Tìm kiếm Bài giảng
Bài 13. Làng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Lan Thị
Ngày gửi: 19h:19' 03-12-2023
Dung lượng: 12.1 MB
Số lượt tải: 428
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Lan Thị
Ngày gửi: 19h:19' 03-12-2023
Dung lượng: 12.1 MB
Số lượt tải: 428
Số lượt thích:
0 người
I. TÌM HIỂU CHUNG
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả
- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh
Nguyễn Văn Tài.
- Quê quán: Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh.
- Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn
và đã có sáng tác đăng báo trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945
- Là cây bút chuyên viết truyện ngắn có
sở trường viết về nông thôn và người
nông dân.
- Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng
Nhà nước về văn học nghệ thuật
SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC
Vai Lão Hạc trong
Làng Vũ Đại ngày ấy
SỰ NGHIỆP
DIỄN XUẤT
Vai Lý Cựu trong Chị Dậu
2. Tác phẩm
PTBĐ
Tự sự + Miêu tả +
Biểu cảm
Ngôi kể
Hoàn cảnh sáng tác
- Viết năm 1948
- Thời kì đầu cuộc kháng
chiến chống Pháp.
- Đăng lần đầu trên Tạp
chí Văn nghệ (1948)
- Ngôi thứ 3.
- Câu chuyện trở nên
khách quan, tạo
cảm giác chân thực
cho người đoc.
Tình huống truyện
Ông Hai rất yêu làng chợ
Dầu nhưng rồi ông nghe tin
làng ông việt gian, theo
Tây. Trong ông xảy ra cuộc
đấu tranh giữa về làng và
theo kháng chiến. Nhưng
sau đó tin đó được cải
chính, ông Hai lại hớn hở đi
khoe về làng.
TÌNH HUỐNG TRUYỆN
Nghe tin làng theo giặc
Cải chính tin làng theo giặc
Tình huống đặc sắc, kịch tính
Tình huống quan trọng
Thắt nút câu chuyện
Mở nút câu chuyện
Bộc lộ tình yêu làng và tình yêu nước
Tóm tắt văn bản
Ông Hai là một người nông dân sống ở làng Chợ Dầu, do chiến tranh nên ông
phải đi tản cư. Ở nơi tản cư, ông luôn tự hào về cái làng của mình và mang nó
khoe với mọi người. Khi tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông sững sờ, cổ ông
nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, xấu hổ tới mức cứ cúi gằm mặt xuống mà đi.
Suốt mấy ngày ở nhà, ông chẳng dám đi đâu, mang nỗi ám ảnh nặng nề, đau
đớn, tủi hổ, bế tắc, tuyệt vọng. Tâm trạng ông bế tắc khi mụ chủ nhà nói sẽ
đuổi hết người làng Chợ Dầu khỏi nơi sơ tán. Rồi cái tin cải chính khiến ông
sung sướng đi khoe về làng mình với tâm trạng như lúc ban đầu, ông hạnh
phúc khi khoe Tây nó đốt nhà mình.
Bố cục
Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai
1
Từ đầu ruột gan ông cứ múa cả lên, vui quá!
Trước khi nghe tin làng theo giặc
Ông lão náo nức ……đôi phần
Khi nghe tin làng theo giặc
2
3
“Khoảng ba bốn giờ chiều …hết”
Khi nghe tin cải chính
II. Đọc hiểu văn bản
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Tâm trạng của ông Hai trước khi nghe tin làng theo giặc
Khoe về làng: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất
như tỉnh
+ Trước CMT8 ông khoe cái sinh phần của tổng đốc to nhất huyện,
vinh dự vì làng có bề dày lịch sử.
+ Sau cách mạng tháng 8 ông khoe phong trào
cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao
bằng ngọn tre...
KHI Ở NƠI TẢN CƯ
- Tìm những chi tiết nói về nỗi nhớ làng, kháng chiến
của ông Hai ?
- Những nét đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn văn ?
