Ngữ văn 8.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thị Kiểm
Ngày gửi: 16h:05' 14-11-2021
Dung lượng: 12.0 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Ngô Thị Kiểm
Ngày gửi: 16h:05' 14-11-2021
Dung lượng: 12.0 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
KIỂM TRA BÀI CŨ:
1. Em hãy phân tích nguyên nhân cái chết của lão Hạc?
- Tình cảnh đói khổ, túng quẫn đẩy lão đến cái chết như một hành động tự giải thoát.
Số phận đáng thương, cơ cực của người nông dân trong xã hội cũ.
- Lão đã ăn bả chó để chết.
Cái chết dữ dội, đau đớn.
- Chọn cái chết để bảo toàn căn nhà, mảnh vườn cho con.
- Gởi ông giáo 30 đồng để lo hậu sự cho mình vì không muốn gây phiền hà cho hàng xóm.
Lòng yêu thương con âm thầm và lớn lao, lòng tự trọng đáng kính.
- Khi nghe lão Hạc bán chó:
+ Lúc đầu nghĩ chẳng bao giờ xảy ra.
+ Sau đó cảm thông trước nỗi khổ và tấm lòng lão Hạc.
- Khi nghe Binh Tư kể lão Hạc xin bả chó: Ngỡ ngàng, xót xa.
+ Xót xa, thương tiếc.
+ Tin vào cái thiện, nhân cách con người.
2. Thi d?, tình c?m c?a nhn v?t "tơi" d?i v?i lo H?c ra sao?
GV: NGễ TH? KI?M
Đan Mạch là một nước nhỏ thuộc khu vực Bắc Âu, diện tích chỉ bằng một phần tám diện tích nước ta, thủ đô là Co-pen-ha-ghen. An-đéc-xen là nhà văn nổi tiếng nhất của Đan Mạch, ông nổi tiếng thế giới với loại truyện viết cho thiếu nhi: “Nàng tiên cá”, “Bầy chim thiên nga”, “Cô bé bán diêm”,… Chuyện của ông dù biên soạn lại từ chuyện cổ tích hay do ông hư cấu, sáng tạo hoàn toàn đều rất giàu chất thơ và chi tiết tưởng tượng hư ảo mà lứa tuổi nào cũng thích thú. Những đặc điểm này thể hiện rất rõ trong truyện ngắn “Cô bé bán diêm” (sáng tác năm 1845).
I/ Đọc - tìm hiểu chung:
1/ Tác giả, tác phẩm:
Em hãy nêu những nét nổi bật về cuộc đời và sự nghiệp của An-đéc-xen.
a/ Tác giả:
(1805 - 1875).
Nhà văn Đan Mạch nổi tiếng với loại truyện kể cho trẻ em.
Ông sinh ra trong một gia đình nghèo, ham thích thơ văn từ nhỏ. Ông viết nhiều truyện, đặc biệt là truyện dành cho trẻ em.
b/ Tác phẩm:
- Thể loại: Truyện ngắn.
- Xuất xứ: Trích gần hết truyện.
2. Phương thức biểu đạt:
Văn bản được viết theo phương thức biểu đạt nào?
Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
3. Bố cục:
Ba phần.
+ Phần 1: Từ đầu đến “cứng đờ ra”
+ Phần 2: Tiếp theo đến “chầu Thượng đế”
+ Phần 3: Các đoạn còn lại
→ Hoàn cảnh của cô bé bán diêm.
→ Các lần quẹt diêm và những mộng tưởng.
→ Cái chết thương tâm của em bé.
Nêu thể loại và xuất xứ của tác phẩm?
Bố cục được chia làm mấy phần? Nội dung của từng phần?
Tiết 16: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
I/ Đọc - tìm hiểu chung:
1/ Tác giả, tác phẩm:
a/ Tác giả:
(1805 - 1875).
Nhà văn Đan Mạch nổi tiếng với loại truyện kể cho trẻ em.
b/ Tác phẩm:
- Thể loại: Truyện ngắn.
- Xuất xứ: Trích gần hết truyện.
