc các bài thơ trong Kinh thi khá phức tạp, gồm cả ca dao, dân ca và nhã nhạc triều đình, với các tác giả thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đương thời.

Khổng Tử san định (sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn) Kinh thi thành tập, sau đó Kinh thi trở thành 1 trong Ngũ kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu).
Thi
là thơ ca dân gian
3000 bài
Khổng Tử san định

Đào yêu
Quan thư
Thạc thử
Phạt đàn
Thương Trọng Tử
Đông phương chi nhật
Hữu nữ đồng xa
Đông sơn
Trắc hộ

Đào yêu
Quan thư
Thạc thử
Phạt đàn
Thương Trọng Tử
Đông phương chi nhật
Hữu nữ đồng xa
Đông sơn
Trắc hộ
Kinh thi
là 1 trong Ngũ kinh
305 bài
TK VI trước CN
Phong
Nhã
Tụng
2.3: Quá trình sưu tầm, biên soạn và chỉnh lí Kinh Thi
Tần Thủy Hoàng
Nhà HÁN
Thân Bồi
( nước Lỗ )
Viên Cố Sinh
( nước Tề )
Hàn Anh
( nước Yên )
Thầy trò Mao Hanh và
Mao Trường
( nước Triệu )
Mao thi
( Cổ văn )
Nhà Tống
Chu Hy
III. Bố cục Kinh Thi hiện hành
Bản Kinh Thi hiện hành gồm có 311 bài ( xưa gọi là thiên hay thập ). Một số tên tác giả vẫn có thể khảo chứng được, chẳng hạn bài :
+ Tiệt Nam Sơn trong Tiểu Nhã nói rõ “ Gia Phủ làm thơ này”
+ Hạng Bá trong Tiểu Nhã ghi “ Hoạn Quan tên là Mạnh Tử làm ra bài thơ này”.....
+ Nhìn chung phần lớn họ tên tác giả các bài thơ trong Kinh Thi đều đã bi rơi rụng trong quá trình lưu truyền tập hợp .....
Trong số 311 bài có 6 bài chỉ có đề mục chứ không có lời gọi là “dật thi”
+ 6 bài đó là : Nam Cai ; Bạch Hoa ; Hoa Thử ; Do Canh ; Sùng Khâu ; Do Nghi .
+ 6 bài này là nhạc ca, tên bài thì còn nhưng điệu nhạc đã mất, vì vậy không chép vào Kinh Thi được
Với 305 bài thơ còn lại , trong lịch sử học thuật Trung Hoa đã từng có ba cách phân loại chủ yếu :
+ Thứ nhất chia ba phần “Phong, Nhã,Tụng “
+ Thứ hai là bốn phần “ Nam, Phong, Nhã,Tụng “
+ Thứ ba chia sáu phần “ Phong, Phú,Tỷ, Hứng, Nhã,Tụng”
Trong ba cách đó cách thứ nhất có lịch sử lâu đời nhất và ảnh hưởng rộng nhất
1. Phong
Quốc phong là những bài ca dao của dân tộc các nước chư hầu, đuợc nhạc quan sưu tập
Phong là nhạc điệu, các bài quốc phong là thơ ca dân gian, phần nhạc kèm theo có sắc thái âm nhạc dân gian địa phương gọi là thổ nhạc
Quốc phong có 160 thiên, chia làm 15 quyển, mỗi quyển một nước, gồm có:
1. Chính phong: Chu nam (nhà Chu) và Thiệu Nam (Chính phong: ca dao chính thức)
2. Biến phong: Bội phong, Dung phong, Vệ phong, Vương phong, Trịnh phong, Tề phong, Ngụy phong, Đường phong, Tần phong, Cối phong, Tào phong, Mân phong (hoặc Bân phong).
2. Nhã
Nhã nghĩa là chính đính, gồm những bài hát nơi triều đình. Nhã chia ra làm 2 phần:
1. Tiểu nhã: những bài dùng trong trường hợp các buổi yến tiệc quí tộc (74 thiên).
2. Đại nhã: những bài dùng trong trường hợp quan trọng như khi Thiên tử hợp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường (31 thiên).
3. Tụng (văn chương bác học/ văn học viết)
Tụng nghĩa là ngợi khen, gồm những bài ca tụng các vua đời trước và dùng để hát ở chốn miếu đường. Tụng có tất cả 40 thiên, chia làm:
1. Chu tụng: 31 thiên (Ca tụng nhà Chu)
2.Lỗ tụng: 4 thiên
3.Thương tụng: 5 thiên
IV. Nội dung Kinh Thi
4.1. Phản ánh lịch sử nhà Chu
Tổ tiên nhà Chu khởi nghiệp từ đất Thai trong lưu vực sông vị, tương truyền có tên là Hậu Tắc hay còn gọi là Khí
Sau Hậu Tắc ba đời thì đến ông Công Lưu. Công Lưu dẫn bộ tộc Chu từ đát Thai dời đến đất Mân, khai đất hoang ,làm nhà và dịnh cư ở đấy
4.2. Nội dung tình yêu đôi lứa trong Kinh thi
Chiếm một tỉ trọng rất lớn trong thơ Phong, là một nội dung quan trọng của Kinh Thi.
Lời lẽ hồn nhiên, thẳng thắn, chất phác, mạnh dạn, tình cảm chân thành, đủ mọi cung bậc, nam nữ bình đẳng trong tình yêu
Lên tiếng oán trách, phản đối luân lý, lễ giáo, luật lệ khắc nghiệt thời cổ đại.
Bị Khổng Tử và giới Nho học cắt xén, phê phán như những tác phẩm dâm bôn, tiêu cực.
Mở đầu Kinh Thi ta gặp bài “Quan thư”(Chu Nam) nổi tiếng – mở đầu cho Quốc phong và cũng là bài mở đầu cho cả bộ Kinh Thi.
Ngự bút bài thơ “Quan thư ” ( Chu Nam ) của vua Càn Long và bức tranh minh họa
Nguyên tác:          * Dịch âm
                                       
