Lớp 9.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đậu Thị Hường
Ngày gửi: 08h:38' 26-09-2026
Dung lượng: 93.6 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Đậu Thị Hường
Ngày gửi: 08h:38' 26-09-2026
Dung lượng: 93.6 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Tiết 1,2,3,4: CHỦ ĐỀ1:
PHƯƠNG NGỮ NGHỆ AN
I.Khởi động
Nghe bài hát “Tìm em câu ví Sông Lam”
Sáng tác: nhạc sĩ Ngô Sỹ Ngọc (nghệ danh A Páo)
Em hãy tìm những từ ngữ địa phương
được thể hiện trong bài hát vừa nghe?
-Các từ ngữ địa phương trong bài hát
Ví: Điệu hát dân gian truyền thống của người dân
Nghệ Tĩnh (như ví dặm, ví đò đưa), dùng để hát đối
đáp giao duyên lúc lao động, chèo thuyền.
Răng: Có nghĩa là Sao / Vì sao (trong câu hát: "Răng
anh không về..." và "Răng anh nỏ về...").
Nỏ: Có nghĩa là Không (trong câu hát: "Răng anh nỏ
về, nỏ về bên em").
"Răng anh không về, năm tháng đợi chờ mong
Răng anh nỏ về, nỏ về bên em."
Đoạn cao trào của bài hát sử dụng liên tiếp các cặp từ địa
phương để diễn tả nỗi niềm mong ngóng, trách móc nhẹ
nhàng nhưng vô cùng da diết của cô gái lái đòNhờ việc lồng
ghép khéo léo các từ ngữ mộc mạc như "răng", "nỏ" kết
hợp với chất liệu dân ca, bài hát đã lột tả thành công nét
tính cách chân chất, thủy chung và tình cảm sâu nặng của
con người vùng sông Lam.
CHỦ ĐỀ 1:
PHƯƠNG NGỮ NGHỆ AN
II.Khám phá.
I.Khái quát phương ngữ và phương ngữ ở
Nghệ An
1. Phương ngữ là gì?
Giải thích
“Phương” là địa phương,
“Ngữ” là lời nói.
-> “Phương ngữ” là lời nói của địa phương.
Nhưng vẫn còn một cách hiểu khác, theo định nghĩa
khái quát: phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự
biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở mỗi địa phương cụ thể với
những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với
phương ngữ khác”
2. Phương ngữ Nghệ An
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
Tìm từ ngữ địa phương trong hai câu
thơ trên?
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
Bài thơ "Tiếng Nghệ" – Nguyễn Bùi Vợi
Em đi chạp giỗ mẹ cha,
Bỏ con ở lại mần chi rứa nà?
Ai làm rau cháo qua loa,
Để con đói rách lôi thôi rứa nà?
Trách người ăn ở bạc nha,
Nỏ chộ mặt nhau thở ra bực mình!
Cươi ngang gõ nhịp đinh ninh,
Nghe ra mới biết nghĩa tình nước non
.
Đi mô cũng nhớ quê con,
Nhớ hàng dâm bụt đỏ hòn cươi nhà...
Em đi chạp giỗ mẹ cha,
Bỏ con ở lại mần chi rứa nà?
Ai làm rau cháo qua loa,
Để con đói rách lôi thôi rứa nà?
Trách người ăn ở bạc nha,
Nỏ chộ mặt nhau thở ra bực mình!
Cươi ngang gõ nhịp đinh ninh,
Nghe ra mới biết nghĩa tình nước non
.
Đi mô cũng nhớ quê con,
Nhớ hàng dâm bụt đỏ hòn cươi nhà...
Một số từ ngữ đặc trưng trong bài:
•Mần chi rứa nà: Làm cái gì thế này.
•Nỏ chộ: Không thấy.
•Cươi: Sân (sân trước nhà).
•Đi mô: Đi đâu.
•Nỏ: Không
Em hãy kể tên một số ngôn ngữ ở
xứ Nghệ mà em biết?
bể - biển,
nỏ- không,
chi - gì,
rày
nay,
chộ -thấy,
răng - sao,
cơn - cây,
- núi,
đọi – bát, rứa -rúthế
ấy,
mô - đâu,
trốc - đầu,
ngái - xa,
tau
tôi,
nhởi-chơi,
mi - mày,
nom - nhìn,
bọn nớ - bọn họ, bọn
kia,
bọn choa - bọn tao,
chúng tôi,
ả - chị,
eng/enh - anh,
hấn - hắn,
bọ - bố (cũng có nơi
gọi cha, thầy thay cho
bọ),
mệ - mẹ, má.