2. Phương thức biểu đạt:
Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
3. Bố cục:
Căn cứ vào đâu để có thể chia phần thứ hai thành những đoạn nhỏ hơn?
Ba phần.
+ Phần 1: Từ đầu đến “cứng đờ ra”
+ Phần 2: Tiếp theo đến “chầu Thượng đế”
+ Phần 3: Các đoạn còn lại
→ Hoàn cảnh của cô bé bán diêm.
→ Các lần quẹt diêm và những mộng tưởng.
→ Cái chết thương tâm của em bé.
Căn cứ vào các lần quẹt diêm:
+ Bốn lần đầu, mỗi lần quẹt một que diêm.
+ Lần năm quẹt tất cả que diêm còn lại.
Tiết 16: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
I/ Đọc - tìm hiểu chung:
Qua phần đầu, em biết gì về gia cảnh của cô bé bán diêm?
Suy nghĩ của em thế nào về hoàn cảnh của cô bé?
II/ Đọc - tìm hiểu văn bản:
1/ Em bé đêm giao thừa:
- Gia cảnh:
+ Bà nội và mẹ đã qua đời, sống với cha, cha khó tính.
+ Nhà nghèo, nơi ở là một xó tối tăm trên gác sát mái nhà.
+ Phải đi bán diêm để kiếm sống.
Cảnh sống bất hạnh.
Cuộc sống cô đơn, đói rét, luôn bị bố đánh đã buộc em bé phải tự mình đi bán diêm để kiếm sống và mang tiền cho bố.
- Đêm giao thừa:
Không gian và hình ảnh cô bé hiện lên ra sao qua phần đầu văn bản?
+ Trời rét buốt, em ngồi nép trong một góc tường.
+ Mỗi lúc càng rét buốt hơn.
Mùa xuân là mùa họp mặt, đêm giao thừa là đêm mà mọi người cùng quây quần bên nhau.
Tiết 16: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Tiết 16: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
I/ Đọc - tìm hiểu chung:
Liệt kê những hình ảnh tương phản trong phần này.
II/ Đọc - tìm hiểu văn bản:
1/ Em bé đêm giao thừa:
Nghệ thuật tương phản này có tác dụng gì?
- Các hình ảnh tương phản:
+ Trời rét >< cô bé đầu trần, chân đất.
+ Ngoài đường tối đen >< mọi nhà sáng rực đèn.
+ Em bé bụng đói >< phố sực nức mùi ngỗng quay.
+ Xó tối tăm >< ngôi nhà xinh xắn.
Nổi bật tình cảnh hết sức tội nghiệp phải chịu cái rét, đói, khổ của em bé.
HẾT TIẾT 1
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN:
Cô bé quẹt diêm mấy lần?
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Cô bé có 5 lần quẹt que diêm.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm.
Lo lắng bị cha mắng.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ nhất?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 1: Một lò sưởi -> rét
* Lần quẹt diêm thứ nhất:
-Tưởng chừng ngồi trước một lò sưởi rực hồng.
-> Cảnh tượng sáng sủa, ấm áp, thân mật.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm.
Lo lắng bj cha mắng.
Bữa ăn thịnh soạn.
Muốn được ăn no.
Bức tường dày đặc, lạnh lẽo.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ hai?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 2: bàn ăn, thức ăn -> đói
:
* L?n qu?t diờm th? hai :
- M?t bn an dó d?n s?n.
- Bỏt dia b?ng s? quớ giỏá .
- Cú c? m?t con ng?ng quay.
-> Sang tr?ng, d? d?y, sung su?ng.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm
Lo lắng bị cha mắng
Bữa ăn thịnh soạn.
Muốn được ăn no.
Bức tường dày đặc, lạnh lẽo.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ ba?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Cây thông no-en.
Muốn được vui chơi.
Tất cả những ngọn nến bay lên, gợi em suy nghĩ về cái chết.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 3: cây thông Nô-en -> Được vui đón Nô-en, xum họp gia đình.
:
* Lần quẹt diêm thứ ba:
- Cây thông Nô En với hàng ngàn ngọn nến sáng rực lấp lánh.
- Những ngôi sao trên trời.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm.
