Nghề trồng rừng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lê thành sơn
Ngày gửi: 09h:13' 14-11-2021
Dung lượng: 106.9 KB
Số lượt tải: 25
Nguồn:
Người gửi: lê thành sơn
Ngày gửi: 09h:13' 14-11-2021
Dung lượng: 106.9 KB
Số lượt tải: 25
Số lượt thích:
0 người
sản xuất giống cây rừng
bằng phưUơng pháp nhân giống vô tính
(giâm hom, nuôi cấy mô tế bào)
I. Giâm hom
1. í nghĩa của nhân giống bằng giâm hom
- Nhân giống bằng giâm hom là 1 trong nh?ng phuương pháp có hiệu quả nhất cho chọn giống cây rừng.
- Nhân giống bằng giâm hom là phương pháp đang đưuợc áp dụng phổ biến để nhân giống các dòng vô tính có nang suất cao.
2. Những đặc điểm chính của nhân giống bằng giâm hom
- Nhân giống bằng giâm hom là hỡnh thức truyền đạt các biến dị di truyền của cây mẹ cho cây con. Cây hom không nh?ng gi? đuược nh?ng đặc tính hỡnh thái của cây mẹ, gi? đưuợc các biến dị di truyền mong muốn đưuợc thể hiện trong ki?u hỡnh của cây mẹ, mà còn gi? đưuợc các biến dị di truyền về sinh truưởng nhanh và cho nang suất cao của chúng.
- Nhân giống bằng giâm hom gi? đuược ưuu thế lai của đời F1 và khắc phục hiện tượng phân ly ở đời F2.
- Nhân giống bằng giâm hom rút ngắn đưuợc chu k? sinh sản, rút ngắn đưuợc thời gian thực hiện chương trỡnh cải thiện giống cây rừng.
- Nhân giống bằng giâm hom là 1 phưuơng pháp nhân nhanh các loài quý hiếm đang bị khai thác cạn kiệt, là 1 cách để góp phần vào bảo tồn nguồn gen cây rừng.
- Nhân giống bằng giâm hom là phương pháp có thể bổ sung cho các loại cây khó thu hái và bảo quản hạt.
- Nhân giống bằng giâm hom là phương pháp dùng 1 phần lá, 1 đoạn thân, đoạn cành, hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới, gọi là cây giâm hom. Nhân giống bằng giâm hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây ăn quả, cây cảnh.
Quá trình hình thành rễ ở cây hom là quá trình phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài. Tạo và chọn đúng loại cành để giâm hom, chọn đúng thời vụ giâm hom, chọn đúng thuốc và nồng độ thích hợp, có chế độ phun sương hợp lí và có độ che thích hợp, cũng như chăm sóc, quản lí tốt trong quá trình giâm hom sẽ tạo được hom có tỉ lệ ra rễ cao nhất.
3. Những yêu cầu kĩ thuật cơ bản khi giâm hom
- Vật liệu hom không nên lấy quá xa nơi giâm hom và không nên cất giữ quá 1 ngày.
- Không nên cắt hom quá già hoặc quá non. Hom chọn bánh tẻ là tốt nhất.
- Hom đã cắt không để trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời.
- Khi vận chuyển phải giữ hom luôn luôn đủ độ ẩm.
- Hom phải được ngắt hết các chồi phụ đã ra lá.
- Đối với cây lá kim, hom phải đủ búp ngọn.
- Chiều dài của đoạn hom giâm từ 6-10cm, không nên dài quá 10cm.
- Số đôi lá còn lại trên hom không nên để quá nhiều, phải cắt bớt phiến lá và cắt hết lá ở phần giâm dưới đất.
Khi cắt hom cần dùng dao sắc để tránh cho hom bị giập nát và sây xước.
- Phải xử lí thuốc chống nấm trước khi xử lí thuốc ra rễ.
- Giâm hom phải đặt trong lều nilông để giữ ẩm và giữ nhiệt, trên lều phải có mái che để tránh ánh nắng trực xạ và giảm bớt cường độ ánh sáng.
- Giá thể giâm hom phải thoát hơi nước tốt và phải xử lí nấm trước khi cắm giâm hom.
- Phải thường xuyên phun tưới đủ ẩm và giữ độ ẩm không khí cho hom giâm. Tránh để gió lùa vào bên trong lều giâm hom.
