Bài 3-Một thời đại trong thi ca

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: đỗ công khương
Ngày gửi: 12h:00' 28-10-2024
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 804
Nguồn:
Người gửi: đỗ công khương
Ngày gửi: 12h:00' 28-10-2024
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 804
Số lượt thích:
0 người
VĂN BẢN 3:
MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
(Trích Thi nhân Việt Nam)
---Hoài Thanh---
1
01
02
03
04
KHỞI ĐỘNG
HÌNH THÀNH
KIẾN THỨC
LUYỆN TẬP
VẬN DỤNG
2
KHỞI
ĐỘNG
- Nhìn từ phương diện hình thức, em
hãy cho biết sự giống nhau và khác
nhau giữa hai bài thơ?
- Em có bao giờ băn khoăn về cái cũ,
cái mới, cũ mới cùng tồn tại và phát
triển?
3
MÙA XUÂN CHÍN
(Hàn Mặc Tử)
QUA ĐÈO NGANG
(Bà Huyện Thanh Quan)
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non,
nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây,
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây...
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
- “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”
4
* So sánh hai bài thơ:
-Về hình thức:
+ Thơ trung đại mang tính qui phạm, qui định
nghiêm về niêm, luật, hình ảnh mang nặng tính
ước lệ, công thức…
+ Thơ mới không sử dụng nhiều hệ thống ước lệ,
thoát khỏi lỗi diễn đạt theo qui tắc cứng nhắc,
ngôn ngữ gần với lời nói cá nhân, hình ảnh gần
với đời sống …
-Về nội dung:
+Thơ trung đại thường bày tỏ
nỗi lòng qua thiên nhiên, cái
nhìn hoài cổ, khuôn mẫu
+Thơ mới có cái nhìn phóng
khoáng, tự do bày tỏ “cái tôi”
cá nhân trước cuộc sống
Những băn khoăn phân biệt cái mới và cái cũ
+ Khó để phân biệt rạch ròi giữa cái cũ và cái mới.
+ Cái cũ được xem như quá khứ, cái mới được xem như
hiện tại. Cái mới được phát triển trên nền tảng cái cũ.
+ Cần phải có thái độ trân trọng cái cũ, phát triển cái
mới.
5
HÌNH THÀNH KIẾN
THỨC
6
I. Tìm hiểu chung
1.Tác giả:
- Tên khai sinh: Nguyễn Đức Nguyên
- Quê: Xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, Tỉnh Nghệ An.
- Các tác phẩm chính: SGK tr.88.
- Phong cách phê bình:thiên về thưởng thức, ghi nhận ấn tượng
=> Lối phê bình “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”.
=>Là nhà phê bình văn học xuất sắc của văn học Việt Nam
hiện đại
- Năm 2000 được truy tặng giải thưởng HCM về Văn học nghệ
thuật.
7
* Đóng góp: Đem đến cho văn học một phong
cách phê bình riêng đặc sắc:
+ Sự uyên bác về tri thức
+ Sự tinh tế trong cảm thụ
+ Ngòi bút phê bình tinh tế, nhẹ nhàng, giàu
chất thơ
8
Tác phẩm: “Thi nhân Việt Nam”
- Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
- Xuất xứ: Công trình biên khảo về phong
trào Thơ Mới 1932-1945, viết năm 1941,
hoàn thành năm 1942.
- Thể loại: Phê bình văn học
9
PHẦN I:
- Cung chiêu anh hồn Tản
Đà
- Tiểu luận: Một thời đại
trong thi ca
PHẦN II:
169 bài thơ của 46 nhà
thơ
PHẦN III
“Nhỏ to” - Lời tác giả
Nguồn gốc quá trình
phát triển của thơ
mới và sự phân biệt
thơ mới với thơ cũ.
Sự phân hoá của thơ
mới.
Đặc điểm và
thần thơ mới.
tinh
10
2.Tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”
- Xuất xứ:
+ Đặt ở đầu của cuốn “Thi nhân Việt Nam”;
+ Là công trình tổng kết về phong trào Thơ mới;
+ Là áng văn phê bình bất hủ.
- Vị trí: Đoạn trích trong SGK nằm ở phần
cuối của bài tiểu luận cùng tên mở đầu cho
“Thi nhân Việt Nam”.
11
- Bố cục:
3 phần
Đoạn 1: Từ đầu đến
… nhìn vào đại thể”
Nêu bật luận đề:
Tinh thân Thơ mới
Đoạn 2: “Cứ đại thể …
đến …tội nghiệp quá”
Phân tích, chứng minh, lí
giải về Tinh thần thơ mới
Chặt chẽ, logic, khoa học
Đoạn 3: Còn lại
Bi kịch và hướng
giải quyết bi kịch
12
II. Khám phá văn bản
1. Luận điểm 1: Con đường và nguyên tắc xác định tinh
thần Thơ mới
- Đọc
kĩ đoạn 1 và xác định câu chủ đề của
tiểu luận. Để làm rõ luận đề tác giả đã sử
dụng những luận điểm nào? Kể tên các
luận điểm?
- Tóm tắt quan điểm của tác giả được thể
hiện trong bài tiểu luận?
13
II. Khám phá văn bản
1. Luận điểm 1: Con đường và nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới
- Quan điểm chính được tác giả thể hiện trong văn bản: Tinh thần Thơ
mới.
-Các luận điểm chính:
+ LĐ 1: Con đường và nguyên tắc xác định Tinh thần Thơ
mới.
+ LĐ 2: Tinh thần Thơ mới
+ LĐ 3: Bi kịch cái tôi cá nhân và hướng giải quyết bi kịch
14
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1.Luận điểm 1. Con đường và nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới:
1.1. Luận cứ 1: Con đường không hề dễ dàng, khó khăn và phức tạp.
- Tác giả đưa ra hai giả thuyết:
+ Giả thuyết thứ nhất: “Giá các nhà thơ mới cứ viết những câu như hai câu
vừa trích trên này thì tiện cho ta biết mấy.