Lo lắng bị cha mắng.
Bữa ăn thịnh soạn.
Muốn được ăn no.
Bức tường dày đặc, lạnh lẽo.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ tư?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Cây thông no-en.
Muốn được vui chơi.
Tất cả những ngọn nến bay lên, gợi em suy nghĩ về cái chết.
Bà em mỉm cười với em.
Muốn được yêu thương.
Ảo ảnh về bà biến mất.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 4: thấy bà mỉm cười -> Nhớ tới bà, mong được yêu thương:
:
* Lần quẹt diêm thứ tưu :
- Bà nội hiện về mỉm cuười với em.
- Bà ơi cho cháu đi với.
- Cháu van bà, bà xin thuợng đế chí nhân cho cháu về với bà.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm.
Lo lắng bị cha mắng.
Bữa ăn thịnh soạn.
Muốn được ăn no.
Bức tường dày đặc, lạnh lẽo.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ năm?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Cây thông no-en.
Muốn được vui chơi.
Tất cả những ngọn nến bay lên, gợi em suy nghĩ về cái chết.
Bà em mỉm cười với em.
Muốn được yêu thương.
Ảo ảnh về bà biến mất.
Muốn níu bà lại… Hai bà cháu vụt lên cao… vế chầu thượng đế.
Không còn đói rét, đau buồn, đe doạ...
Em đi theo bà, em vĩnh viễn ra đi trong đói khát và rét buốt .
Những mộng tưởng ấy diễn ra có hợp lí không? Vì sao?
Thực tế và mộng tưởng xen kẽ nhau, diễn ra hợp lí gắn liền với hoàn cảnh của em bé.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 5: cùng bà bay lên trời -> ở cùng bà, không muốn đói, rét:
Nhu c?u v? v?t ch?t
Nhu c?u v? tinh th?n
Ước mơ nào gắn với nhu cầu về vật chất?
Ước mơ nào gắn với nhu cầu về tinh thần?
Trong các mộng tưởng đó, điều nào gắn với thực tế, điều nào thuần túy chỉ là mộng tưởng?
+ Các mộng tưởng: lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nôen gắn với thực tế.
+ Con ngỗng quay nhảy ra khỏi đĩa, hai bà cháu bay lên trời chỉ thuần túy là mộng tưởng.
3. Sự ra đi của em bé:
Tác giả miêu tả sự ra đi của em bé như thế nào?
SÁNG HÔM SAU
- Mặt trời lên trong sáng, chói chang.
- Ở một xó tường.
- Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà.
- Em bÐ m¸ hồng, đôi m«i ®ang mØm cưêi.
- Mọi người bảo nhau : “Chắc nó muốn sưởi cho ấm”.
- Em đã chÕt v× ®ãi và rÐt buèt trong ®ªm giao thõa.
Khung cảnh, mọi người xung quanh
Cái chết của em.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Thực tế là đây!
Thi thể em giữa những bao diêm
3. Sự ra đi của em bé:
Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
SÁNG HÔM SAU
- Mặt trời lên trong sáng, chói chang.
- Ở một xó tường.
- Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà.
- Em bÐ m¸ hồng, đôi m«i ®ang mØm cưêi.
- Mọi người bảo nhau : “Chắc nó muốn sưởi cho ấm”.
- Em đã chÕt v× ®ãi và rÐt buèt trong ®ªm giao thõa.
Khung cảnh, mọi người xung quanh
Cái chết của em.
> <
Mọi người qua đường có thái độ gì trước sự ra đi của em bé?
Mọi người bảo nhau “chắc nó sưởi cho ấm.”
Lạnh lùng, vô cảm lúc em sống cũng như lúc em chết. Một xã hội bất công trước cuộc sống của người nghèo.
Tương phản, đối lập-> Thể hiện cái chết tội nghiệp và thương tâm: chết vì rét buốt, vì đói khát, xã hội lạnh lùng, thờ ơ trước cái chết của em.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
- Em chết vì rét buốt và đói khát.
- Người đời đối xử với em quá lạnh lùng.
- Cha đối xử với em thiếu tình thương.
Một cảnh thương tâm, em bé thật tội nghiệp.