Trên thực tế, tiếng Nghệ An thường không phát âm
được thanh ngã và thường nhầm thanh ngã với thanh nặng.
Nhưng cũng vì điều đó, âm thanh xứ Nghệ mang một nét
ấn tượng khó phai đối với tất cả người dân xứ khác có dịp
lắng nghe giọng của dân xứ Nghệ chúng ta.
Đây chính là điểm độc đáo của phương ngữ Nghệ An
chính các từ cùng một nghĩa lại có cách nói có phần đặc
biệt, khó có thể tưởng tượng được khiến cho người xứ
khác thấy thích thú vì âm điệu hơn là mặt ngữ nghĩa. Và
ngữ điệu của là một phần đáng tự hào khi chỉ cần họ cất
giọng nói chuyện, ta nhận ra ngay một người con đến từ
quê hương xứ Nghệ.
II. Các phương ngữ ở Nghệ An
1.DÂN TỘC KINH
Tên gọi khác: Người Việt
Ngôn ngữ: Tiếng Việt: nằm trong nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, ngữ hệ Nam
Á.
Cư trú: Người Kinh là tộc người duy nhất trong 54 tộc người của quốc gia
Việt Nam cư trú thành các cộng đồng ở tất cả các tỉnh, trên tất cả các dạng
địa hình, địa bàn trong cả nước (đồng bằng, trung du, miền núi, cao nguyên,
ven biển và hải đảo), song tập trung đông đúc ở đồng bằng.
Lịch sử: Người Kinh (cũng như người Mường, Thổ, Chứt) là tộc người bản
địa, sở tại, sinh sống từ rất lâu đời trên dải đất Việt Nam, không phải có
nguồn gốc từ lãnh thổ bên ngoài. Từ cái nôi ban đầu là vùng Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ, tập trung ở đồng bằng, người Kinh chuyển cư đến các vùng khác,
trở thành tộc người đông đảo, có mặt trên mọi địa bàn, địa hình của Tổ quốc.
2 DÂN TỘC THÁI
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng,
Tay Dọ, Thổ.
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái – Kađai).
Cư trú: Người Thái cư trú ở một số tỉnh chủ yếu ở Việt Nam: Hòa Bình, Lai
Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An. Quá trình
di cư từ đầu những năm 1990 đã mở rộng địa bàn cư trú của tộc người này ra
một số vùng khác, trong đó có các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên.
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa
xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm. Người Thái ở Việt Nam
được nhìn nhận là một cộng đồng tộc người với nhiều nhóm địa phương.
Nguồn gốc cũng như sự có mặt của họ ở Việt Nam không hoàn toàn giống
nhau. Theo các nhà dân tộc học, người Thái ở Việt Nam có hai nhóm chính:
Thái Trắng và Thái Đen.
Lễ hội Xăng khan của người Thái
3. DÂN TỘC KHƠ MÚ
Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh,
Tềnh.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.
Cư trú: Ở các tỉnh dọc biên giới Việt - Lào như Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La,
Lai Châu, Điện Biên.
Lịch sử: Về nguồn gốc tộc người Khơ Mú ở Việt Nam hiện vẫn còn tồn tại
một số quan điểm khác nhau. Cho đến nay, phần lớn các nhà khoa học đều
khẳng định người Khơ-mú là cư dân tại chỗ ở bán đảo Đông Dương, cư trú tập
trung ở Bắc Lào với điểm quy tụ đông nhất là Luang Prabang và đã hình thành
vương quốc có tên là Swa hay Lawa. Sau khi người Lào di cư xuống cùng với
các cuộc viễn chinh và người từ Vân Nam (Trung Quốc) tràn xuống đã buộc
người Khơ Mú phải di cư sang Thái Lan và Tây Bắc Việt Nam.
Tết Gơ rơ của đồng bào dân tộc Khơ Mú
4. DÂN TỘC Ơ ĐU
Tên gọi khác: Tên tự gọi: Ơ Ðu hoặc I Ðu (người yêu thương). Tên
gọi khác: Tày Hạt (người đói rách)
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao
tiếp hàng ngày.