- Tác dụng của biện pháp nghệ thuật ấy ?
….Ông Hai hì hục vỡ một vạt đất rậm ngoài bờ suối từ sáng đến giờ, ông tính
để trồng thêm vài trăm gốc sắn ăn vào những tháng đói sang năm. Có một
mình, ông phải làm cố, hai vai mỏi nhừ. Ông nằm vật lên giường vắt tay lên
trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Ông lại nghĩ về cái làng của ông, lại nghĩ đến những
ngày cùng làm với anh em. Ồ, sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra.
Cũng hát hỏng, bông phèng, cũng đào, cũng cuốc mê man suốt ngày. Trong
lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên. Ông lại muốn về làng, lại muốn được
cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở
đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí mật chắc là còn khướt
lắm. Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá…
(Trích Làng – Kim Lân)
Nỗi nhớ làng của ông Hai cũng là nỗi nhớ chung của những
người con khi xa quê
Ông Hai đi nghênh ngang giữa đường vắng, cái đầu cung cúc(4) lao về phía trước. Hai tay vung vẩy, nhấp nhổm.
Gặp ai quen ông lão cũng níu lại, cười cười:
– Nắng này là bỏ mẹ chúng nó!
Có người bỡ ngỡ hỏi lại: “Chúng nó nào?” thì ông lão bật cười, giơ tay trỏ về phía tiếng súng:
– Tây ấy chứ còn chúng nó nào nữa. Ngồi trong vị trí(5) giờ bằng ngồi tù.
Dứt lời, ông lão lại đi, làm như đang bận nhiều công việc lắm. Cũng như mọi hôm, việc đầu tiên là ông vào phòng
thông tin nghe đọc báo. Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Điều này ông khổ tâm
hết sức.
Ông cũng đã có học một khoá bình dân học vụ(6) ở làng, cũng đã biết đọc, biết viết. Nhưng chữ in khó nhận mặt
chữ, ông đọc nó cứ bập bõm, câu được, câu chăng, mà chả lẽ cứ nghếch mãi cổ lên giữ chịt lấy tờ báo không cho
người khác xem nữa? Ông ghét thậm những anh cậy ta đây lắm chữ, đọc báo cứ lại đọc thầm một mình, không đọc
ra thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy.
Hôm nay may quá, vớ được anh dân quân đọc rất to, dõng dạc, rành rọt từng tiếng một. Cơ chừng (7) anh ta cũng
mới học, đánh vần được chữ nào anh ta đọc luôn chữ ấy. Ông lão nghe chẳng sót một câu nào. Bao nhiêu là tin hay.
Một em nhỏ trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm quốc kì lên Tháp Rùa. “Đấy, cứ kêu
chúng nó trẻ con mãi đi, liệu đã bằng chúng nó chưa?”. Một anh trung đội trưởng sau khi chết giết được bảy tên
giặc đã tự sát bằng một quả lựu đạn cuối cùng. Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người đi mua hàng đã bắt sống
một tên quan hai bốt(8) Thao ngay giữa chợ. “Khiếp thật, tinh những người tài giỏi cả”. Lại còn bao nhiêu tin đột
kích(9) nữa, chỗ này giết được năm Pháp với hai Việt gian; chỗ kia phá đổ một xe tăng và một xe díp (10). “Cứ thế, chỗ
này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng ống cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành
đại(11), làm gì mà rồi thằng Tây không bước sớm”. Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!
- Ở nơi tản cư, ông còn thường đến phòng
thông tin để nghe tin tức kháng chiến:
“Nghe chẳng sót một câu nào”. Ông vui khi
nghe tin quân ta thắng trận.
- Một em nhỏ xung phong bơi ra giữa hồ
Hoàn Kiếm cắm Quốc kì lên Tháp Rùa.
Phòng T.T
- Đội nữ du kích Trưng Trắc bắt sống một tên quan hai bốt .
- Anh trung đội trưởng giết được bảy tên giặc.