“Hôm nay tôi đã chết trong người
Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi.”
+ Giả thuyết thứ hai: “Giá trong thơ cũ chỉ có những trần ngôn sáo ngữ,
những bài thơ chúc tụng, những bài thơ vịnh hết cái này đến cái nọ, mà các
nhà thơ mới lại chỉ làm những bài kiệt tác thì cũng tiện cho ta biết mấy.”
15
- Dẫn chứng bằng cách so sánh:
+ Thơ Xuân Diệu:
“ Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;
Tình du khách: Thuyền qua không buộc chặt.”
ÞThơ mới: hình ảnh ước lệ cổ điển.
+ Thơ Hồ Xuân Hương / Bà Huyện Thanh Quan:
“ Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ!
Ai thấy ai mà chẳng ngẩn ngơ?”
=> Thơ cũ: giọng trẻ trung, hiện đại.
16
Cách nêu giả thuyết
Cách nêu dẫn chứng,
so sánh
* Con đường để xác định tinh thần của Thơ mới là rất khó khăn:
+ Ranh giới giữa Thơ mới và thơ cũ không phải lúc nào cũng rõ ràng, dễ
nhận ra.
+ Trong cả thơ mới và thơ cũ đều đan xen cả những bài hay, bài dở.
17
Nguyên tắc xác định tinh thần thơ mới
1.2. Luận cứ 2:Nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới:
-Nguyên tắc thứ nhất: “Khốn nỗi, cái tầm thường, cái lố lăng chẳng phải của riêng
một thời nào và muốn hiểu tinh thần thơ cho đúng đắn, phải sánh bài hay với bài hay
vậy.”
-> Phương pháp so sánh bài hay với bài hay.
-Nguyên tắc thứ hai: “Trời đất không phải dựng lên cùng một lần với thế hệ chúng
ta. Hôm nay đã phôi phai từ hôm qua và trong cái mới vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ.
Các thời đại vẫn liên tiếp cùng nhau và muốn rõ đặc sắc mỗi thời phải nhìn vào đại
thể.”
-> Cái nhìn bao quát, biện chứng nhiều chiều.
ÞNguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới: Chỉ căn cứ vào cái hay, không căn cứ
vào cái dở; chỉ căn cứ vào đại thể, không căn cứ vào tiểu tiết
ÞCách nêu luận điểm rõ ràng, mới mẻ, khoa học; dẫn chứng tiêu biểu, lập luận
theo lối quy nạp rất chặt chẽ, giàu sức thuyết phục.
18
2. Luận điểm 2. Tinh thần Thơ mới:
2.1. Luận cứ 1. Định nghĩa: Tinh thần Thơ mới bao gồm trong chữ tôi, bản chất
chữ tôi chính là quan niệm cá nhân được hiểu theo nghĩa tuyệt đối của nó.
“ Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa – hay thơ cũ – và th ời nay – hay th ơ m ới –
có thể gôm lại trong hai chữ tôi và ta. Ngày trước là thời chữ ta, bây giờ là th ời chữ
tôi. Nói giống nhau thì vẫn có chỗ giống nhau như chữ tôi vẫn giống chữ ta. Nhưng
chúng ta hãy tìm những chỗ khác nhau.”
Tinh thần của thời xưa – thơ cũ
Tinh thần của thời nay – thơ mới
Chữ ta
Chữ tôi
Cái chung
Ý thức cộng đồng
Cái riêng
Ý thức cá nhân
19
THƠ CŨ
Chủ yếu là chữ ta (Chữ tôi nếu có phải ẩn
mình sau chữ ta).
Thường đề cập đến những tình cảm chung,
mang tính cộng đồng, ít có bài thơ thể hiện
tính cá nhân, nếu có thì chưa quyết liệt mạnh
mẽ.
Chưa có ý thức tạo nên phong cách cá nhân
Ảnh hưởng của tư tưởng phương Đông
THƠ MỚI
Xuất hiện chữ tôi với ý nghĩa tuyệt đối của
nó -> Sự trỗi dậy, bùng nổ của ý thức cá
nhân
Người viết trực tiếp bày tỏ những cảm
xúc, tình cảm riêng tư cá nhân
Ý thức khẳng định tài năng, vị trí cá nhân
-> Xuất hiện hàng loạt phong cách thơ
Ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây
• Nhận xét chung:
- Tác giả đã bắt đúng mạch chính của 2 dòng chảy thi ca (thơ cũ – thơ mới;
thơ trung đại – thơ hiện đại)
- Phát hiện đúng cái gốc của sự khác biệt
- Cách thâu tóm ngắn gọn, rõ ràng
20
2.2. Luận cứ 2. Hành trình của cái tôi (cá nhân trong nghĩa tuyệt đối của nó):
“Ngày thứ nhất – ai biết đích ngày nào – chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt
Nam, nó thực bỡ ngỡ. Nó như lạc loài nơi đất khách. Bởi nó mang theo một
quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân...”
“Bởi vậy cho nên, khi chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó, xuất hiện giữa thi
đàn Việt Nam, bao nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu...”
“Nhưng, ngày một ngày hai, nó mất dần cái vẻ bỡ ngỡ. Nó được vô số người
quen. Người ta lại còn thấy nó đáng thương. Mà thật nó tội nghiệp quá.”
“Ngày thứ nhất”:
“Ngày một ngày hai”:
Bỡ ngỡ, lạc loài
Vô số người quen
Khó chịu, chướng mắt
Đáng thương, tội nghiệp
Hình tượng hóa cái tôi có dáng vẻ, điệu bộ, cảnh ngộ như một con người.
21
3. Luận điểm 3. Bi kịch cái tôi cá nhân và hướng giải quyết bi kịch:
3.1. Luận cứ 1.Bi kịch cái tôi cá nhân:
a.Bi kịch thứ nhất:
“Thi nhân ta cơ hồ đã mất hết cái cốt cách hiên ngang ngày trước. Chữ ta với họ
to rộng quá. Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ tôi.................