    關雎                 QUAN THƯ

 關 關 雎 鳩, 在 河 之 洲 Quan quan thư cưu, Tại hà chi châu.
窈 窕  淑 女,君 子  好 逑 Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu

參 差 荇 菜,左 右 流 之 Sâm si hạnh thái, Tả hữu lưu chi
窈 窕 淑 女,寤 寐 求 之 Yểu điệu thục nữ, Ngụ mị cầu chi.

求 之 不 得,寤 寐 思 服 Cầu chi bất đắc, Ngụ mị tư phục
悠 哉 悠 哉,輾 轉 反 側。 Du tai! du tai!, Triển chuyển phản trắc.

參 差 荇 菜,左 右 採 之 Sâm si hạnh thái, Tả hữu thái chi
窈 窕 淑 女,琴 瑟 友 之。 Yểu điệu thục nữ, Cầm sắt hữu chi

參 差 荇 菜,左 右 芼 之 Sâm si hạnh thái, Tả hữu mạo chi
窈 窕 淑 女, 鐘 鼓 樂 之。 Yểu điệu thục nữ, Chung cổ lạc chi
                                         *Khuyết danh
Chim thư kêu
1. Chim Thư cưu cất tiếng kêu quan quan ở trên cồn bãi sông.
Như người con gái hiền thục dịu dàng, sánh đẹp đôi cùng người quân tử.
Rau hạnh mọc so le um tùm, cả bờ trái bờ phải theo dòng nước chảy
Người con gái hiền thục dịu dàng, ta thức ngủ đều mơ tưởng đến nàng
Mơ tưởng đến nàng mà không được gặp, thức ngủ đều mong nhớ
Ôi ! Triền miên! Triền miên!, để ta luôn trằn trọc trăn trở.
 2. Rau hạnh mọc so le um tùm, hái bên trái rồi hái bên phải
Người con gái hiền thục dịu dàng, ta ước mong được cùng nàng kết duyên cầm sắt
Rau hạnh mọc so le um tùm, chọn hái cả bên trái rồi bên phải
Người con gái hiền thục dịu dàng, ta muốn giúp cho nàng vui bằng tiếng chuông trống
* Thơ tình đơn phương còn có những bài thể hiện tình cảm triền miên chan chứa, cảm động :
Yêu ai yêu tận đáy lòng
Vì sao e ngại lại không tỏ bày?
Yêu ai thầm kín thơ hay,
Tấm lòng thương nhớ biết ngày nào nguôi?”
( Thấp tang- Tiểu Nhã)
Nỗi nhớ nhung trong tình cảm lứa đôi được thể hiện:
“ Một ngày không thấy
Như ba năm trọn”
(Thái cát- Vương Phong)
Trong thời đại của Kinh Thi, ở một số đại khu, đối với việc hạn chế tiếp xúc giữa nam và nữ chưa nghiêm khắc như sau này nên chúng ta thấy được sự tự do hẹn hò, gặp gỡ nhau giữa các đôi nam nữ. Nổi tiếng là bài “Tĩnh nữ”:
“Con người vừa nhã vừa xinh,
Hẹn anh ra ở góc thành đợi nhau.
Yêu mình chẳng thấy mình đâu,
Để anh luống những vò đầu bâng khuâng”
“Tĩnh nữ” so với “Quan thư”đã tiến thêm một bước trong cung bậc tình yêu. Ở “Quan thư” là sự nhớ mong một bên; còn ở “Tĩnh nữ” là một đôi tình nhân nhau ở góc thành , nhưng khi chàng trai đến thì cô gái cố tình trốn, khiến chàng trai lúng túng, gãi đầu do dự.
Kinh Thi còn phản ánh nỗi đau khổ khi yêu đương bị ngăn trở
Ngoài ra Kinh Thi còn phản ánh nỗi đau khổ thất tình