* Tóm lại, để giâm hom thành công, cần phải thực hiện 1 cách đầy đủ và đồng bộ các biện pháp kĩ thuật cần thiết từ khâu chăm sóc vườn cây mẹ lấy hom và vườn giâm hom, cũng như tạo điều kiện cần thiết để hom ra rễ. Sau khi hom ra rễ, phải biết huấn luyện cây hom để chúng thích ứng dần với điều kiện vườn ươm và trồng rừng.
4. Thời vụ giâm hom
- Thời vụ giâm hom phụ thuộc vào thời vụ trồng và sự phát triển của cây hom đạt tiêu chuẩn xuất vườn đem đi trồng rừng ở từng vùng.
- Thông thường, việc giâm hom được thực hiện trước khi vụ trồng 4- 6 tháng.
5. Kĩ thuật giâm hom
a. Tạo hom
- Dùng kéo thật sắc để cắt tạo hom, không làm trầy xước hoặc làm giập gốc hom. Hom cắt lần nào phải lấy ngay lần ấy.
- Mỗi chồi chỉ nên cắt 1 hom, ngọn dài từ 6- 10cm, mang từ 6- 8 lá. Vết cắt ở vị trí 0,2cm phía dưới của đốt cuối cùng. Sau đó cắt bỏ toàn bộ 2 lá dưới cùng và phiến lá của 2 lá kế tiếp. Cũng có thể sử dụng hom 2 để giâm (hom kế hom ngọn). Tuy nhiên, hom này chỉ lấy 2 đốt (mang 2 lá) dài khoảng 6-7cm và phải xử lí bằng thuốc kích thích ra rễ có nồng độ cao hơn hom ngọn.
b. Xử lí hom
- Hom sau khi cắt phải ngâm ngay vào dung dịch Benlat, nồng độ 0,02%, thời gian 15 - 20 phút để phòng nấm bệnh.
- Với hom ngọn, xử lí thuốc kích thích ra rễ IBA bột, nồng độ 0,02%. Với hom 2, nồng độ thuốc IBA là 0,1%
c. Giá thể giâm hom
Sử dụng 100% đất tầng B có thành phần cơ giới đất thịt nhẹ đến đất cát pha nhẹ, pH 4,5 - 5,5 để đóng bầu, làm giá thể giâm hom. Đất phải được sàng nhỏ. Bầu giâm hom có đường kính 6cm, cao 11cm. Cũng có thể sử dụng hỗn hợp sau làm giá thể giâm hom: 1/2 đất + 1/4 cát sạch + 1/4 than trấu.
d. Xử lí giá thể giâm hom
- Dùng Benlat nồng độ 0,06% tưới cho 50m2 bề mặt bầu và giá thể giâm hom, hoặc dùng thuốc tím nồng độ 0,1% tưới ướt lớp bề mặt sâu hơn 3cm để phòng chống nấm bệnh. Việc xử lí nấm tiến hành trước khi cấy hom 12h.
- Trước khi cấy hom, nền giâm hom hay ruột bầu phải được tưới nước ẩm toàn bộ.
e. Kĩ thuật cấy hom
- Hom sau khi cắt được xử lí thuốc chống nấm và thuốc kích thích ra rễ phải được cấy ngay vào bầu hoặc giá thể giâm khác, mỗi bầu cấy 1 hom.
- Khi cấy không được làm mất thuốc kích thích ra rễ hoặc làm tổn thương gốc hom. Hom cắm sâu 2- 3cm, sau đó dùng que cấy ép đất quanh gốc hom để phần hom dưới đất được tiếp xúc hoàn toàn với đất bầu và giữ cho hom thẳng đứng.
Trong trường hợp vườn hom ở xa nhà giâm hom, có thể giâm hom vào giá thể bằng cát thô sạch, đến khi ra rễ rồi cấy vào bầu ở vườn ươm.
f. Chăm sóc hom
* Chăm sóc hom trong bể giâm:
- Ngay sau khi cấy phải phủ nilông lên khung vòm bể giâm để giữ ẩm và tưới phun sương cho hom hàng ngày (trừ ban đêm). Thời gian tưới cách nhau 30- 45 phút 1 lần, mỗi lần tưới 7-10 giây tùy thuộc vào thời tiết.
- Mỗi tuần trước khi cây ra khỏi nhà hom, bắt đầu bón phân. Hoà tan 1kg phân NPK trong 100 lít nước tưới cho 15.000 cây hom.
- Phòng chống sâu bệnh cho hom: định kì mỗi tuần phun Benlat 1 lần nồng độ 0,06%. Khi có nấm bệnh phát triển, phun 2 lần/tuần nồng độ 0,08%.