Nhưng ta trách gì Xuân Diệu! Xuân Diệu, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời
đại, chỉ nói cái khổ sở, cái thảm hại của hết thảy chúng ta.”
- Bi kịch mất hết cốt cách hiên ngang ngày trước:
+ Không có khí phách ngang tàng như Lí Bạch
+ Không có lòng tự trọng sinh cảnh cơ hàn như Nguyễn Công Trứ
+ Rên rỉ, khổ sở, thảm hại.
22
+ Ví dụ, so sánh:
NGUYỄN CÔNG TRỨ
Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch,
người quân tử ăn chẳng cầu no
Đêm năm canh an giấc ngáy kho kho,
đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ
Cười trước
cảnh nghèo
XUÂN DIỆU:
Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ
Khóc than
trước cảnh nghèo
Cái Tôi
thơ mới
yếu đuối,
khổ sở,
thảm hại
23
b. Bi kịch thứ hai: “Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi
tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta
phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử,
Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu
không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về
hồn ta cùng Huy Cận.”
Bi kịch “mất bề
rộng”
“Ta đi tìm bề sâu”
“Càng đi sâu càng
lạnh”
Không tìm được
tiếng nói chung với
cuộc đời, không tìm
được sự giao thiệp.
Trốn vào ý thức cá
nhân, thoát li cuộc đời
theo các xu hướng
thoát li.
Càng muốn vượt
thoát thì cuối cùng
càng bế tắc, cô đơn.
24
Thế Lữ
Lưu Trọng Lư
Chế Lan Viên
Hàn Mặc Tử
Xuân Diệu
Huy Cận
Lên tiên
Phiêu lưu trong
trường tình
Điên cuồng
Đắm say
Ngẩn ngơ buồn
Động tiên
khép
Tình yêu
không
bền
Điên rồi
tỉnh
Vẫn
bơ vơ
Sầu
=>Buồn, cô đơn, bế tắc.
=> Điệp từ, liệt kê, diễn
đạt tinh tế, tài hoa, lập
luận chặt chẽ, giàu cảm
xúc, hấp dẫn lôi cuốn
người đọc.
=> Chính sự thoát li
theo các xu hướng đã
đưa đến sự “nở rộ”
của phong cách thơ.
25
c. Bi kịch thứ ba: “Thời trước, dầu bị oan khuất như Cao Bá Nhạ, dầu bị khi bỏ như
cô phụ trên bến Tầm Dương, vẫn còn có thể nương tựa vào một cái gì không di
dịch. Ngày nay lớp thành kiến phủ trên linh hồn đã tiêu tan cùng lớp hoa hoè phú
trên thi tử. Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta. Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn
vào đó ta thấy thiếu một điều, một điều cần hơn trăm nghìn điều khác: một lòng
tin đầy đủ.”
-> Bi kịch thiếu một lòng tin đầy đủ vào thực tại, tìm cách thoát li nhưng lại rơi
vào bi kịch không thể nương tựa vào một cái gì đó, không thể di dịch như thuở
trước.
26
3.2. Luận cứ 2.Giải quyết bi kịch:
“Bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt. Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia
sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt. Tiếng Việt, họ
nghĩ, là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua. Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn tấm
hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng.........”
-Điệp cấu trúc “chưa bao giờ...”, giọng văn đồng cảm, chia sẻ.
-Giải pháp cho những bi kịch trên: gửi tình yêu vào tiếng Việt
-> Đánh giá các giải pháp:
-Tấm lòng trân trọng, tình yêu tha thiết với tiếng Việt
-Thể hiện sức sống lâu bền của tiếng Việt
-Tạo ra mối liên hệ giữa tiền nhân – hậu thế
=> Tấm lòng yêu nước của các nhà thơ mới.
27
III. TỔNG KẾT
1. Nghệ thuật:
- Sự kết hợp hài hoà giữa tính khoa học và tính nghệ thuật
+ Tính khoa học: Hệ thống luận điểm chuẩn xác, mới mẻ, sắp xếp mạch lạc. Dẫn chứng
chọn lọc, lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Sử dụng biện pháp so sánh đối chiếu ở cấp độ
phù hợp, mang lại hiệu quả.
+ Tính nghệ thuật: Lời văn thấm đẫm cảm xúc, giọng điệu thay đổi linh hoạt, cảm xúc
người viết nồng nhiệt, gây truyền cảm, đồng cảm cao.
=> Một cách viết văn nghị luận văn chương dễ hiểu mà rất tài hoa, tinh tế, hấp dẫn.
2. Nội dung:
- Khẳng định sự thắng lợi của Thơ mới, ủng hộ mặt tích cực, lí giải bi kịch cái Tôi, cách
giải quyết bi kịch của cái tôi trong Thơ mới
- Cách nhìn nhận đúng đắn, khoa học vấn đề Thơ mới, cái nhìn tiến bộ xuất phát từ chính
tâm hồn người viết.
28
Nhiệm vụ:
LUYỆN
TẬP
Theo quan niệm của Hoài Thanh, chữ tôi và ta trong Thơ mới
và thơ cũ có gì khác nhau?
29
Sự khác
biệt cơ
bản giữa
"cái tôi"
Thơ mới
và "cái
ta" thơ
cũ là ở
chỗ:
LUYỆN
TẬP
+ Thơ cũ thường nói lên những suy tư, những cảm xúc
chung của cả lớp người, loại người, kiểu người. "Cái tôi"
nếu có cũng mượn bóng "cái ta" chung ấy.
+ "Cái tôi" trong Thơ mới, nó đã đứng một mình, tự bộc
bạch những gì sâu kín ngay bên trong bản thể của nó.
+ Chữ “tôi” và chữ “ta” thể hiện ý chí bản thân mình, chữ
“tôi” mang ý nghĩa tuyệt đối của nó.