- Nhà văn miêu tả thi thể em: Đôi má hồng, đôi môi đang mỉm cười.
Niềm cảm thông, thương yêu, đau xót của tác giả đối với em bé bất hạnh. Chính tình yêu thương ấy đã điểm tô cho cái chết đẹp đẽ như thiên thần.
3. Sự ra đi của em bé:
Trước cái chết của em bé, em có nhận xét gì về cách đối xử của người đời và của cha em?
Khách qua đường chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em, ngay cả khi nhìn thấy thi thể em vào sáng mùng một cũng thế.
Em có suy nghĩ gì về cái chết của cô bé?
Có gì đặc biệt trong cách miêu tả thi thể em bé?
Vì sao tác giả lại miêu tả như vậy?
Trong xã hội thiếu tình thương, nhà văn đã viết truyện với tất cả niềm cảm thông. Chính vì vậy mà nhà văn đã thêu dệt thi thể của cô bé, đồng thời hình dung ra cảnh huy hoàng hai bà cháu bay lên trời để đón lấy những niềm vui đầu năm.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
3. Sự ra đi của em bé:
- Nghệ thuật:tương phản, bút pháp hiện thực kết hợp trữ tình, lãng mạn -> em bé đã được giải thoát.
-> Lên án những con người lạnh lùng, thờ ơ trước nỗi khổ của người khác.
Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật tương phản có tác dụng gì?
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Kể chuyện đan xen, đối lập giữa thực tế và mộng tưởng Nổi bật khát khao cháy bỏng và tình cảnh đáng thương của cô bé bán diêm/ của những người cùng khổ trong xã hội.
Tác giả đã thấu hiểu và nâng niu ước mơ tuổi thơ.
Phải biết trân trọng tình cảm gia đình và hạnh phúc bình dị bên người thân + Sống phải biết ước mơ, biết giữ tâm hồn trong sáng.
III. TỔNG KẾT:
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Số phận bất hạnh của cô bé bán diêm (Cô bé bán diêm – An-đéc-xen)
Ở đất nước Đan Mạch xa xôi
Có cô bé bán diêm nghèo bất hạnh
Mẹ không còn, sống cùng cha ghẻ lạnh
Lấy rượu làm vui, quên mất đứa con thơ.
Đêm Nô-en lạnh lẽo những con đường
Em bé vẫn đầu trần, lang thang không bến đậu
Từng cánh cổng, bức tường và lòng người câm lặng
Em nép mình 1 góc nhỏ … cô đơn.
Trong đêm đông giá rét bơ vơ
Em nhớ tới người bà hiền hậu
Người đã cho em một thời thơ ấu
Êm đềm, hạnh phúc, được yêu thương
Sáng hôm sau con phố sáng tưng bừng
Tiếng cười nói xôn xao mừng năm mới
Người ta thấy em bên góc đường trơ trọi
Xung quanh em còn lại những tàn diêm.
Em ngước lên nhìn trời
Thiên đường cao vời vợi
Mẹ và bà có đợi
Ủ ấm em vào lòng.
1, 2, 3, 4, 5
Hết que này, que khác
Que diêm cuối cùng tắt
Thiên đường ở trên cao.
Tuyết phủ chỗ em ngồi
Mắt em nhắm lại rồi
Trái tim em bé bỏng
Thiên đường không đói rét
Thiên đường chẳng có diêm
Người qua đường náo nức
Từ nay không cơ cực
Chẳng ai còn gặp em
Rong ruổi trong bóng đêm.
Ước mơ em nhỏ lắm
Em cô bé bán diêm
Người giàu qua lặng lẽ
Người nghèo không có tiền
Em đâu dám về nhà
Trong màn đêm giá lạnh
Cây thông non gầy guộc
Bính bong... đêm Giáng sinh
Em quẹt diêm cho mình
Một mái nhà ấm cúng
Mùi ngỗng quay béo ngậy
Lò sưởi cháy hoà ca
Một que diêm sáng lên
Em gặp bà, gặp mẹ
Bà em còn rất trẻ
Mẹ em đẹp như tiên
Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước vào ngày 20/2/1990.
Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước vào ngày 20/2/1990.
Chúng ta cần phải bảo vệ, che chở, chia sẻ và đùm bọc những đứa bé mồ côi, bất hạnh.
Một số hình ảnh về trẻ em lang thang ở Việt Nam
Nhìn những bức ảnh này em có suy nghĩ gì?
Đối với trẻ mồ côi, bất hạnh chúng ta
cần phải làm gì?
Chúng ta cần phải bảo vệ, che chở, chia sẻ và đùm bọc những đứa bé mồ côi, bất hạnh.
Đây là đoạn truyện mang đậm màu sắc cổ tích?
Em thấy trong phần truyện này có chỗ nào giống và khác với những truyện cố tích mà em đã biết?
- Giống: Có những mộng tưởng như những phép màu kì diệu.
- Khác: Đó là mộng tưởng, là những ảo ảnh không trở thành hiện thực.
IV. LUYỆN TẬP:
Bài tập 1:
Điểm giống và khác với những truyện cổ tích:
Theo em, vì sao nhà văn đã không để một bà tiên xuất hiện trong phần truyện này?
Nếu được tưởng tượng một kết thúc khác cho truyện, em sẽ định kể như thế nào?
Bài tập 2:
Bài tập 3:
Em bé mồ côi phải đi bán diêm trong đêm giao thừa rét buốt. Em chẳng dám về nhà vì sợ bố đánh, đành ngồi nép vào góc tường, liên tục quẹt diêm để sưởi. Hết bao diêm thì em bé chết cóng trong giấc mơ cùng bà nội bay lên trời. Sáng hôm sau, mồng 1 tết, mọi người qua đường vẫn thản nhiên nhìn cảnh tượng thương tâm.
Bài tập về nhà:
Những em bé trong đêm giao thừa thường được nhận sự quan tâm của gia đình. Giả sử em là cô bé bán diêm, em ước mơ điều gì? Với ước mơ đó, nếu em là người qua đường, em sẽ làm như thế nào?
Tóm tắt lại văn bản
请大家
投我一票
V. Vận dụng:
Tưởng tượng rằng em có mặt lúc cô bé đang bán diêm, lúc cô bé chết, em sẽ nói gì? Làm gì? Viết một đoạn kịch ngắn và diễn lại trong vòng 5 phút
请大家
投我一票
Hướng dẫn tự học
- Vẽ tranh về một chi tiết mà em thấy hay, thích.
- Viết một cái kết khác cho câu chuyện.
- Ghi lại cảm nhận của em về một hay vài chi tiết nghệ thuật tương phản trong đoạn trích.
- Học và làm bài tập bài: “Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội”.
- Soạn bài: + “Trợ từ, thán từ”
+ Xem và trả lời câu hỏi SGK/ 69 72
Chúc các em vui, khỏe, chăm học!
1. Em hãy phân tích nguyên nhân cái chết của lão Hạc?
- Tình cảnh đói khổ, túng quẫn đẩy lão đến cái chết như một hành động tự giải thoát.
Số phận đáng thương, cơ cực của người nông dân trong xã hội cũ.
- Lão đã ăn bả chó để chết.
Cái chết dữ dội, đau đớn.
- Chọn cái chết để bảo toàn căn nhà, mảnh vườn cho con.
- Gởi ông giáo 30 đồng để lo hậu sự cho mình vì không muốn gây phiền hà cho hàng xóm.
Lòng yêu thương con âm thầm và lớn lao, lòng tự trọng đáng kính.
- Khi nghe lão Hạc bán chó:
+ Lúc đầu nghĩ chẳng bao giờ xảy ra.
+ Sau đó cảm thông trước nỗi khổ và tấm lòng lão Hạc.
- Khi nghe Binh Tư kể lão Hạc xin bả chó: Ngỡ ngàng, xót xa.
+ Xót xa, thương tiếc.
+ Tin vào cái thiện, nhân cách con người.