- Thường xuyên theo dõi hom giâm, nhặt bỏ lá rụng và hom chết, xới váng, nhổ cỏ dại mọc trong bầu hay nền giâm hom, khai thông hệ thống thoát nước.
* Chăm sóc cây hom trong vườn ươm:
- Khi cấy hom 3-5 tuần, chuyển cây hom ra vườn ươm để nuôi dưỡng. Với hom giâm trong cát, sau khi cấy 2-3 tuần, khi rễ hom dài 1-2cm, cấy chuyển sang bầu đất ở vườn ươm, tiếp tục che nắng như ở nhà giâm hom , cho tới khi sống ổn định mới dỡ bỏ giàn che và chăm sóc bình thường như cây hạt.
- Định kì tưới phân 1 lần/tuần với liều lượng 1kg NPK (5:10:3) hòa tan trong 35 lít nước, tưới cho 5000 cây. Sau mỗi tuần bón phân, phải tưới nước rửa lá bằng nước sạch.
* Tiêu chuẩn cây con xuất vườn: Tùy thuộc vào loài cây. Đối với loài cây mọc nhanh, cây hom xuất vườn có chiều cao 20- 30cm, xanh, đẹp, khỏe mạnh, không sâu, bệnh.
II. ứng dụng của công nghệ nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống cây rừng
1. Khái niệm
Nuôi cấy tế bào là phương pháp sản xuất hàng loạt cây con từ các bộ phận của cây bắng cách nuôi cấy chúng trong ống nghiệm ở điều kiện vô trùng, có môi trường thích hợp và cung cấp chất dinh dưỡng gần giống cây bình thường.
2. Cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào
- Nguyên lí cơ bản của nuôi cấy mô tế bào là tính toàn năng của tế bào.
- Về bản chất, nuôi cấy mô tế bào là 1 phương pháp nhân giống vô tính.
3. Một số hình thức nuôi cấy mô tế bào
a. Nuôi cấy mô phân sinh đỉnh sinh trưởng
- Đỉnh sinh trưởng chứa đựng mô phân sinh đầu ngọn ở đỉnh các đoạn thân cành.
- Khi nuôi cấy các đỉnh sinh trưởng này, mô phân sinh của chúng có thể phát triển và ra rễ hình thành một cây hoàn chỉnh.
b. Nhân chồi bên (chồi nách)
Khi hình thành chồi bên, các điểm sinh trưởng ở các mắt trên cây nằm dưới mô phân sinh ngọn được kích thích sinh trưởng và mô phân sinh ngọn bị kìm hãm. Sử dụng các chồi bên này để nuôi cấy có thể nhân nhanh để có số lượng cây mong muốn.
c. Tạo chồi bất định
- Tạo chồi bất định rừ các cơ quan như rễ, lá, cành.. của cây là một hình thức phổ biến để nhân giống.
- Có thể thực hiện hình thức này bằng cách nuôi cấy các bộ phận còn non của cây và tạo các chồi bất định.
d. Hình thành cơ quan từ mô nuôi cấy
- Từ khối mô sẹo có thể hình thành cơ quan như rễ và thân cây thông qua tạo các mô phân sinh trong những điều kiện nuôi cấy nhất định phù hợp cho từng loại cây, từng loại mô.
* Các hình thức nhân giống bằng nuôi cấy mô và tế bào nói trên đều có thể áp dụng cho cây rừng. Tuy nhiên hình thức nhân chồi bên có nhiều lợi thế để áp dụng cho sản xuất.
III. Luân canh trong vườn gieo ươm
- ý nghĩa: Luân canh trong vườn ươm có tác dụng cải tạo đất, hạn chế sâu, bệnh hại phát triển. Vì thế những vườn ươm cố định cần thiết phải luân canh.
- Các biện pháp luân canh trong vườn ươm:
+ Luân canh cây rừng với cây rừng: một vụ hoặc một năm ươm cây này, vụ sau (năm sau) ươm cây khác.
+ Luân canh cây rừng với cây nông nghiệp hoặc cây phân xanh.
+ Luân canh cây rừng và cỏ chăn nuôi.
+ Luân canh tổng hợp cây rừng, cây nông nghiệp, cây cải tạo đất.
- Chế độ luân canh: Là thời gian của 1 chu kì luân canh và nội dung sản xuất của khu rừng trong mỗi năm. Có nhiều chế độ luân canh như 2 khu, 3 khu,..