+ Chữ “ta” trong thơ cũ là cá nhân nhận thức gắn với cộng
đồng, đoàn thể.
30
VẬN
DỤNG
Qua văn bản, em hiểu được những gì về phong trào Thơ mới và lối
phê bình của Hoài Thanh?|
31
- Hiểu biết về phong trào Thơ mới
VẬN
DỤNG
+ Theo Hoài Thanh, khái niệm Thơ mới phải được hiểu là mới cả về mặt nội dung và hình thức, mà trước
hết là về nội dung, thơ ca Việt Nam đi từ thời cổ điển sang hiện đại là đi từ chữ “ta” đến chữ “tôi” (Một
thời đại trong thi ca).
+ Ban đầu, Thơ mới được hiểu là thơ tự do nhưng đến chặng phát triển đỉnh cao của nó, khái niệm về Thơ
mới được bổ sung và hoàn chỉnh.
+ Thơ mới phản ánh cái “Tôi” cá nhân của người nghệ sĩ với tất cả các cung bậc phong phú đa dạng,
phức tạp của nó thông qua hình thức nghệ thuật có nhiều đổi mới, cách tân nhằm phát huy cá tính sáng
tạo độc đáo của mỗi người nghệ sĩ.
| - Lối văn phê bình của Hoài Thanh
+ Đặt vấn đề ngắn gọn, rõ ràng mang tinh minh triết.
+ Dẫn dắt vấn đề khoa học, khéo léo và dễ hiểu, đảm bảo liền mạch trong hệ thống luận điểm.
+ Câu văn nghị luận giàu chất thơ, có sức gợi cảm xúc, gây hứng thú cho người đọc.
+ Nghệ thuật lí luận chặt chẽ, thấu đáo khoa học.
32
KẾT NỐI: ĐOCVIẾT
Yêu cầu: Hoài Thanh cho rằng: Các nhà thơ của
phong trào Thơ mới đã “dồn tình yêu quê hương
trong tình yêu tiếng Việt”. Viết đoạn văn (khoảng
150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến này..
33
Rubrics đánh giá đoạn văn
Tiêu chí
Mô tả tiêu chí
Điểm
Hình thức - Đảm bảo hình thức và dung lượng của đoạn văn (khoảng 150 0,5
chữ)
- Không đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng của đoạn 0
văn
Nội dung
Tóm tắt những luận điểm, luận cứ, luận chứng mà bạn cho là thú
vị sau khi đọc văn bản “Một thời đại trong thi ca”
Giới thiệu cuốn sách “Thi nhân Việt Nam
2
Tóm tắt các luận điểm, luận cứ, luận chứng theo trình tự: giới 6
thiệu luận đề, triển khai các luận điểm, luận cư, luận chứng…
Chính tả, Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
0,5
ngữ pháp
Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về luận đề Tinh thần Thơ mới; có cách 1,0
diễn đạt mới mẻ, sang tạo, giàu sức thuyết phục, phối hợp các
34
phương thức biểu đạt,...
Gợi ý đoạn văn:
Tình yêu quê hương đất nước là một nội dung mang phạm trù rộng, mỗi con người sinh ra trong
mình đều mang một tình cảm sâu nặng với quê hương. Thơ mới ra đời trong thời buổi nhiễu nhương
của xã hội, trong cuộc mưa Âu gió Mỹ hỗn loạn, xã hội thượng tầng bất ổn, đời sống người dân bơ vơ
lạc lõng. Trước tình cảnh như vậy mỗi trí thức tìm cho mình một hướng rẽ riêng, người đấu tranh trực
diện; kẻ ẩn náu thân mình bộc lộ tình yêu đất nước thầm kín. Trong tiểu luận phê bình “Một thời đại
trong thi ca” khi nhận xét về phong trào Thơ mới, Hoài Thanh cho rằng: “Các nhà thơ phong trào
Thơ mới đã “dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt”. Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy
giờ, có nhiều cách biểu lộ lòng yêu nước.... Các nhà Thơ mới đành gửi lòng yêu nước thương nòi của
mình vào tình yêu tiếng Việt. Họ dùng tiếng nói của dân tộc để sáng tác thơ, duy trì tiếng nói và các
thể thơ mang hồn cốt dân tộc. Qua thơ, họ ngợi ca thiên nhiên đất nước, gửi gắm nỗi buồn mất nước,
các nhà thơ mới đã phát triển, đổi mới ngôn từ, làm cho tiếng Việt trở nên rất phong phú, trong sáng,
tinh tế, hiện đại. Trong khi văn học trung đại sáng tác văn học bằng chữ Hán, chữ Nôm (sáng tạo từ
chữ Hán) và các thể thơ chủ yếu là Đường luật, thì các nhà Thơ mới làm thơ bằng tiếng Việt, chữ
quốc ngữ, tôn vinh các thể thơ truyền thống như: thơ lục bát, thơ bốn chữ, thơ năm chữ... Họ coi tiếng
nói của cha ông là là hương hoa quý giá, mang hồn thiêng dân tộc, nên đã trau chuốt từ ngữ, hình
ảnh. Tình yêu tiếng Việt, yêu nghệ thuật thơ ca, yêu bản sắc văn hóa dân tộc của các nhà Thơ mới rất
phong phú sâu sắc. Khi không thể thi thố tài năng cũng không kinh bang tế thế giúp đời trị quốc được
35
thì tình yêu tiếng Việt được xem là một biểu hiện tinh tế của tình yêu quê hương đất nước.
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
- Vẽ sơ đồ tư duy về các đơn vị kiến thức của bài học hoặc vẽ
tranh hình ảnh ấn tượng về bài học.
- Tìm đọc thêm các văn bản Nghị luận văn học
- Chuẩn bị bài mới
36
MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
(Trích Thi nhân Việt Nam)
---Hoài Thanh---
1
01
02
03
04
KHỞI ĐỘNG
HÌNH THÀNH
KIẾN THỨC
LUYỆN TẬP
VẬN DỤNG
2
KHỞI
ĐỘNG
- Nhìn từ phương diện hình thức, em
hãy cho biết sự giống nhau và khác
nhau giữa hai bài thơ?