Cư trú: Người Ơ Đu tập trung tại huyện Tương Dương, Nghệ An.
Lịch sử: Từ nhiều tài liệu cho thấy, Ơ Đu là tộc người sinh sống từ rất
lâu đời tại vùng đất hai huyện Tương Dương và Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An
hiện nay.
Người Ơ Đu giữ gìn bản sắc văn hoá
5. DÂN TỘC THỔ
Tên gọi khác: Người Nhà Làng, Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày
Pọng, Con Kha, Xá Lá Vàng...
Ngôn ngữ: Tiếng Việt, tiếng Thổ, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường trong
ngữ hệ Nam Á.
Cư trú: Thổ là tộc người cư trú ở vùng trung du và miền núi của 2 tỉnh Nghệ
An và Thanh Hóa. Ðịa bàn cư trú hiện nay của người Thổ vốn là giao điểm
của các luồng di cư từ bắc vào nam, từ miền xuôi lên miền ngược, những
người tha hương cùng chung cảnh ngộ ấy hòa nhập thành một cộng đồng
chung dân tộc Thổ.
Lịch sử: Cách đây trên dưới 4.000 năm, có một bộ phận người Việt cổ sống
ở vùng trung du và miền núi tỉnh Nghệ An, một phần ở tỉnh Thanh Hóa. Về
sau, một nhóm chuyển xuống vùng đồng bằng, dần dần trở thành người Việt;
bộ phận khác vẫn ở lại địa bàn cư trú cũ, chính là tổ tiên của người Thổ ngày
nay.
Lễ hội Đền Mó của đồng bào dân tộc Thổ
6. DÂN TỘC H'MÔNG
Tên gọi khác: Dựa trên màu sắc đặc điểm trang phục và ngữ âm, người
Hmông ở Việt Nam được chia thành 4 nhóm địa phương: Hmông Trắng,
Hmông Đen, Hmông Xanh và Hmông Hoa.
Ngôn ngữ: Thuộc hệ Hmông-Dao.
Cư trú: Chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Lai
Châu, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An, Đắk Lắk, Đắk Nông… Hiện nay
người Hmông đã di cư sang nhiều nơi khác như Cao Bằng, Bắc Kạn, Lâm
Đồng.
Lịch sử: Cách nay khoảng 4-5 nghìn năm, hai tộc người Hmông và Dao
cùng bị người Hán đẩy ra khỏi vùng đất Tam Miêu ở Trung Quốc, phải chịu
các cuộc binh chiến và thiên di kéo dài hàng nghìn năm. Vào cuối thế kỷ
XVII đầu thế kỷ XVIII, họ bắt đầu thiên di vào vùng Đông Nam Á.
Trang phục dân tộc H'mông
III. Vai trò và việc bảo tồn, phát triển các ngôn ngữ ở
Nghệ An
1.Vai trò của các phương ngữ ở Nghệ An đối với đời sống
văn hoá các dân tộc ở Nghệ An.
Xuyên suốt dòng chảy lịch sử, ngôn ngữ, chữ viết luôn song hành cùng sự hình
thành và phát triển của mỗi dân tộc, giúp con người tiếp thu các chuẩn mực về đạo
đức, lối sống, chuyển tải kinh nghiệm, tri thức trong đời sống lao động sản xuất, là
nền tảng tạo nên văn hóa.
Ngôn ngữ của các dân tộc ở Nghệ An chính là công cụ mạnh mẽ
nhất để bảo tồn và phát triển di sản vật thể và phi vật thể của Nghệ An. Đồng thời
thúc đẩy sự phổ biến các ngôn ngữ mẹ đẻ, khuyến khích sự đa dạng về ngôn ngữ và
giáo dục đa ngôn ngữ, nâng cao nhận thức về các truyền thống ngôn ngữ và văn hóa
trên khắp tỉnh Nghệ An.
Ngôn ngữ của các dân tộc ở Nghệ An đóng một vai trò quan trọng trong quá
trình phát triển bởi nó bảo đảm sự đa dạng về văn hóa và giúp các nền văn hóa của
các dân tộc có thể giao thoa, trao đổi với nhau.
Ngôn ngữ cũng giúp các dân tộc có sự hợp tác, đoàn kết, xây dựng tỉnh
Nghệ An có tri thức toàn diện, tạo điều kiện để Nghệ An tiếp cận với một nền giáo
dục có chất lượng.