Ví dụ: chế độ luân canh 2 khu và 3 khu:
Xác định chế độ luân canh 2 hoặc nhiều khu là tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai, đặc tính loài cây và tuổi cây ươm.
bằng phưUơng pháp nhân giống vô tính
(giâm hom, nuôi cấy mô tế bào)
I. Giâm hom
1. í nghĩa của nhân giống bằng giâm hom
- Nhân giống bằng giâm hom là 1 trong nh?ng phuương pháp có hiệu quả nhất cho chọn giống cây rừng.
- Nhân giống bằng giâm hom là phương pháp đang đưuợc áp dụng phổ biến để nhân giống các dòng vô tính có nang suất cao.
2. Những đặc điểm chính của nhân giống bằng giâm hom
- Nhân giống bằng giâm hom là hỡnh thức truyền đạt các biến dị di truyền của cây mẹ cho cây con. Cây hom không nh?ng gi? đuược nh?ng đặc tính hỡnh thái của cây mẹ, gi? đưuợc các biến dị di truyền mong muốn đưuợc thể hiện trong ki?u hỡnh của cây mẹ, mà còn gi? đưuợc các biến dị di truyền về sinh truưởng nhanh và cho nang suất cao của chúng.
- Nhân giống bằng giâm hom gi? đuược ưuu thế lai của đời F1 và khắc phục hiện tượng phân ly ở đời F2.
- Nhân giống bằng giâm hom rút ngắn đưuợc chu k? sinh sản, rút ngắn đưuợc thời gian thực hiện chương trỡnh cải thiện giống cây rừng.
- Nhân giống bằng giâm hom là 1 phưuơng pháp nhân nhanh các loài quý hiếm đang bị khai thác cạn kiệt, là 1 cách để góp phần vào bảo tồn nguồn gen cây rừng.
- Nhân giống bằng giâm hom là phương pháp có thể bổ sung cho các loại cây khó thu hái và bảo quản hạt.
- Nhân giống bằng giâm hom là phương pháp dùng 1 phần lá, 1 đoạn thân, đoạn cành, hoặc đoạn rễ để tạo ra cây mới, gọi là cây giâm hom. Nhân giống bằng giâm hom là phương pháp có hệ số nhân giống lớn nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây ăn quả, cây cảnh.
Quá trình hình thành rễ ở cây hom là quá trình phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài. Tạo và chọn đúng loại cành để giâm hom, chọn đúng thời vụ giâm hom, chọn đúng thuốc và nồng độ thích hợp, có chế độ phun sương hợp lí và có độ che thích hợp, cũng như chăm sóc, quản lí tốt trong quá trình giâm hom sẽ tạo được hom có tỉ lệ ra rễ cao nhất.
3. Những yêu cầu kĩ thuật cơ bản khi giâm hom
- Vật liệu hom không nên lấy quá xa nơi giâm hom và không nên cất giữ quá 1 ngày.
- Không nên cắt hom quá già hoặc quá non. Hom chọn bánh tẻ là tốt nhất.
- Hom đã cắt không để trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời.
- Khi vận chuyển phải giữ hom luôn luôn đủ độ ẩm.
- Hom phải được ngắt hết các chồi phụ đã ra lá.
- Đối với cây lá kim, hom phải đủ búp ngọn.
- Chiều dài của đoạn hom giâm từ 6-10cm, không nên dài quá 10cm.
- Số đôi lá còn lại trên hom không nên để quá nhiều, phải cắt bớt phiến lá và cắt hết lá ở phần giâm dưới đất.
Khi cắt hom cần dùng dao sắc để tránh cho hom bị giập nát và sây xước.
- Phải xử lí thuốc chống nấm trước khi xử lí thuốc ra rễ.
- Giâm hom phải đặt trong lều nilông để giữ ẩm và giữ nhiệt, trên lều phải có mái che để tránh ánh nắng trực xạ và giảm bớt cường độ ánh sáng.
- Giá thể giâm hom phải thoát hơi nước tốt và phải xử lí nấm trước khi cắm giâm hom.
- Phải thường xuyên phun tưới đủ ẩm và giữ độ ẩm không khí cho hom giâm. Tránh để gió lùa vào bên trong lều giâm hom.
* Tóm lại, để giâm hom thành công, cần phải thực hiện 1 cách đầy đủ và đồng bộ các biện pháp kĩ thuật cần thiết từ khâu chăm sóc vườn cây mẹ lấy hom và vườn giâm hom, cũng như tạo điều kiện cần thiết để hom ra rễ. Sau khi hom ra rễ, phải biết huấn luyện cây hom để chúng thích ứng dần với điều kiện vườn ươm và trồng rừng.