=>Ruột gan ông cứ múa cả lên.
Tình yêu làng của ông đã gắn liền với niềm vui của con người hòa vào
cuộc kháng chiến của dân tộc.
PHIẾU HỌC TẬP
Diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin dữ
DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG ÔNG HAI KHI NGHE TIN DỮ
Thời điểm
Lúc bắt đầu nghe tin
Trên đường về nhà
Về đến nhà
Mấy ngày sau
Khi chủ nhà có ý đuổi đi
Khi trò chuyện cùng con
Dẫn chứng
Phân tích
Bàng
hoàng,
sững sờ
Không tin,
hỏi lại
Đau đớn
trước lời
khẳng
định
Ông nằm vật ra giường
Nghĩ thương những đứa nhỏ
Mắng chửi lũ bán nước
Đấu tranh nội tâm dữ dội
Nghi ngại
Đau đớn
thừa nhận
Nỗi ám ảnh của ông Hai,
nó theo ông cả vào trong
giấc ngủ
Nỗi ám ảnh nặng nề đã biến thành sự sợ hãi thường trực trong lòng.
ĐẤU TRANH NỘI TÂM
Hay là
quay về
làng?...
Về làm già cái làng
ấy nữa. … Về làng
tức là bỏ kháng
chiến, bỏ cụ Hồ…
Làng thì yêu thật
nhưng làng theo Tây
mất rồi thì phải thù.
Tình yêu nước đã rộng lớn
hơn bao trùm lên tình cảm
với làng quê.
KHI TRÒ CHUYỆN
CÙNG CON
-Tình yêu sâu nặng dành cho
làng quê.
- Tấm lòng thủy chung, gắn
bó với kháng chiến, với cách
mạng, với Bác Hồ
- Lời thề bền vững, thiêng
liêng.
KHI NGHE TIN CẢI CHÍNH
Gương mặt
Gương mặt tươi vui rạng rỡ; miệng bỏm bẻm
nhai trầu,; cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy.
Hành động
Lật đật đi khoe
Lời nói
Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn
- Sung sướng hả hê
- Tình yêu đất nước đặt lên trên lợi ích của gia đình
và bản thân
Tình yêu làng là cơ sở, là biểu hiện hùng hồn nhất của tình yêu
nước trong ông Hai. Quả đúng như nhà văn I-li-a Ê-ren-bua đã
từng nói : “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê làm
nên lòng yêu tổ quốc.” Nếu so với lão Hạc của Nam Cao hay
chị Dậu của Ngô Tất Tố trước Cách mạng tháng Tám – những
người nông dân cả cuộc đời đầu tắt mặt tối trong ruộng vườn
thì nhân vật ông Hai đã có nhận thức rõ ràng về cách mạng, về
kháng chiến. Ông đã nhận ra rằng: Đất nước còn thì làng còn,
đất nước mất thì làng cũng mất. Đây không chỉ là sự thay đổi
trong suy nghĩ người nông dân, mà còn là suy nghĩ của mỗi
người dân Việt Nam thời điểm đó. Họ sẵn sàng hy sinh những
cái riêng, những cái nhỏ vì sự nghiệp chung, vì cuộc kháng
chiến trường kỳ của dân tộc. Họ không hề quên đi cội nguồn
của mình mà gìn giữ nơi ấy ở trong tim, biến thành động lực
chiến đấu để giải phóng đất nước, giải phóng quê hương.
Nhà văn đã miêu tả rất cụ
thể, tinh tế, sâu sắc những
biến động dữ dội trong nội
tâm nhân vật (Những điều ấy
không thể quan sát được ...
=> Chứng tỏ Kim Lân rất am
hiểu thế giới nội tâm, đời
sống tinh thần của người
nông dân).
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
1. Cách XD tình huống gay cấn
2. Miêu tả tâm lí nhân vật chân thực, sinh động qua
suy nghĩ, hành động , lời nói.