Tiếng mẹ đẻ cùng với sự đa dạng của ngôn ngữ ở các dân tộc Nghệ An có ý
nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời là công cụ để
truyền tải cả một nền văn hóa, một tinh thần dân tộc, bảo đảm sự phát triển lành mạnh
của xã hội.
Ngôn ngữ và chữ viết của các dân
tộc ở Nghệ An là nền tảng cốt lõi
giúp giữ gìn bản sắc văn hóa,
chuyển tải tri thức, thúc đẩy giao
thoa giáo dục và thắt chặt khối đại
đoàn kết toàn tỉnh.
2. Bảo tồn và phát triển các ngôn ngữ ở Nghệ An
•Điều tra và phân loại: Khảo sát thực trạng xã hội - tộc người để xác
định danh sách ngôn ngữ sắp tiêu vong và xây dựng chính sách phù
hợp.
•Nghiên cứu và số hóa: Phân tích sâu cấu trúc ngôn ngữ, cải tiến chữ
viết, biên soạn sách công cụ (từ điển, SGK) và xây dựng ngân hàng dữ
liệu lưu trữ.
•Giáo dục và truyền thông: Đưa ngôn ngữ vào dạy học, sử dụng trên
phương tiện thông tin đại chúng và nâng cao ý thức tự giác bảo tồn của
người bản ngữ.
•Phối hợp tuyên truyền: Đẩy mạnh sự phối hợp giữa các ban ngành để
nâng cao nhận thức toàn xã hội về giá trị văn hóa và mục tiêu nâng cao
dân trí.
Để bảo vệ các ngôn ngữ có nguy cơ mai một tại Nghệ An,
cần đồng bộ thực hiện các giải pháp từ điều tra phân loại,
nghiên cứu số hóa dữ liệu, đến đẩy mạnh giáo dục, truyền
thông và nâng cao ý thức tự giác bảo tồn của cộng đồng.
LUYỆN TẬP
1. Tìm một số ngôn ngữ các dân tộc ở Nghệ An
và cho biết từ toàn dân tương ứng.
2. Em hãy chọn và giới thiệu về một ngôn ngữ
dân tộc ở Nghệ An mà em biết.
PHƯƠNG NGỮ NGHỆ AN
I.Khởi động
Nghe bài hát “Tìm em câu ví Sông Lam”
Sáng tác: nhạc sĩ Ngô Sỹ Ngọc (nghệ danh A Páo)
Em hãy tìm những từ ngữ địa phương
được thể hiện trong bài hát vừa nghe?
-Các từ ngữ địa phương trong bài hát
Ví: Điệu hát dân gian truyền thống của người dân
Nghệ Tĩnh (như ví dặm, ví đò đưa), dùng để hát đối
đáp giao duyên lúc lao động, chèo thuyền.
Răng: Có nghĩa là Sao / Vì sao (trong câu hát: "Răng
anh không về..." và "Răng anh nỏ về...").
Nỏ: Có nghĩa là Không (trong câu hát: "Răng anh nỏ
về, nỏ về bên em").
"Răng anh không về, năm tháng đợi chờ mong
Răng anh nỏ về, nỏ về bên em."
Đoạn cao trào của bài hát sử dụng liên tiếp các cặp từ địa
phương để diễn tả nỗi niềm mong ngóng, trách móc nhẹ
nhàng nhưng vô cùng da diết của cô gái lái đòNhờ việc lồng
ghép khéo léo các từ ngữ mộc mạc như "răng", "nỏ" kết
hợp với chất liệu dân ca, bài hát đã lột tả thành công nét
tính cách chân chất, thủy chung và tình cảm sâu nặng của
con người vùng sông Lam.
CHỦ ĐỀ 1:
PHƯƠNG NGỮ NGHỆ AN
II.Khám phá.
I.Khái quát phương ngữ và phương ngữ ở
Nghệ An
1. Phương ngữ là gì?
Giải thích
“Phương” là địa phương,
“Ngữ” là lời nói.
-> “Phương ngữ” là lời nói của địa phương.
Nhưng vẫn còn một cách hiểu khác, theo định nghĩa
khái quát: phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự
biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở mỗi địa phương cụ thể với
những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với
phương ngữ khác”
2. Phương ngữ Nghệ An
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
Tìm từ ngữ địa phương trong hai câu
thơ trên?