4. Thời vụ giâm hom
- Thời vụ giâm hom phụ thuộc vào thời vụ trồng và sự phát triển của cây hom đạt tiêu chuẩn xuất vườn đem đi trồng rừng ở từng vùng.
- Thông thường, việc giâm hom được thực hiện trước khi vụ trồng 4- 6 tháng.
5. Kĩ thuật giâm hom
a. Tạo hom
- Dùng kéo thật sắc để cắt tạo hom, không làm trầy xước hoặc làm giập gốc hom. Hom cắt lần nào phải lấy ngay lần ấy.
- Mỗi chồi chỉ nên cắt 1 hom, ngọn dài từ 6- 10cm, mang từ 6- 8 lá. Vết cắt ở vị trí 0,2cm phía dưới của đốt cuối cùng. Sau đó cắt bỏ toàn bộ 2 lá dưới cùng và phiến lá của 2 lá kế tiếp. Cũng có thể sử dụng hom 2 để giâm (hom kế hom ngọn). Tuy nhiên, hom này chỉ lấy 2 đốt (mang 2 lá) dài khoảng 6-7cm và phải xử lí bằng thuốc kích thích ra rễ có nồng độ cao hơn hom ngọn.
b. Xử lí hom
- Hom sau khi cắt phải ngâm ngay vào dung dịch Benlat, nồng độ 0,02%, thời gian 15 - 20 phút để phòng nấm bệnh.
- Với hom ngọn, xử lí thuốc kích thích ra rễ IBA bột, nồng độ 0,02%. Với hom 2, nồng độ thuốc IBA là 0,1%
c. Giá thể giâm hom
Sử dụng 100% đất tầng B có thành phần cơ giới đất thịt nhẹ đến đất cát pha nhẹ, pH 4,5 - 5,5 để đóng bầu, làm giá thể giâm hom. Đất phải được sàng nhỏ. Bầu giâm hom có đường kính 6cm, cao 11cm. Cũng có thể sử dụng hỗn hợp sau làm giá thể giâm hom: 1/2 đất + 1/4 cát sạch + 1/4 than trấu.
d. Xử lí giá thể giâm hom
- Dùng Benlat nồng độ 0,06% tưới cho 50m2 bề mặt bầu và giá thể giâm hom, hoặc dùng thuốc tím nồng độ 0,1% tưới ướt lớp bề mặt sâu hơn 3cm để phòng chống nấm bệnh. Việc xử lí nấm tiến hành trước khi cấy hom 12h.
- Trước khi cấy hom, nền giâm hom hay ruột bầu phải được tưới nước ẩm toàn bộ.
e. Kĩ thuật cấy hom
- Hom sau khi cắt được xử lí thuốc chống nấm và thuốc kích thích ra rễ phải được cấy ngay vào bầu hoặc giá thể giâm khác, mỗi bầu cấy 1 hom.
- Khi cấy không được làm mất thuốc kích thích ra rễ hoặc làm tổn thương gốc hom. Hom cắm sâu 2- 3cm, sau đó dùng que cấy ép đất quanh gốc hom để phần hom dưới đất được tiếp xúc hoàn toàn với đất bầu và giữ cho hom thẳng đứng.
Trong trường hợp vườn hom ở xa nhà giâm hom, có thể giâm hom vào giá thể bằng cát thô sạch, đến khi ra rễ rồi cấy vào bầu ở vườn ươm.
f. Chăm sóc hom
* Chăm sóc hom trong bể giâm:
- Ngay sau khi cấy phải phủ nilông lên khung vòm bể giâm để giữ ẩm và tưới phun sương cho hom hàng ngày (trừ ban đêm). Thời gian tưới cách nhau 30- 45 phút 1 lần, mỗi lần tưới 7-10 giây tùy thuộc vào thời tiết.
- Mỗi tuần trước khi cây ra khỏi nhà hom, bắt đầu bón phân. Hoà tan 1kg phân NPK trong 100 lít nước tưới cho 15.000 cây hom.
- Phòng chống sâu bệnh cho hom: định kì mỗi tuần phun Benlat 1 lần nồng độ 0,06%. Khi có nấm bệnh phát triển, phun 2 lần/tuần nồng độ 0,08%.
- Thường xuyên theo dõi hom giâm, nhặt bỏ lá rụng và hom chết, xới váng, nhổ cỏ dại mọc trong bầu hay nền giâm hom, khai thông hệ thống thoát nước.