Có thể thấy tình yêu và hôn nhân trong Kinh Thi là một chủ đề vô cùng phong phú và đa dạng nói lên những mối tình thật đẹp, mang cảm giác hồn hậu, chất phác bình dị, không khoa trương và đủ mọi cảm xúc.
4.3:Phản ánh đời sống dân chúng
THƠ VỀ LAO ĐỘNG:
- Tả cảnh dân chúng lao động, tập thể đủ cả già trẻ gái trai cùng nhau làm cỏ be bờ ( Tải sam- Chu Tụng)
- Tả cảnh được mùa (Lương trĩ - Chu Tụng)
- Tả niềm vui nhẹ nhàng của các cô gái sau khi hái dâu trở về ( Thập mẫu chi gian – Ngụy Phong)
- Cuộc sống người nông dân trong một năm giống như bài ca về lịch nhà nông ( Thất nguyệt – Mân Phong)
=> Hình tượng lao động đã trở thành đối tượng để khởi hứng làm tỉ dụ cho nhiều bài thơ của Kinh thi.
THƠ OÁN THÁN:
- Nói về bọn tiểu nhân có tiền sống xa hoa còn dân chúng trong cơn tai biến thì lâm vào cảnh ngộ bi thảm (Chính nguyệt – Tiểu Nhã)
- So sánh cuộc sống dư dả nhàn hạ của tầng lớp quý tộc với cuộc sống đầu tắt mặt tối của nhân dân (Bắc sơn - Tiểu Nhã)
- Nói về nạn phu dịch nặng nề người quan quả khó rách áo ôm cũng bị bắt làm việc ngoài đồng (Hồng Nhạn – Tiểu Nhã)
- Sự oán thán của dân chúng còn sâu sắc và gay gắt hơn với bài Phạt đàn – Ngụy Phong, Thạc Thử - Ngụy Phong.
- Phản ánh tình trạng dân chúng chịu nền chính trị bạo ngược hà khắc rủ nhau bỏ trốn có (Bắc phong – Bội Phong)
- Tố cáo đau xót tình cảnh người nông dân phải đi phu lính bỏ cày bừa, cha mẹ không nuôi không biết bao giờ mới được sống yên ổn (Bảo Vũ – Đường Phong)
- Tả tâm tình người vợ nhớ chồng đi lính mang giọng điệu oán thán (Cát lụy, Dương chi thủy – Vương Phong)
=> Đời sống dân chúng được phản ánh bằng rất nhiều bài thơ trong Kinh thi, chủ yếu ở 2 phần Quốc phong và Tiểu Nhã được giới thi học chú ý nghiên cứu khoảng giữa thế kỉ XX. Các bài thơ đều nói về hiện tượng “người đói hát về chuyện ăn người lao động hát về công việc”.
4.4: Phản ánh đời sống quý tộc và văn hóa lễ nhạc đời Chu
_Thơ phản ánh văn hóa lễ nhạc đời Chu chủ yếu do tầng lớp quý tộc làm ra, chiếm đa số trong Tụng và một phần Nhã.
_Đây hoặc là thơ dùng trong tế lễ tông miếu hoặc là thơ yến ẩm, biểu thị sâu sắc và dào dạt tinh thần lễ nhạc của con người thời Chu.
_Thấp thoáng sau mỗi bài thơ là nhiều phong tục tập quán, sinh hoạt xã hội đời Chu như săn bắn, xây dựng nhà cửa, yến ẩm, lễ hội...của mọi tầng lớp trong xã hội.

V.Nghệ thuật kinh thi
a.Phương pháp “phú”, “tỉ”, “hứng”
Có hiệu quả nghệ thuật ảnh hưởng rõ nét đến thi ca đời sau:
Phú là trình bày sự việc rồi viết thẳng ra

Tỉ là lấy vật kia so với vật này

Hứng là trước nói một vật khác để dẫn đến lời của thơ.