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
Bài thơ "Tiếng Nghệ" – Nguyễn Bùi Vợi
Em đi chạp giỗ mẹ cha,
Bỏ con ở lại mần chi rứa nà?
Ai làm rau cháo qua loa,
Để con đói rách lôi thôi rứa nà?
Trách người ăn ở bạc nha,
Nỏ chộ mặt nhau thở ra bực mình!
Cươi ngang gõ nhịp đinh ninh,
Nghe ra mới biết nghĩa tình nước non
.
Đi mô cũng nhớ quê con,
Nhớ hàng dâm bụt đỏ hòn cươi nhà...
Em đi chạp giỗ mẹ cha,
Bỏ con ở lại mần chi rứa nà?
Ai làm rau cháo qua loa,
Để con đói rách lôi thôi rứa nà?
Trách người ăn ở bạc nha,
Nỏ chộ mặt nhau thở ra bực mình!
Cươi ngang gõ nhịp đinh ninh,
Nghe ra mới biết nghĩa tình nước non
.
Đi mô cũng nhớ quê con,
Nhớ hàng dâm bụt đỏ hòn cươi nhà...
Một số từ ngữ đặc trưng trong bài:
•Mần chi rứa nà: Làm cái gì thế này.
•Nỏ chộ: Không thấy.
•Cươi: Sân (sân trước nhà).
•Đi mô: Đi đâu.
•Nỏ: Không
Em hãy kể tên một số ngôn ngữ ở
xứ Nghệ mà em biết?
bể - biển,
nỏ- không,
chi - gì,
rày
nay,
chộ -thấy,
răng - sao,
cơn - cây,
- núi,
đọi – bát, rứa -rúthế
ấy,
mô - đâu,
trốc - đầu,
ngái - xa,
tau
tôi,
nhởi-chơi,
mi - mày,
nom - nhìn,
bọn nớ - bọn họ, bọn
kia,
bọn choa - bọn tao,
chúng tôi,
ả - chị,
eng/enh - anh,
hấn - hắn,
bọ - bố (cũng có nơi
gọi cha, thầy thay cho
bọ),
mệ - mẹ, má.
Trên thực tế, tiếng Nghệ An thường không phát âm
được thanh ngã và thường nhầm thanh ngã với thanh nặng.
Nhưng cũng vì điều đó, âm thanh xứ Nghệ mang một nét
ấn tượng khó phai đối với tất cả người dân xứ khác có dịp
lắng nghe giọng của dân xứ Nghệ chúng ta.
Đây chính là điểm độc đáo của phương ngữ Nghệ An
chính các từ cùng một nghĩa lại có cách nói có phần đặc
biệt, khó có thể tưởng tượng được khiến cho người xứ
khác thấy thích thú vì âm điệu hơn là mặt ngữ nghĩa. Và
ngữ điệu của là một phần đáng tự hào khi chỉ cần họ cất
giọng nói chuyện, ta nhận ra ngay một người con đến từ
quê hương xứ Nghệ.
II. Các phương ngữ ở Nghệ An
1.DÂN TỘC KINH
Tên gọi khác: Người Việt
Ngôn ngữ: Tiếng Việt: nằm trong nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, ngữ hệ Nam
Á.
Cư trú: Người Kinh là tộc người duy nhất trong 54 tộc người của quốc gia
Việt Nam cư trú thành các cộng đồng ở tất cả các tỉnh, trên tất cả các dạng
địa hình, địa bàn trong cả nước (đồng bằng, trung du, miền núi, cao nguyên,
ven biển và hải đảo), song tập trung đông đúc ở đồng bằng.
Lịch sử: Người Kinh (cũng như người Mường, Thổ, Chứt) là tộc người bản
địa, sở tại, sinh sống từ rất lâu đời trên dải đất Việt Nam, không phải có
nguồn gốc từ lãnh thổ bên ngoài. Từ cái nôi ban đầu là vùng Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ, tập trung ở đồng bằng, người Kinh chuyển cư đến các vùng khác,
trở thành tộc người đông đảo, có mặt trên mọi địa bàn, địa hình của Tổ quốc.
2 DÂN TỘC THÁI
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng,
Tay Dọ, Thổ.
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái – Kađai).