3. Ngôn ngữ nhân vật giàu tình khẩu ngữ thể hiện rõ
cá tính.
4. Cách trần thuật linh hoạt, tự nhiên.
2. Ý nghĩa
Truyện thể hiện chân thực và cảm động một tình cảm
bền chặt và sâu sắc là tình yêu làng quê thống nhất với
lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến qua nhân vât
ông Hai. Qua đó khẳng định lòng yêu nước của người
nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
PHIẾU SỐ 1
Trong văn bản “Làng” của Kim Lân có đoạn:
“Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được? Mà thằng Chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi. Không
có lửa làm sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng
Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bản ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước
Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước...Lại còn bao nhiêu người làng,
tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?”
(SGK Ngữ văn 9, tập một)
Câu 1: Tâm trạng của nhân vật được nói đến trong đoạn trích trên là ai? “Cái cơ sự này” trong đoạn trích là điều
gì?
Câu 2: Việc sử dụng liên tiếp các câu nghi vấn trong đoạn văn trên có tác dụng gì trong khi diễn tả những cảm
xúc, suy nghĩ của nhân vật?
Câu 3: Tại sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hướng về làng chợ Dầu, nhưng tác giả lại đặt tên tác
phẩm của mình là “Làng” chứ không phải “Làng chợ Dầu”?
Câu 4: Trong chương trình Ngữ văn THCS cũng có một tác phẩm viết về người nông dân với nỗi đau sâu sắc bộc
lộ qua cử chỉ, ngoại hình. Đó là tác phẩm nào? Tác giả là ai?
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả
- Kim Lân (1920-2007) tên khai sinh
Nguyễn Văn Tài.
- Quê quán: Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh.
- Ông là nhà văn chuyên viết truyện ngắn
và đã có sáng tác đăng báo trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945
- Là cây bút chuyên viết truyện ngắn có
sở trường viết về nông thôn và người
nông dân.
- Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng
Nhà nước về văn học nghệ thuật
SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC
Vai Lão Hạc trong
Làng Vũ Đại ngày ấy
SỰ NGHIỆP
DIỄN XUẤT
Vai Lý Cựu trong Chị Dậu
2. Tác phẩm
PTBĐ
Tự sự + Miêu tả +
Biểu cảm
Ngôi kể
Hoàn cảnh sáng tác
- Viết năm 1948
- Thời kì đầu cuộc kháng
chiến chống Pháp.
- Đăng lần đầu trên Tạp
chí Văn nghệ (1948)
- Ngôi thứ 3.
- Câu chuyện trở nên
khách quan, tạo
cảm giác chân thực
cho người đoc.
Tình huống truyện
Ông Hai rất yêu làng chợ
Dầu nhưng rồi ông nghe tin
làng ông việt gian, theo
Tây. Trong ông xảy ra cuộc
đấu tranh giữa về làng và
theo kháng chiến. Nhưng
sau đó tin đó được cải
chính, ông Hai lại hớn hở đi
khoe về làng.
TÌNH HUỐNG TRUYỆN
Nghe tin làng theo giặc
Cải chính tin làng theo giặc
Tình huống đặc sắc, kịch tính
Tình huống quan trọng
Thắt nút câu chuyện
Mở nút câu chuyện
Bộc lộ tình yêu làng và tình yêu nước
Tóm tắt văn bản
Ông Hai là một người nông dân sống ở làng Chợ Dầu, do chiến tranh nên ông
phải đi tản cư. Ở nơi tản cư, ông luôn tự hào về cái làng của mình và mang nó
khoe với mọi người. Khi tin làng Chợ Dầu theo giặc, ông sững sờ, cổ ông
nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân, xấu hổ tới mức cứ cúi gằm mặt xuống mà đi.