Trần thuật, so sánh, gợi hứng cho bài thơ.
Trong Kinh thi phần Nhã, Tụng phần nhiều dùng phương pháp “phú” để diễn tả, phần Quốc phong đa phần dùng phương pháp tỉ để diễn tả : bài Chung tư lấy hình ảnh con dế chúc mừng sự đông con:
“Chung tư vũ
Sắn hề hề
Nghi nhĩ tử tôn
Chân chân hề”
Bài Bội Phong lấy gió lớn nói đến người chồng tàn bạo.
Hứng được sử dụng thường xuyên trong Quốc phong : bài thơ Quan thư lấy hứng từ con chim gù rồi dẫn đến chủ đề là mơ tưởng tình yêu của chàng trai:
“Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu”
b. Nghệ thuật trùng chương điệp cú
* Là sự lặp đoạn lặp câu, lặp chương có lúc để tỏ rõ trình độ, thứ tự của sự việc Thái cát chương đầu:
“Người kia đi hái dây sắn
Một ngày mà không thấy nhau
Thì đằng đẵng như ba tháng vậy”
* Chương hai, chương ba đổi từ “dây sắn” thành cỏ thơm,rau ngải, “ba tháng” đổi thành ba mùa, ba năm mức độ phóng đại ngày càng to dần:
“Người kia đi hái cỏ tiêu
Một ngày chẳng thấy nhau
Thì đằng đẵng như ba mùa vậy”
Ngoài ra trong kinh thi còn có cách “xướng họa” có thể là một xướng một họa như lời đối đáp kết cấu hòa thanh (người ngoài hát hòa theo):
“Từ ngày ta trẩy núi Đông
Năm qua tháng lại vẫn không được về
Hôm nay ta bước ra về
Trời mờ mịt khắp tứ bề mây bay ”
(Đông Phong)
c.Tập đại thành dân ca có tiết tấu, điệu có thể hát được
Thơ Kinh thi có nhạc tính rất đậm bằng cách sử dụng nhiều điệp từ phức từ như:
“Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu”
(Quan thư)
“Kiêm hà thương thương”, “Kiêm hà thê thê” (Tần phong)
Hoặc điệp cú: “Phong vũ thê thê, kê minh giê giê ”, “Phong vũ tiêu tiêu, kê minh diêu diêu” trong Phong vũ
Cách gieo vần rất rộng rãi tự nhiên không gò bó trong khuân khổ hẹp hòi
Ngôn ngữ trong Kinh thi hết sức tinh tế phong phú
Giá trị và ảnh hưởng của Kinh Thi
Khổng Tử nhấn mạnh :
"Không học thơ thì không biết nói"
Thi là "tư vô tà", "có thể giúp hưng phấn, có thể giúp xem xét, có thể giúp hợp quần, có thể giúp biết oán giận. Gần có thể thờ cha, xa thờ vua, giúp biết được nhiều tên của chim muông, cây cỏ". 
Thiên Thái Bá sách Luận ngữ dẫn lời Khổng Tử:
- "Thơ có thể gây hứng khởi tấm lòng ham điều thiện, ghét điều ác. Lễ có thể khiến cho ta lập thân ở xã hội. Âm nhạc có thể giúp ta hoàn thành việc tu dưỡng nhân cách".
Về phương diện văn học, Kinh Thi là một kiệt tác văn học giàu tính sáng tạo cả về nội dung và hình thức.
Kinh Thi đã khai phá một tầm nhìn rộng lớn bao la về đề tài cho văn học Trung Quốc.
Đã đặt nền tảng cho khuynh hướng hiện thực của văn học Trung Quốc
Có công khai phá mở đường cho phong cách nghệ thuật văn học Trung Quốc.