Cư trú: Người Thái cư trú ở một số tỉnh chủ yếu ở Việt Nam: Hòa Bình, Lai
Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An. Quá trình
di cư từ đầu những năm 1990 đã mở rộng địa bàn cư trú của tộc người này ra
một số vùng khác, trong đó có các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên.
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa
xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm. Người Thái ở Việt Nam
được nhìn nhận là một cộng đồng tộc người với nhiều nhóm địa phương.
Nguồn gốc cũng như sự có mặt của họ ở Việt Nam không hoàn toàn giống
nhau. Theo các nhà dân tộc học, người Thái ở Việt Nam có hai nhóm chính:
Thái Trắng và Thái Đen.
Lễ hội Xăng khan của người Thái
3. DÂN TỘC KHƠ MÚ
Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh,
Tềnh.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.
Cư trú: Ở các tỉnh dọc biên giới Việt - Lào như Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn La,
Lai Châu, Điện Biên.
Lịch sử: Về nguồn gốc tộc người Khơ Mú ở Việt Nam hiện vẫn còn tồn tại
một số quan điểm khác nhau. Cho đến nay, phần lớn các nhà khoa học đều
khẳng định người Khơ-mú là cư dân tại chỗ ở bán đảo Đông Dương, cư trú tập
trung ở Bắc Lào với điểm quy tụ đông nhất là Luang Prabang và đã hình thành
vương quốc có tên là Swa hay Lawa. Sau khi người Lào di cư xuống cùng với
các cuộc viễn chinh và người từ Vân Nam (Trung Quốc) tràn xuống đã buộc
người Khơ Mú phải di cư sang Thái Lan và Tây Bắc Việt Nam.
Tết Gơ rơ của đồng bào dân tộc Khơ Mú
4. DÂN TỘC Ơ ĐU
Tên gọi khác: Tên tự gọi: Ơ Ðu hoặc I Ðu (người yêu thương). Tên
gọi khác: Tày Hạt (người đói rách)
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao
tiếp hàng ngày.
Cư trú: Người Ơ Đu tập trung tại huyện Tương Dương, Nghệ An.
Lịch sử: Từ nhiều tài liệu cho thấy, Ơ Đu là tộc người sinh sống từ rất
lâu đời tại vùng đất hai huyện Tương Dương và Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An
hiện nay.
Người Ơ Đu giữ gìn bản sắc văn hoá
5. DÂN TỘC THỔ
Tên gọi khác: Người Nhà Làng, Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Ly Hà, Tày
Pọng, Con Kha, Xá Lá Vàng...
Ngôn ngữ: Tiếng Việt, tiếng Thổ, thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường trong
ngữ hệ Nam Á.
Cư trú: Thổ là tộc người cư trú ở vùng trung du và miền núi của 2 tỉnh Nghệ
An và Thanh Hóa. Ðịa bàn cư trú hiện nay của người Thổ vốn là giao điểm
của các luồng di cư từ bắc vào nam, từ miền xuôi lên miền ngược, những
người tha hương cùng chung cảnh ngộ ấy hòa nhập thành một cộng đồng
chung dân tộc Thổ.
Lịch sử: Cách đây trên dưới 4.000 năm, có một bộ phận người Việt cổ sống
ở vùng trung du và miền núi tỉnh Nghệ An, một phần ở tỉnh Thanh Hóa. Về
sau, một nhóm chuyển xuống vùng đồng bằng, dần dần trở thành người Việt;
bộ phận khác vẫn ở lại địa bàn cư trú cũ, chính là tổ tiên của người Thổ ngày
nay.
Lễ hội Đền Mó của đồng bào dân tộc Thổ
6. DÂN TỘC H'MÔNG
Tên gọi khác: Dựa trên màu sắc đặc điểm trang phục và ngữ âm, người
Hmông ở Việt Nam được chia thành 4 nhóm địa phương: Hmông Trắng,
Hmông Đen, Hmông Xanh và Hmông Hoa.
Ngôn ngữ: Thuộc hệ Hmông-Dao.
Cư trú: Chủ yếu ở các tỉnh Hà Giang, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Lai
Châu, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An, Đắk Lắk, Đắk Nông… Hiện nay
người Hmông đã di cư sang nhiều nơi khác như Cao Bằng, Bắc Kạn, Lâm
Đồng.