Suốt mấy ngày ở nhà, ông chẳng dám đi đâu, mang nỗi ám ảnh nặng nề, đau
đớn, tủi hổ, bế tắc, tuyệt vọng. Tâm trạng ông bế tắc khi mụ chủ nhà nói sẽ
đuổi hết người làng Chợ Dầu khỏi nơi sơ tán. Rồi cái tin cải chính khiến ông
sung sướng đi khoe về làng mình với tâm trạng như lúc ban đầu, ông hạnh
phúc khi khoe Tây nó đốt nhà mình.
Bố cục
Diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai
1
Từ đầu ruột gan ông cứ múa cả lên, vui quá!
Trước khi nghe tin làng theo giặc
Ông lão náo nức ……đôi phần
Khi nghe tin làng theo giặc
2
3
“Khoảng ba bốn giờ chiều …hết”
Khi nghe tin cải chính
II. Đọc hiểu văn bản
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Tâm trạng của ông Hai trước khi nghe tin làng theo giặc
Khoe về làng: giàu và đẹp, lát đá xanh, có nhà ngói san sát sầm uất
như tỉnh
+ Trước CMT8 ông khoe cái sinh phần của tổng đốc to nhất huyện,
vinh dự vì làng có bề dày lịch sử.
+ Sau cách mạng tháng 8 ông khoe phong trào
cách mạng diễn ra sôi nổi, chòi phát thanh cao
bằng ngọn tre...
KHI Ở NƠI TẢN CƯ
- Tìm những chi tiết nói về nỗi nhớ làng, kháng chiến
của ông Hai ?
- Những nét đặc sắc về nghệ thuật trong đoạn văn ?
- Tác dụng của biện pháp nghệ thuật ấy ?
….Ông Hai hì hục vỡ một vạt đất rậm ngoài bờ suối từ sáng đến giờ, ông tính
để trồng thêm vài trăm gốc sắn ăn vào những tháng đói sang năm. Có một
mình, ông phải làm cố, hai vai mỏi nhừ. Ông nằm vật lên giường vắt tay lên
trán nghĩ ngợi vẩn vơ. Ông lại nghĩ về cái làng của ông, lại nghĩ đến những
ngày cùng làm với anh em. Ồ, sao mà độ ấy vui thế. Ông thấy mình như trẻ ra.
Cũng hát hỏng, bông phèng, cũng đào, cũng cuốc mê man suốt ngày. Trong
lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên. Ông lại muốn về làng, lại muốn được
cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá… Không biết cái chòi gác ở
đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí mật chắc là còn khướt
lắm. Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá…
(Trích Làng – Kim Lân)
Nỗi nhớ làng của ông Hai cũng là nỗi nhớ chung của những
người con khi xa quê
Ông Hai đi nghênh ngang giữa đường vắng, cái đầu cung cúc(4) lao về phía trước. Hai tay vung vẩy, nhấp nhổm.
Gặp ai quen ông lão cũng níu lại, cười cười:
– Nắng này là bỏ mẹ chúng nó!
Có người bỡ ngỡ hỏi lại: “Chúng nó nào?” thì ông lão bật cười, giơ tay trỏ về phía tiếng súng:
– Tây ấy chứ còn chúng nó nào nữa. Ngồi trong vị trí(5) giờ bằng ngồi tù.
Dứt lời, ông lão lại đi, làm như đang bận nhiều công việc lắm. Cũng như mọi hôm, việc đầu tiên là ông vào phòng
thông tin nghe đọc báo. Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Điều này ông khổ tâm
hết sức.
Ông cũng đã có học một khoá bình dân học vụ(6) ở làng, cũng đã biết đọc, biết viết. Nhưng chữ in khó nhận mặt
chữ, ông đọc nó cứ bập bõm, câu được, câu chăng, mà chả lẽ cứ nghếch mãi cổ lên giữ chịt lấy tờ báo không cho
người khác xem nữa? Ông ghét thậm những anh cậy ta đây lắm chữ, đọc báo cứ lại đọc thầm một mình, không đọc
ra thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy.