- Em có bao giờ băn khoăn về cái cũ,
cái mới, cũ mới cùng tồn tại và phát
triển?
3
MÙA XUÂN CHÍN
(Hàn Mặc Tử)
QUA ĐÈO NGANG
(Bà Huyện Thanh Quan)
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non,
nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
Trong làn nắng ửng: khói mơ tan,
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây,
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây...
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng:
- “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”
4
* So sánh hai bài thơ:
-Về hình thức:
+ Thơ trung đại mang tính qui phạm, qui định
nghiêm về niêm, luật, hình ảnh mang nặng tính
ước lệ, công thức…
+ Thơ mới không sử dụng nhiều hệ thống ước lệ,
thoát khỏi lỗi diễn đạt theo qui tắc cứng nhắc,
ngôn ngữ gần với lời nói cá nhân, hình ảnh gần
với đời sống …
-Về nội dung:
+Thơ trung đại thường bày tỏ
nỗi lòng qua thiên nhiên, cái
nhìn hoài cổ, khuôn mẫu
+Thơ mới có cái nhìn phóng
khoáng, tự do bày tỏ “cái tôi”
cá nhân trước cuộc sống
Những băn khoăn phân biệt cái mới và cái cũ
+ Khó để phân biệt rạch ròi giữa cái cũ và cái mới.
+ Cái cũ được xem như quá khứ, cái mới được xem như
hiện tại. Cái mới được phát triển trên nền tảng cái cũ.
+ Cần phải có thái độ trân trọng cái cũ, phát triển cái
mới.
5
HÌNH THÀNH KIẾN
THỨC
6
I. Tìm hiểu chung
1.Tác giả:
- Tên khai sinh: Nguyễn Đức Nguyên
- Quê: Xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, Tỉnh Nghệ An.
- Các tác phẩm chính: SGK tr.88.
- Phong cách phê bình:thiên về thưởng thức, ghi nhận ấn tượng
=> Lối phê bình “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”.
=>Là nhà phê bình văn học xuất sắc của văn học Việt Nam
hiện đại
- Năm 2000 được truy tặng giải thưởng HCM về Văn học nghệ
thuật.
7
* Đóng góp: Đem đến cho văn học một phong
cách phê bình riêng đặc sắc:
+ Sự uyên bác về tri thức
+ Sự tinh tế trong cảm thụ
+ Ngòi bút phê bình tinh tế, nhẹ nhàng, giàu
chất thơ
8
Tác phẩm: “Thi nhân Việt Nam”
- Tác giả: Hoài Thanh, Hoài Chân
- Xuất xứ: Công trình biên khảo về phong
trào Thơ Mới 1932-1945, viết năm 1941,
hoàn thành năm 1942.
- Thể loại: Phê bình văn học
9
PHẦN I:
- Cung chiêu anh hồn Tản
Đà
- Tiểu luận: Một thời đại
trong thi ca
PHẦN II:
169 bài thơ của 46 nhà
thơ
PHẦN III
“Nhỏ to” - Lời tác giả
Nguồn gốc quá trình
phát triển của thơ
mới và sự phân biệt
thơ mới với thơ cũ.
Sự phân hoá của thơ
mới.
Đặc điểm và
thần thơ mới.
tinh
10
2.Tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”
- Xuất xứ:
+ Đặt ở đầu của cuốn “Thi nhân Việt Nam”;
+ Là công trình tổng kết về phong trào Thơ mới;
+ Là áng văn phê bình bất hủ.
- Vị trí: Đoạn trích trong SGK nằm ở phần
cuối của bài tiểu luận cùng tên mở đầu cho
“Thi nhân Việt Nam”.
11
- Bố cục:
3 phần
Đoạn 1: Từ đầu đến
… nhìn vào đại thể”
Nêu bật luận đề:
Tinh thân Thơ mới
Đoạn 2: “Cứ đại thể …
đến …tội nghiệp quá”
Phân tích, chứng minh, lí
giải về Tinh thần thơ mới
Chặt chẽ, logic, khoa học
Đoạn 3: Còn lại
Bi kịch và hướng
giải quyết bi kịch
12
II. Khám phá văn bản
1. Luận điểm 1: Con đường và nguyên tắc xác định tinh
thần Thơ mới
- Đọc
kĩ đoạn 1 và xác định câu chủ đề của
tiểu luận. Để làm rõ luận đề tác giả đã sử
dụng những luận điểm nào? Kể tên các
luận điểm?
- Tóm tắt quan điểm của tác giả được thể
hiện trong bài tiểu luận?
13
II. Khám phá văn bản
1. Luận điểm 1: Con đường và nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới
- Quan điểm chính được tác giả thể hiện trong văn bản: Tinh thần Thơ
mới.
-Các luận điểm chính:
+ LĐ 1: Con đường và nguyên tắc xác định Tinh thần Thơ
mới.
+ LĐ 2: Tinh thần Thơ mới
+ LĐ 3: Bi kịch cái tôi cá nhân và hướng giải quyết bi kịch
14
II. KHÁM PHÁ VĂN BẢN
1.Luận điểm 1. Con đường và nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới:
1.1. Luận cứ 1: Con đường không hề dễ dàng, khó khăn và phức tạp.
- Tác giả đưa ra hai giả thuyết:
+ Giả thuyết thứ nhất: “Giá các nhà thơ mới cứ viết những câu như hai câu
vừa trích trên này thì tiện cho ta biết mấy.
“Hôm nay tôi đã chết trong người
Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi.”
+ Giả thuyết thứ hai: “Giá trong thơ cũ chỉ có những trần ngôn sáo ngữ,
những bài thơ chúc tụng, những bài thơ vịnh hết cái này đến cái nọ, mà các
nhà thơ mới lại chỉ làm những bài kiệt tác thì cũng tiện cho ta biết mấy.”