Về thể tài, Kinh Thi cũng có ảnh hưởng nhất định đến văn học đời sau.
Khổng Tử nói về Kinh thi:
Không học Thi thì không biết nói (Bất học Thi, vi dĩ ngôn).
 Thi, có thể giúp hưng phấn, có thể giúp xem xét, có thể giúp hợp quần, có thể giúp biết oán giận. Gần có thể thờ cha, xa thờ vua, giúp biết được nhiều tên của chim muông, cây cỏ (Thi, khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán. Nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức vu điểu thú thảo mộc chi danh).
2. Xét trên các phương diện lịch sử xã hội, lịch sử chính trị, lịch sử kinh tế, lịch sử tư tưởng, lịch sử khoa học kĩ thuật..., ta đều có thể tìm thấy ở Kinh Thi một kho báu vô giá.
 Tưởng Tổ Di đã xem Kinh Thi là một khảo chứng phẩm về nông nghệ thời cổ
 Hồ Thích cũng đã dùng Kinh Thi để nghiên cứu trạng huống xã hội Trung Quốc trong giai đoạn mà Hồ gọi là’ ‘‘thời kỳ thai nghén triết học’’
3. Về mặt kinh học, từ sau đời Hán, Kinh Thi được đưa vào Ngũ kinh, trở thành kinh điển của Nho gia, là tài liệu giáo dục quan trọng của Nho sĩ Trung Quốc.
Kinh Thi vốn là tuyển tập văn học
Mang tư cách của một tác phẩm kinh học Nho gia.
Trở thành giáo trình chính trị - luân lý cho toàn bộ Nho sĩ trong xã hội Trung Quốc suốt 2000 năm phong kiến.
Trở thành chuẩn mực trong các văn bản hành chính
4. Ảnh hưởng của Kinh Thi còn lan đến các quốc gia đồng văn lân cận Trung Quốc như Triều Tiên, Việt Nam...và để lại nhiều dấu ấn.

Kinh Thi vẫn tiếp tục được nghiên cứu sâu rộng bởi giới "Thi học".

Vai trò và ảnh hưởng của Kinh Thi là vô cùng to lớn, chẳng những được truyền bá trên toàn cõi Trung Quốc mà còn đến nhiều nơi trên thế giới, trở thành một phần của cải tinh thần của nhân loại.
VII.Kinh thi với văn hóa Việt Nam
1: Trên lĩnh vực nghệ thuật
+ Kinh thi được coi là khuôn vàng thước ngọc cho sáng tác văn chương của nhà nho.
+ Các tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm của văn học trung đại ít nhiều cũng lấy điển tích ,điển cố trong kinh thi.
VD:
Tiễn Nguyễn Biểu đi sứ

Mấy vần thơ cũ ngợi hoàng hoa
Trịnh trọng rày nhân dựng khúc ca
Chiếu phượng mười hang tơ cặn kẽ
Vó câu ngàn dặm tuyết xông pha
Tam bồng đã bấm lòng khi trẻ
Khương quế them cay tính tuổi già
Việc nước một mai công ngõ vẹn
Gác lân danh tiếng dọi lầu xa.
2: Về giáo dục và kinh học
+ Là tài liệu học tập thường xuyên của mọi nho sĩ
+ Dùng làm đề tài trong khoa cử Việt Nam

=> Hồ Qúy Ly đã viết sách quốc ngữ “thi nghĩa” giải thích lại kinh thi
3 :Phong trào dịch kinh thi phát triển mạnh mẽ
- phong trào phiên dịch kinh thi sang chữ Nôm nở rộ :
+ phát súng đầu tiên mở đầu là “quốc ngữ thi nghĩa” của Hồ Qúy Ly
+ Tứ thư ngũ kinh của Nguyễn Cảnh
+ Nguyễn Thiếp dịch ngũ kinh sang chữ Nôm theo lệnh của vua Quang Trung
+ Tùng Thiện Viên Miên Thẩm viết cuốn thi kinh quốc âm ca
+ Thập ngũ quốc phong diễn âm
+ Thi kinh quốc ngữ ca
+ Cùng một số bản dịch lẻ tẻ như: Thất nguyệt
tiểu chung của Phạm Đình Toái.
Tác phẩm dịch từ kinh thi ra gồm:
Thế kỉ XX dịch sang chữ quốc ngữ tập trung ở bốn bản dịch:
+ tuyển dịch của Tản Đà ,Nghiêm Thượng Văn ,Đặng Đức Tô.
+ Tuyển dịch Kinh thi tinh tuyển của Phạm Thị Hảo
+ Thi kinh tập truyện của Chu Hy do Đặng Quang Phát dịch
+ Kinh thi trong bộ ngữ văn Hán Nôm
Từ cuối thế kỉ thứ XVIII khi sưu tầm thơ ca dân gian các nhà nho Việt Nam cũng có xu hướng học tập kết cấu của kinh thi.
+ Trần Danh Án sưu tập và biên soạn : Quốc phong giải trào
+ Ngô Đình Thái sưu tập và biên soạn: Nam phong giải trào
Họ đều ghi chép ca dao tục ngữ bằng chữ Nôm rồi dịch ra chữ Hán
Sau đó chú giải theo cách của Chu Hy
 
Gửi ý kiến