Hôm nay may quá, vớ được anh dân quân đọc rất to, dõng dạc, rành rọt từng tiếng một. Cơ chừng (7) anh ta cũng
mới học, đánh vần được chữ nào anh ta đọc luôn chữ ấy. Ông lão nghe chẳng sót một câu nào. Bao nhiêu là tin hay.
Một em nhỏ trong ban tuyên truyền xung phong bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm cắm quốc kì lên Tháp Rùa. “Đấy, cứ kêu
chúng nó trẻ con mãi đi, liệu đã bằng chúng nó chưa?”. Một anh trung đội trưởng sau khi chết giết được bảy tên
giặc đã tự sát bằng một quả lựu đạn cuối cùng. Đội nữ du kích Trưng Trắc giả làm người đi mua hàng đã bắt sống
một tên quan hai bốt(8) Thao ngay giữa chợ. “Khiếp thật, tinh những người tài giỏi cả”. Lại còn bao nhiêu tin đột
kích(9) nữa, chỗ này giết được năm Pháp với hai Việt gian; chỗ kia phá đổ một xe tăng và một xe díp (10). “Cứ thế, chỗ
này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng ống cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành
đại(11), làm gì mà rồi thằng Tây không bước sớm”. Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!
- Ở nơi tản cư, ông còn thường đến phòng
thông tin để nghe tin tức kháng chiến:
“Nghe chẳng sót một câu nào”. Ông vui khi
nghe tin quân ta thắng trận.
- Một em nhỏ xung phong bơi ra giữa hồ
Hoàn Kiếm cắm Quốc kì lên Tháp Rùa.
Phòng T.T
- Đội nữ du kích Trưng Trắc bắt sống một tên quan hai bốt .
- Anh trung đội trưởng giết được bảy tên giặc.
=>Ruột gan ông cứ múa cả lên.
Tình yêu làng của ông đã gắn liền với niềm vui của con người hòa vào
cuộc kháng chiến của dân tộc.
PHIẾU HỌC TẬP
Diễn biến tâm trạng ông Hai khi nghe tin dữ
DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG ÔNG HAI KHI NGHE TIN DỮ
Thời điểm
Lúc bắt đầu nghe tin
Trên đường về nhà
Về đến nhà
Mấy ngày sau
Khi chủ nhà có ý đuổi đi
Khi trò chuyện cùng con
Dẫn chứng
Phân tích
Bàng
hoàng,
sững sờ
Không tin,
hỏi lại
Đau đớn
trước lời
khẳng
định
Ông nằm vật ra giường
Nghĩ thương những đứa nhỏ
Mắng chửi lũ bán nước
Đấu tranh nội tâm dữ dội
Nghi ngại
Đau đớn
thừa nhận
Nỗi ám ảnh của ông Hai,
nó theo ông cả vào trong
giấc ngủ
Nỗi ám ảnh nặng nề đã biến thành sự sợ hãi thường trực trong lòng.
ĐẤU TRANH NỘI TÂM
Hay là
quay về
làng?...
Về làm già cái làng
ấy nữa. … Về làng
tức là bỏ kháng
chiến, bỏ cụ Hồ…
Làng thì yêu thật
nhưng làng theo Tây
mất rồi thì phải thù.
Tình yêu nước đã rộng lớn
hơn bao trùm lên tình cảm
với làng quê.
KHI TRÒ CHUYỆN
CÙNG CON
-Tình yêu sâu nặng dành cho
làng quê.
- Tấm lòng thủy chung, gắn
bó với kháng chiến, với cách
mạng, với Bác Hồ
- Lời thề bền vững, thiêng
liêng.
KHI NGHE TIN CẢI CHÍNH
Gương mặt
Gương mặt tươi vui rạng rỡ; miệng bỏm bẻm
nhai trầu,; cặp mắt hung hung đỏ, hấp háy.