15
- Dẫn chứng bằng cách so sánh:
+ Thơ Xuân Diệu:
“ Người giai nhân: bến đợi dưới cây già;
Tình du khách: Thuyền qua không buộc chặt.”
ÞThơ mới: hình ảnh ước lệ cổ điển.
+ Thơ Hồ Xuân Hương / Bà Huyện Thanh Quan:
“ Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ!
Ai thấy ai mà chẳng ngẩn ngơ?”
=> Thơ cũ: giọng trẻ trung, hiện đại.
16
Cách nêu giả thuyết
Cách nêu dẫn chứng,
so sánh
* Con đường để xác định tinh thần của Thơ mới là rất khó khăn:
+ Ranh giới giữa Thơ mới và thơ cũ không phải lúc nào cũng rõ ràng, dễ
nhận ra.
+ Trong cả thơ mới và thơ cũ đều đan xen cả những bài hay, bài dở.
17
Nguyên tắc xác định tinh thần thơ mới
1.2. Luận cứ 2:Nguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới:
-Nguyên tắc thứ nhất: “Khốn nỗi, cái tầm thường, cái lố lăng chẳng phải của riêng
một thời nào và muốn hiểu tinh thần thơ cho đúng đắn, phải sánh bài hay với bài hay
vậy.”
-> Phương pháp so sánh bài hay với bài hay.
-Nguyên tắc thứ hai: “Trời đất không phải dựng lên cùng một lần với thế hệ chúng
ta. Hôm nay đã phôi phai từ hôm qua và trong cái mới vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ.
Các thời đại vẫn liên tiếp cùng nhau và muốn rõ đặc sắc mỗi thời phải nhìn vào đại
thể.”
-> Cái nhìn bao quát, biện chứng nhiều chiều.
ÞNguyên tắc xác định tinh thần Thơ mới: Chỉ căn cứ vào cái hay, không căn cứ
vào cái dở; chỉ căn cứ vào đại thể, không căn cứ vào tiểu tiết
ÞCách nêu luận điểm rõ ràng, mới mẻ, khoa học; dẫn chứng tiêu biểu, lập luận
theo lối quy nạp rất chặt chẽ, giàu sức thuyết phục.
18
2. Luận điểm 2. Tinh thần Thơ mới:
2.1. Luận cứ 1. Định nghĩa: Tinh thần Thơ mới bao gồm trong chữ tôi, bản chất
chữ tôi chính là quan niệm cá nhân được hiểu theo nghĩa tuyệt đối của nó.
“ Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa – hay thơ cũ – và th ời nay – hay th ơ m ới –
có thể gôm lại trong hai chữ tôi và ta. Ngày trước là thời chữ ta, bây giờ là th ời chữ
tôi. Nói giống nhau thì vẫn có chỗ giống nhau như chữ tôi vẫn giống chữ ta. Nhưng
chúng ta hãy tìm những chỗ khác nhau.”
Tinh thần của thời xưa – thơ cũ
Tinh thần của thời nay – thơ mới
Chữ ta
Chữ tôi
Cái chung
Ý thức cộng đồng
Cái riêng
Ý thức cá nhân
19
THƠ CŨ
Chủ yếu là chữ ta (Chữ tôi nếu có phải ẩn
mình sau chữ ta).
Thường đề cập đến những tình cảm chung,
mang tính cộng đồng, ít có bài thơ thể hiện
tính cá nhân, nếu có thì chưa quyết liệt mạnh
mẽ.
Chưa có ý thức tạo nên phong cách cá nhân
Ảnh hưởng của tư tưởng phương Đông
THƠ MỚI
Xuất hiện chữ tôi với ý nghĩa tuyệt đối của
nó -> Sự trỗi dậy, bùng nổ của ý thức cá
nhân
Người viết trực tiếp bày tỏ những cảm
xúc, tình cảm riêng tư cá nhân
Ý thức khẳng định tài năng, vị trí cá nhân
-> Xuất hiện hàng loạt phong cách thơ
Ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây
• Nhận xét chung:
- Tác giả đã bắt đúng mạch chính của 2 dòng chảy thi ca (thơ cũ – thơ mới;
thơ trung đại – thơ hiện đại)
- Phát hiện đúng cái gốc của sự khác biệt
- Cách thâu tóm ngắn gọn, rõ ràng
20
2.2. Luận cứ 2. Hành trình của cái tôi (cá nhân trong nghĩa tuyệt đối của nó):
“Ngày thứ nhất – ai biết đích ngày nào – chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt
Nam, nó thực bỡ ngỡ. Nó như lạc loài nơi đất khách. Bởi nó mang theo một
quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân...”
“Bởi vậy cho nên, khi chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó, xuất hiện giữa thi
đàn Việt Nam, bao nhiêu con mắt nhìn nó một cách khó chịu...”
“Nhưng, ngày một ngày hai, nó mất dần cái vẻ bỡ ngỡ. Nó được vô số người
quen. Người ta lại còn thấy nó đáng thương. Mà thật nó tội nghiệp quá.”
“Ngày thứ nhất”:
“Ngày một ngày hai”:
Bỡ ngỡ, lạc loài
Vô số người quen
Khó chịu, chướng mắt
Đáng thương, tội nghiệp
Hình tượng hóa cái tôi có dáng vẻ, điệu bộ, cảnh ngộ như một con người.
21
3. Luận điểm 3. Bi kịch cái tôi cá nhân và hướng giải quyết bi kịch:
3.1. Luận cứ 1.Bi kịch cái tôi cá nhân:
a.Bi kịch thứ nhất:
“Thi nhân ta cơ hồ đã mất hết cái cốt cách hiên ngang ngày trước. Chữ ta với họ
to rộng quá. Tâm hồn của họ chỉ vừa thu trong khuôn khổ chữ tôi.................
Nhưng ta trách gì Xuân Diệu! Xuân Diệu, nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời
đại, chỉ nói cái khổ sở, cái thảm hại của hết thảy chúng ta.”