2. Thi d?, tình c?m c?a nhn v?t "tơi" d?i v?i lo H?c ra sao?
GV: NGễ TH? KI?M
Đan Mạch là một nước nhỏ thuộc khu vực Bắc Âu, diện tích chỉ bằng một phần tám diện tích nước ta, thủ đô là Co-pen-ha-ghen. An-đéc-xen là nhà văn nổi tiếng nhất của Đan Mạch, ông nổi tiếng thế giới với loại truyện viết cho thiếu nhi: “Nàng tiên cá”, “Bầy chim thiên nga”, “Cô bé bán diêm”,… Chuyện của ông dù biên soạn lại từ chuyện cổ tích hay do ông hư cấu, sáng tạo hoàn toàn đều rất giàu chất thơ và chi tiết tưởng tượng hư ảo mà lứa tuổi nào cũng thích thú. Những đặc điểm này thể hiện rất rõ trong truyện ngắn “Cô bé bán diêm” (sáng tác năm 1845).
I/ Đọc - tìm hiểu chung:
1/ Tác giả, tác phẩm:
Em hãy nêu những nét nổi bật về cuộc đời và sự nghiệp của An-đéc-xen.
a/ Tác giả:
(1805 - 1875).
Nhà văn Đan Mạch nổi tiếng với loại truyện kể cho trẻ em.
Ông sinh ra trong một gia đình nghèo, ham thích thơ văn từ nhỏ. Ông viết nhiều truyện, đặc biệt là truyện dành cho trẻ em.
b/ Tác phẩm:
- Thể loại: Truyện ngắn.
- Xuất xứ: Trích gần hết truyện.
2. Phương thức biểu đạt:
Văn bản được viết theo phương thức biểu đạt nào?
Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
3. Bố cục:
Ba phần.
+ Phần 1: Từ đầu đến “cứng đờ ra”
+ Phần 2: Tiếp theo đến “chầu Thượng đế”
+ Phần 3: Các đoạn còn lại
→ Hoàn cảnh của cô bé bán diêm.
→ Các lần quẹt diêm và những mộng tưởng.
→ Cái chết thương tâm của em bé.
Nêu thể loại và xuất xứ của tác phẩm?
Bố cục được chia làm mấy phần? Nội dung của từng phần?
Tiết 16: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
I/ Đọc - tìm hiểu chung:
1/ Tác giả, tác phẩm:
a/ Tác giả:
(1805 - 1875).
Nhà văn Đan Mạch nổi tiếng với loại truyện kể cho trẻ em.
b/ Tác phẩm:
- Thể loại: Truyện ngắn.
- Xuất xứ: Trích gần hết truyện.
2. Phương thức biểu đạt:
Tự sự kết hợp miêu tả và biểu cảm.
3. Bố cục:
Căn cứ vào đâu để có thể chia phần thứ hai thành những đoạn nhỏ hơn?
Ba phần.
+ Phần 1: Từ đầu đến “cứng đờ ra”
+ Phần 2: Tiếp theo đến “chầu Thượng đế”
+ Phần 3: Các đoạn còn lại
→ Hoàn cảnh của cô bé bán diêm.
→ Các lần quẹt diêm và những mộng tưởng.
→ Cái chết thương tâm của em bé.
Căn cứ vào các lần quẹt diêm:
+ Bốn lần đầu, mỗi lần quẹt một que diêm.
+ Lần năm quẹt tất cả que diêm còn lại.
Tiết 16: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
I/ Đọc - tìm hiểu chung:
Qua phần đầu, em biết gì về gia cảnh của cô bé bán diêm?
Suy nghĩ của em thế nào về hoàn cảnh của cô bé?
II/ Đọc - tìm hiểu văn bản:
1/ Em bé đêm giao thừa:
- Gia cảnh:
+ Bà nội và mẹ đã qua đời, sống với cha, cha khó tính.
+ Nhà nghèo, nơi ở là một xó tối tăm trên gác sát mái nhà.
+ Phải đi bán diêm để kiếm sống.
Cảnh sống bất hạnh.
Cuộc sống cô đơn, đói rét, luôn bị bố đánh đã buộc em bé phải tự mình đi bán diêm để kiếm sống và mang tiền cho bố.