Lịch sử: Cách nay khoảng 4-5 nghìn năm, hai tộc người Hmông và Dao
cùng bị người Hán đẩy ra khỏi vùng đất Tam Miêu ở Trung Quốc, phải chịu
các cuộc binh chiến và thiên di kéo dài hàng nghìn năm. Vào cuối thế kỷ
XVII đầu thế kỷ XVIII, họ bắt đầu thiên di vào vùng Đông Nam Á.
Trang phục dân tộc H'mông
III. Vai trò và việc bảo tồn, phát triển các ngôn ngữ ở
Nghệ An
1.Vai trò của các phương ngữ ở Nghệ An đối với đời sống
văn hoá các dân tộc ở Nghệ An.
Xuyên suốt dòng chảy lịch sử, ngôn ngữ, chữ viết luôn song hành cùng sự hình
thành và phát triển của mỗi dân tộc, giúp con người tiếp thu các chuẩn mực về đạo
đức, lối sống, chuyển tải kinh nghiệm, tri thức trong đời sống lao động sản xuất, là
nền tảng tạo nên văn hóa.
Ngôn ngữ của các dân tộc ở Nghệ An chính là công cụ mạnh mẽ
nhất để bảo tồn và phát triển di sản vật thể và phi vật thể của Nghệ An. Đồng thời
thúc đẩy sự phổ biến các ngôn ngữ mẹ đẻ, khuyến khích sự đa dạng về ngôn ngữ và
giáo dục đa ngôn ngữ, nâng cao nhận thức về các truyền thống ngôn ngữ và văn hóa
trên khắp tỉnh Nghệ An.
Ngôn ngữ của các dân tộc ở Nghệ An đóng một vai trò quan trọng trong quá
trình phát triển bởi nó bảo đảm sự đa dạng về văn hóa và giúp các nền văn hóa của
các dân tộc có thể giao thoa, trao đổi với nhau.
Ngôn ngữ cũng giúp các dân tộc có sự hợp tác, đoàn kết, xây dựng tỉnh
Nghệ An có tri thức toàn diện, tạo điều kiện để Nghệ An tiếp cận với một nền giáo
dục có chất lượng.
Tiếng mẹ đẻ cùng với sự đa dạng của ngôn ngữ ở các dân tộc Nghệ An có ý
nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời là công cụ để
truyền tải cả một nền văn hóa, một tinh thần dân tộc, bảo đảm sự phát triển lành mạnh
của xã hội.
Ngôn ngữ và chữ viết của các dân
tộc ở Nghệ An là nền tảng cốt lõi
giúp giữ gìn bản sắc văn hóa,
chuyển tải tri thức, thúc đẩy giao
thoa giáo dục và thắt chặt khối đại
đoàn kết toàn tỉnh.
2. Bảo tồn và phát triển các ngôn ngữ ở Nghệ An
•Điều tra và phân loại: Khảo sát thực trạng xã hội - tộc người để xác
định danh sách ngôn ngữ sắp tiêu vong và xây dựng chính sách phù
hợp.
•Nghiên cứu và số hóa: Phân tích sâu cấu trúc ngôn ngữ, cải tiến chữ
viết, biên soạn sách công cụ (từ điển, SGK) và xây dựng ngân hàng dữ
liệu lưu trữ.
•Giáo dục và truyền thông: Đưa ngôn ngữ vào dạy học, sử dụng trên
phương tiện thông tin đại chúng và nâng cao ý thức tự giác bảo tồn của
người bản ngữ.
•Phối hợp tuyên truyền: Đẩy mạnh sự phối hợp giữa các ban ngành để
nâng cao nhận thức toàn xã hội về giá trị văn hóa và mục tiêu nâng cao
dân trí.
Để bảo vệ các ngôn ngữ có nguy cơ mai một tại Nghệ An,
cần đồng bộ thực hiện các giải pháp từ điều tra phân loại,
nghiên cứu số hóa dữ liệu, đến đẩy mạnh giáo dục, truyền
thông và nâng cao ý thức tự giác bảo tồn của cộng đồng.
LUYỆN TẬP
1. Tìm một số ngôn ngữ các dân tộc ở Nghệ An
và cho biết từ toàn dân tương ứng.
2. Em hãy chọn và giới thiệu về một ngôn ngữ
dân tộc ở Nghệ An mà em biết.
 







Các ý kiến mới nhất