- Bi kịch mất hết cốt cách hiên ngang ngày trước:
+ Không có khí phách ngang tàng như Lí Bạch
+ Không có lòng tự trọng sinh cảnh cơ hàn như Nguyễn Công Trứ
+ Rên rỉ, khổ sở, thảm hại.
22
+ Ví dụ, so sánh:
NGUYỄN CÔNG TRỨ
Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch,
người quân tử ăn chẳng cầu no
Đêm năm canh an giấc ngáy kho kho,
đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ
Cười trước
cảnh nghèo
XUÂN DIỆU:
Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt
Cơm áo không đùa với khách thơ
Khóc than
trước cảnh nghèo
Cái Tôi
thơ mới
yếu đuối,
khổ sở,
thảm hại
23
b. Bi kịch thứ hai: “Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi
tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta
phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử,
Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu
không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về
hồn ta cùng Huy Cận.”
Bi kịch “mất bề
rộng”
“Ta đi tìm bề sâu”
“Càng đi sâu càng
lạnh”
Không tìm được
tiếng nói chung với
cuộc đời, không tìm
được sự giao thiệp.
Trốn vào ý thức cá
nhân, thoát li cuộc đời
theo các xu hướng
thoát li.
Càng muốn vượt
thoát thì cuối cùng
càng bế tắc, cô đơn.
24
Thế Lữ
Lưu Trọng Lư
Chế Lan Viên
Hàn Mặc Tử
Xuân Diệu
Huy Cận
Lên tiên
Phiêu lưu trong
trường tình
Điên cuồng
Đắm say
Ngẩn ngơ buồn
Động tiên
khép
Tình yêu
không
bền
Điên rồi
tỉnh
Vẫn
bơ vơ
Sầu
=>Buồn, cô đơn, bế tắc.
=> Điệp từ, liệt kê, diễn
đạt tinh tế, tài hoa, lập
luận chặt chẽ, giàu cảm
xúc, hấp dẫn lôi cuốn
người đọc.
=> Chính sự thoát li
theo các xu hướng đã
đưa đến sự “nở rộ”
của phong cách thơ.
25
c. Bi kịch thứ ba: “Thời trước, dầu bị oan khuất như Cao Bá Nhạ, dầu bị khi bỏ như
cô phụ trên bến Tầm Dương, vẫn còn có thể nương tựa vào một cái gì không di
dịch. Ngày nay lớp thành kiến phủ trên linh hồn đã tiêu tan cùng lớp hoa hoè phú
trên thi tử. Phương Tây đã giao trả hồn ta lại cho ta. Nhưng ta bàng hoàng vì nhìn
vào đó ta thấy thiếu một điều, một điều cần hơn trăm nghìn điều khác: một lòng
tin đầy đủ.”
-> Bi kịch thiếu một lòng tin đầy đủ vào thực tại, tìm cách thoát li nhưng lại rơi
vào bi kịch không thể nương tựa vào một cái gì đó, không thể di dịch như thuở
trước.
26
3.2. Luận cứ 2.Giải quyết bi kịch:
“Bi kịch ấy họ gửi cả vào tiếng Việt. Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia
sẻ vui buồn với cha ông. Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt. Tiếng Việt, họ
nghĩ, là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua. Đến lượt họ, họ cũng muốn mượn tấm
hồn bạch chung để gửi nỗi băn khoăn riêng.........”
-Điệp cấu trúc “chưa bao giờ...”, giọng văn đồng cảm, chia sẻ.
-Giải pháp cho những bi kịch trên: gửi tình yêu vào tiếng Việt
-> Đánh giá các giải pháp:
-Tấm lòng trân trọng, tình yêu tha thiết với tiếng Việt
-Thể hiện sức sống lâu bền của tiếng Việt
-Tạo ra mối liên hệ giữa tiền nhân – hậu thế
=> Tấm lòng yêu nước của các nhà thơ mới.
27
III. TỔNG KẾT
1. Nghệ thuật:
- Sự kết hợp hài hoà giữa tính khoa học và tính nghệ thuật
+ Tính khoa học: Hệ thống luận điểm chuẩn xác, mới mẻ, sắp xếp mạch lạc. Dẫn chứng
chọn lọc, lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Sử dụng biện pháp so sánh đối chiếu ở cấp độ
phù hợp, mang lại hiệu quả.
+ Tính nghệ thuật: Lời văn thấm đẫm cảm xúc, giọng điệu thay đổi linh hoạt, cảm xúc
người viết nồng nhiệt, gây truyền cảm, đồng cảm cao.
=> Một cách viết văn nghị luận văn chương dễ hiểu mà rất tài hoa, tinh tế, hấp dẫn.
2. Nội dung:
- Khẳng định sự thắng lợi của Thơ mới, ủng hộ mặt tích cực, lí giải bi kịch cái Tôi, cách
giải quyết bi kịch của cái tôi trong Thơ mới
- Cách nhìn nhận đúng đắn, khoa học vấn đề Thơ mới, cái nhìn tiến bộ xuất phát từ chính
tâm hồn người viết.
28
Nhiệm vụ:
LUYỆN
TẬP
Theo quan niệm của Hoài Thanh, chữ tôi và ta trong Thơ mới
và thơ cũ có gì khác nhau?
29
Sự khác
biệt cơ
bản giữa
"cái tôi"
Thơ mới
và "cái
ta" thơ
cũ là ở
chỗ:
LUYỆN
TẬP
+ Thơ cũ thường nói lên những suy tư, những cảm xúc
chung của cả lớp người, loại người, kiểu người. "Cái tôi"
nếu có cũng mượn bóng "cái ta" chung ấy.
+ "Cái tôi" trong Thơ mới, nó đã đứng một mình, tự bộc
bạch những gì sâu kín ngay bên trong bản thể của nó.