- Đêm giao thừa:
Không gian và hình ảnh cô bé hiện lên ra sao qua phần đầu văn bản?
+ Trời rét buốt, em ngồi nép trong một góc tường.
+ Mỗi lúc càng rét buốt hơn.
Mùa xuân là mùa họp mặt, đêm giao thừa là đêm mà mọi người cùng quây quần bên nhau.
Tiết 16: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Tiết 16: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
I/ Đọc - tìm hiểu chung:
Liệt kê những hình ảnh tương phản trong phần này.
II/ Đọc - tìm hiểu văn bản:
1/ Em bé đêm giao thừa:
Nghệ thuật tương phản này có tác dụng gì?
- Các hình ảnh tương phản:
+ Trời rét >< cô bé đầu trần, chân đất.
+ Ngoài đường tối đen >< mọi nhà sáng rực đèn.
+ Em bé bụng đói >< phố sực nức mùi ngỗng quay.
+ Xó tối tăm >< ngôi nhà xinh xắn.
Nổi bật tình cảnh hết sức tội nghiệp phải chịu cái rét, đói, khổ của em bé.
HẾT TIẾT 1
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN:
Cô bé quẹt diêm mấy lần?
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Cô bé có 5 lần quẹt que diêm.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm.
Lo lắng bị cha mắng.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ nhất?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 1: Một lò sưởi -> rét
* Lần quẹt diêm thứ nhất:
-Tưởng chừng ngồi trước một lò sưởi rực hồng.
-> Cảnh tượng sáng sủa, ấm áp, thân mật.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm.
Lo lắng bj cha mắng.
Bữa ăn thịnh soạn.
Muốn được ăn no.
Bức tường dày đặc, lạnh lẽo.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ hai?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 2: bàn ăn, thức ăn -> đói
:
* L?n qu?t diờm th? hai :
- M?t bn an dó d?n s?n.
- Bỏt dia b?ng s? quớ giỏá .
- Cú c? m?t con ng?ng quay.
-> Sang tr?ng, d? d?y, sung su?ng.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm
Lo lắng bị cha mắng
Bữa ăn thịnh soạn.
Muốn được ăn no.
Bức tường dày đặc, lạnh lẽo.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ ba?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Cây thông no-en.
Muốn được vui chơi.
Tất cả những ngọn nến bay lên, gợi em suy nghĩ về cái chết.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 3: cây thông Nô-en -> Được vui đón Nô-en, xum họp gia đình.
:
* Lần quẹt diêm thứ ba:
- Cây thông Nô En với hàng ngàn ngọn nến sáng rực lấp lánh.
- Những ngôi sao trên trời.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm.
Lo lắng bị cha mắng.
Bữa ăn thịnh soạn.
Muốn được ăn no.
Bức tường dày đặc, lạnh lẽo.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ tư?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Cây thông no-en.
Muốn được vui chơi.
Tất cả những ngọn nến bay lên, gợi em suy nghĩ về cái chết.
Bà em mỉm cười với em.
Muốn được yêu thương.
Ảo ảnh về bà biến mất.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 4: thấy bà mỉm cười -> Nhớ tới bà, mong được yêu thương:
:
* Lần quẹt diêm thứ tưu :
- Bà nội hiện về mỉm cuười với em.
- Bà ơi cho cháu đi với.
- Cháu van bà, bà xin thuợng đế chí nhân cho cháu về với bà.
2. Thực tế và mộng tưởng của cô bé bán diêm:
Lò sưởi ấm áp.
Được sưởi ấm.
Lo lắng bị cha mắng.
Bữa ăn thịnh soạn.
Muốn được ăn no.
Bức tường dày đặc, lạnh lẽo.
Hãy nêu mộng tưởng của cô bé qua lần quẹt diêm thứ năm?
Ước mơ của em bé qua lần quẹt diêm này? Vì sao?
Khi diêm vụt tắt thì những thực tế nào đã thay thế?
Cây thông no-en.
Muốn được vui chơi.
Tất cả những ngọn nến bay lên, gợi em suy nghĩ về cái chết.
Bà em mỉm cười với em.
Muốn được yêu thương.