Hành động
Lật đật đi khoe
Lời nói
Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn
- Sung sướng hả hê
- Tình yêu đất nước đặt lên trên lợi ích của gia đình
và bản thân
Tình yêu làng là cơ sở, là biểu hiện hùng hồn nhất của tình yêu
nước trong ông Hai. Quả đúng như nhà văn I-li-a Ê-ren-bua đã
từng nói : “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê làm
nên lòng yêu tổ quốc.” Nếu so với lão Hạc của Nam Cao hay
chị Dậu của Ngô Tất Tố trước Cách mạng tháng Tám – những
người nông dân cả cuộc đời đầu tắt mặt tối trong ruộng vườn
thì nhân vật ông Hai đã có nhận thức rõ ràng về cách mạng, về
kháng chiến. Ông đã nhận ra rằng: Đất nước còn thì làng còn,
đất nước mất thì làng cũng mất. Đây không chỉ là sự thay đổi
trong suy nghĩ người nông dân, mà còn là suy nghĩ của mỗi
người dân Việt Nam thời điểm đó. Họ sẵn sàng hy sinh những
cái riêng, những cái nhỏ vì sự nghiệp chung, vì cuộc kháng
chiến trường kỳ của dân tộc. Họ không hề quên đi cội nguồn
của mình mà gìn giữ nơi ấy ở trong tim, biến thành động lực
chiến đấu để giải phóng đất nước, giải phóng quê hương.
Nhà văn đã miêu tả rất cụ
thể, tinh tế, sâu sắc những
biến động dữ dội trong nội
tâm nhân vật (Những điều ấy
không thể quan sát được ...
=> Chứng tỏ Kim Lân rất am
hiểu thế giới nội tâm, đời
sống tinh thần của người
nông dân).
III. Tổng kết
1. Nghệ thuật
1. Cách XD tình huống gay cấn
2. Miêu tả tâm lí nhân vật chân thực, sinh động qua
suy nghĩ, hành động , lời nói.
3. Ngôn ngữ nhân vật giàu tình khẩu ngữ thể hiện rõ
cá tính.
4. Cách trần thuật linh hoạt, tự nhiên.
2. Ý nghĩa
Truyện thể hiện chân thực và cảm động một tình cảm
bền chặt và sâu sắc là tình yêu làng quê thống nhất với
lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến qua nhân vât
ông Hai. Qua đó khẳng định lòng yêu nước của người
nông dân trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
PHIẾU SỐ 1
Trong văn bản “Làng” của Kim Lân có đoạn:
“Nhưng sao lại nảy ra cái tin như vậy được? Mà thằng Chánh Bệu thì đích là người làng không sai rồi. Không
có lửa làm sao có khói? Ai người ta hơi đâu bịa ra những chuyện ấy làm gì. Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng
Việt gian! Rồi đây biết làm ăn, buôn bản ra sao? Ai người ta chứa. Ai người ta buôn bán mấy. Suốt cả cái nước
Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước...Lại còn bao nhiêu người làng,
tan tác mỗi người một phương nữa, không biết họ đã rõ cái cơ sự này chưa?”
(SGK Ngữ văn 9, tập một)
Câu 1: Tâm trạng của nhân vật được nói đến trong đoạn trích trên là ai? “Cái cơ sự này” trong đoạn trích là điều
gì?
Câu 2: Việc sử dụng liên tiếp các câu nghi vấn trong đoạn văn trên có tác dụng gì trong khi diễn tả những cảm
xúc, suy nghĩ của nhân vật?
Câu 3: Tại sao khi xây dựng hình tượng nhân vật chính luôn hướng về làng chợ Dầu, nhưng tác giả lại đặt tên tác
phẩm của mình là “Làng” chứ không phải “Làng chợ Dầu”?
Câu 4: Trong chương trình Ngữ văn THCS cũng có một tác phẩm viết về người nông dân với nỗi đau sâu sắc bộc
lộ qua cử chỉ, ngoại hình. Đó là tác phẩm nào? Tác giả là ai?
 









Các ý kiến mới nhất