* Chăm sóc cây hom trong vườn ươm:
- Khi cấy hom 3-5 tuần, chuyển cây hom ra vườn ươm để nuôi dưỡng. Với hom giâm trong cát, sau khi cấy 2-3 tuần, khi rễ hom dài 1-2cm, cấy chuyển sang bầu đất ở vườn ươm, tiếp tục che nắng như ở nhà giâm hom , cho tới khi sống ổn định mới dỡ bỏ giàn che và chăm sóc bình thường như cây hạt.
- Định kì tưới phân 1 lần/tuần với liều lượng 1kg NPK (5:10:3) hòa tan trong 35 lít nước, tưới cho 5000 cây. Sau mỗi tuần bón phân, phải tưới nước rửa lá bằng nước sạch.
* Tiêu chuẩn cây con xuất vườn: Tùy thuộc vào loài cây. Đối với loài cây mọc nhanh, cây hom xuất vườn có chiều cao 20- 30cm, xanh, đẹp, khỏe mạnh, không sâu, bệnh.
II. ứng dụng của công nghệ nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống cây rừng
1. Khái niệm
Nuôi cấy tế bào là phương pháp sản xuất hàng loạt cây con từ các bộ phận của cây bắng cách nuôi cấy chúng trong ống nghiệm ở điều kiện vô trùng, có môi trường thích hợp và cung cấp chất dinh dưỡng gần giống cây bình thường.
2. Cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào
- Nguyên lí cơ bản của nuôi cấy mô tế bào là tính toàn năng của tế bào.
- Về bản chất, nuôi cấy mô tế bào là 1 phương pháp nhân giống vô tính.
3. Một số hình thức nuôi cấy mô tế bào
a. Nuôi cấy mô phân sinh đỉnh sinh trưởng
- Đỉnh sinh trưởng chứa đựng mô phân sinh đầu ngọn ở đỉnh các đoạn thân cành.
- Khi nuôi cấy các đỉnh sinh trưởng này, mô phân sinh của chúng có thể phát triển và ra rễ hình thành một cây hoàn chỉnh.
b. Nhân chồi bên (chồi nách)
Khi hình thành chồi bên, các điểm sinh trưởng ở các mắt trên cây nằm dưới mô phân sinh ngọn được kích thích sinh trưởng và mô phân sinh ngọn bị kìm hãm. Sử dụng các chồi bên này để nuôi cấy có thể nhân nhanh để có số lượng cây mong muốn.
c. Tạo chồi bất định
- Tạo chồi bất định rừ các cơ quan như rễ, lá, cành.. của cây là một hình thức phổ biến để nhân giống.
- Có thể thực hiện hình thức này bằng cách nuôi cấy các bộ phận còn non của cây và tạo các chồi bất định.
d. Hình thành cơ quan từ mô nuôi cấy
- Từ khối mô sẹo có thể hình thành cơ quan như rễ và thân cây thông qua tạo các mô phân sinh trong những điều kiện nuôi cấy nhất định phù hợp cho từng loại cây, từng loại mô.
* Các hình thức nhân giống bằng nuôi cấy mô và tế bào nói trên đều có thể áp dụng cho cây rừng. Tuy nhiên hình thức nhân chồi bên có nhiều lợi thế để áp dụng cho sản xuất.
III. Luân canh trong vườn gieo ươm
- ý nghĩa: Luân canh trong vườn ươm có tác dụng cải tạo đất, hạn chế sâu, bệnh hại phát triển. Vì thế những vườn ươm cố định cần thiết phải luân canh.
- Các biện pháp luân canh trong vườn ươm:
+ Luân canh cây rừng với cây rừng: một vụ hoặc một năm ươm cây này, vụ sau (năm sau) ươm cây khác.
+ Luân canh cây rừng với cây nông nghiệp hoặc cây phân xanh.
+ Luân canh cây rừng và cỏ chăn nuôi.
+ Luân canh tổng hợp cây rừng, cây nông nghiệp, cây cải tạo đất.
- Chế độ luân canh: Là thời gian của 1 chu kì luân canh và nội dung sản xuất của khu rừng trong mỗi năm. Có nhiều chế độ luân canh như 2 khu, 3 khu,..
Ví dụ: chế độ luân canh 2 khu và 3 khu:
Xác định chế độ luân canh 2 hoặc nhiều khu là tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai, đặc tính loài cây và tuổi cây ươm.
 








Các ý kiến mới nhất