+ Chữ “tôi” và chữ “ta” thể hiện ý chí bản thân mình, chữ
“tôi” mang ý nghĩa tuyệt đối của nó.
+ Chữ “ta” trong thơ cũ là cá nhân nhận thức gắn với cộng
đồng, đoàn thể.
30
VẬN
DỤNG
Qua văn bản, em hiểu được những gì về phong trào Thơ mới và lối
phê bình của Hoài Thanh?|
31
- Hiểu biết về phong trào Thơ mới
VẬN
DỤNG
+ Theo Hoài Thanh, khái niệm Thơ mới phải được hiểu là mới cả về mặt nội dung và hình thức, mà trước
hết là về nội dung, thơ ca Việt Nam đi từ thời cổ điển sang hiện đại là đi từ chữ “ta” đến chữ “tôi” (Một
thời đại trong thi ca).
+ Ban đầu, Thơ mới được hiểu là thơ tự do nhưng đến chặng phát triển đỉnh cao của nó, khái niệm về Thơ
mới được bổ sung và hoàn chỉnh.
+ Thơ mới phản ánh cái “Tôi” cá nhân của người nghệ sĩ với tất cả các cung bậc phong phú đa dạng,
phức tạp của nó thông qua hình thức nghệ thuật có nhiều đổi mới, cách tân nhằm phát huy cá tính sáng
tạo độc đáo của mỗi người nghệ sĩ.
| - Lối văn phê bình của Hoài Thanh
+ Đặt vấn đề ngắn gọn, rõ ràng mang tinh minh triết.
+ Dẫn dắt vấn đề khoa học, khéo léo và dễ hiểu, đảm bảo liền mạch trong hệ thống luận điểm.
+ Câu văn nghị luận giàu chất thơ, có sức gợi cảm xúc, gây hứng thú cho người đọc.
+ Nghệ thuật lí luận chặt chẽ, thấu đáo khoa học.
32
KẾT NỐI: ĐOCVIẾT
Yêu cầu: Hoài Thanh cho rằng: Các nhà thơ của
phong trào Thơ mới đã “dồn tình yêu quê hương
trong tình yêu tiếng Việt”. Viết đoạn văn (khoảng
150 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến này..
33
Rubrics đánh giá đoạn văn
Tiêu chí
Mô tả tiêu chí
Điểm
Hình thức - Đảm bảo hình thức và dung lượng của đoạn văn (khoảng 150 0,5
chữ)
- Không đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng của đoạn 0
văn
Nội dung
Tóm tắt những luận điểm, luận cứ, luận chứng mà bạn cho là thú
vị sau khi đọc văn bản “Một thời đại trong thi ca”
Giới thiệu cuốn sách “Thi nhân Việt Nam
2
Tóm tắt các luận điểm, luận cứ, luận chứng theo trình tự: giới 6
thiệu luận đề, triển khai các luận điểm, luận cư, luận chứng…
Chính tả, Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
0,5
ngữ pháp
Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về luận đề Tinh thần Thơ mới; có cách 1,0
diễn đạt mới mẻ, sang tạo, giàu sức thuyết phục, phối hợp các
34
phương thức biểu đạt,...
Gợi ý đoạn văn:
Tình yêu quê hương đất nước là một nội dung mang phạm trù rộng, mỗi con người sinh ra trong
mình đều mang một tình cảm sâu nặng với quê hương. Thơ mới ra đời trong thời buổi nhiễu nhương
của xã hội, trong cuộc mưa Âu gió Mỹ hỗn loạn, xã hội thượng tầng bất ổn, đời sống người dân bơ vơ
lạc lõng. Trước tình cảnh như vậy mỗi trí thức tìm cho mình một hướng rẽ riêng, người đấu tranh trực
diện; kẻ ẩn náu thân mình bộc lộ tình yêu đất nước thầm kín. Trong tiểu luận phê bình “Một thời đại
trong thi ca” khi nhận xét về phong trào Thơ mới, Hoài Thanh cho rằng: “Các nhà thơ phong trào
Thơ mới đã “dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt”. Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy
giờ, có nhiều cách biểu lộ lòng yêu nước.... Các nhà Thơ mới đành gửi lòng yêu nước thương nòi của
mình vào tình yêu tiếng Việt. Họ dùng tiếng nói của dân tộc để sáng tác thơ, duy trì tiếng nói và các
thể thơ mang hồn cốt dân tộc. Qua thơ, họ ngợi ca thiên nhiên đất nước, gửi gắm nỗi buồn mất nước,
các nhà thơ mới đã phát triển, đổi mới ngôn từ, làm cho tiếng Việt trở nên rất phong phú, trong sáng,
tinh tế, hiện đại. Trong khi văn học trung đại sáng tác văn học bằng chữ Hán, chữ Nôm (sáng tạo từ
chữ Hán) và các thể thơ chủ yếu là Đường luật, thì các nhà Thơ mới làm thơ bằng tiếng Việt, chữ
quốc ngữ, tôn vinh các thể thơ truyền thống như: thơ lục bát, thơ bốn chữ, thơ năm chữ... Họ coi tiếng
nói của cha ông là là hương hoa quý giá, mang hồn thiêng dân tộc, nên đã trau chuốt từ ngữ, hình
ảnh. Tình yêu tiếng Việt, yêu nghệ thuật thơ ca, yêu bản sắc văn hóa dân tộc của các nhà Thơ mới rất
phong phú sâu sắc. Khi không thể thi thố tài năng cũng không kinh bang tế thế giúp đời trị quốc được
35
thì tình yêu tiếng Việt được xem là một biểu hiện tinh tế của tình yêu quê hương đất nước.
HƯỚNG DẪN TỰ HỌC
- Vẽ sơ đồ tư duy về các đơn vị kiến thức của bài học hoặc vẽ
tranh hình ảnh ấn tượng về bài học.
- Tìm đọc thêm các văn bản Nghị luận văn học
- Chuẩn bị bài mới
36
 







Các ý kiến mới nhất