Ảo ảnh về bà biến mất.
Muốn níu bà lại… Hai bà cháu vụt lên cao… vế chầu thượng đế.
Không còn đói rét, đau buồn, đe doạ...
Em đi theo bà, em vĩnh viễn ra đi trong đói khát và rét buốt .
Những mộng tưởng ấy diễn ra có hợp lí không? Vì sao?
Thực tế và mộng tưởng xen kẽ nhau, diễn ra hợp lí gắn liền với hoàn cảnh của em bé.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Lần 5: cùng bà bay lên trời -> ở cùng bà, không muốn đói, rét:
Nhu c?u v? v?t ch?t
Nhu c?u v? tinh th?n
Ước mơ nào gắn với nhu cầu về vật chất?
Ước mơ nào gắn với nhu cầu về tinh thần?
Trong các mộng tưởng đó, điều nào gắn với thực tế, điều nào thuần túy chỉ là mộng tưởng?
+ Các mộng tưởng: lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nôen gắn với thực tế.
+ Con ngỗng quay nhảy ra khỏi đĩa, hai bà cháu bay lên trời chỉ thuần túy là mộng tưởng.
3. Sự ra đi của em bé:
Tác giả miêu tả sự ra đi của em bé như thế nào?
SÁNG HÔM SAU
- Mặt trời lên trong sáng, chói chang.
- Ở một xó tường.
- Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà.
- Em bÐ m¸ hồng, đôi m«i ®ang mØm cưêi.
- Mọi người bảo nhau : “Chắc nó muốn sưởi cho ấm”.
- Em đã chÕt v× ®ãi và rÐt buèt trong ®ªm giao thõa.
Khung cảnh, mọi người xung quanh
Cái chết của em.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Thực tế là đây!
Thi thể em giữa những bao diêm
3. Sự ra đi của em bé:
Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
SÁNG HÔM SAU
- Mặt trời lên trong sáng, chói chang.
- Ở một xó tường.
- Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà.
- Em bÐ m¸ hồng, đôi m«i ®ang mØm cưêi.
- Mọi người bảo nhau : “Chắc nó muốn sưởi cho ấm”.
- Em đã chÕt v× ®ãi và rÐt buèt trong ®ªm giao thõa.
Khung cảnh, mọi người xung quanh
Cái chết của em.
> <
Mọi người qua đường có thái độ gì trước sự ra đi của em bé?
Mọi người bảo nhau “chắc nó sưởi cho ấm.”
Lạnh lùng, vô cảm lúc em sống cũng như lúc em chết. Một xã hội bất công trước cuộc sống của người nghèo.
Tương phản, đối lập-> Thể hiện cái chết tội nghiệp và thương tâm: chết vì rét buốt, vì đói khát, xã hội lạnh lùng, thờ ơ trước cái chết của em.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
- Em chết vì rét buốt và đói khát.
- Người đời đối xử với em quá lạnh lùng.
- Cha đối xử với em thiếu tình thương.
Một cảnh thương tâm, em bé thật tội nghiệp.
- Nhà văn miêu tả thi thể em: Đôi má hồng, đôi môi đang mỉm cười.
Niềm cảm thông, thương yêu, đau xót của tác giả đối với em bé bất hạnh. Chính tình yêu thương ấy đã điểm tô cho cái chết đẹp đẽ như thiên thần.
3. Sự ra đi của em bé:
Trước cái chết của em bé, em có nhận xét gì về cách đối xử của người đời và của cha em?
Khách qua đường chẳng ai đoái hoài đến lời chào hàng của em, ngay cả khi nhìn thấy thi thể em vào sáng mùng một cũng thế.
Em có suy nghĩ gì về cái chết của cô bé?
Có gì đặc biệt trong cách miêu tả thi thể em bé?
Vì sao tác giả lại miêu tả như vậy?
Trong xã hội thiếu tình thương, nhà văn đã viết truyện với tất cả niềm cảm thông. Chính vì vậy mà nhà văn đã thêu dệt thi thể của cô bé, đồng thời hình dung ra cảnh huy hoàng hai bà cháu bay lên trời để đón lấy những niềm vui đầu năm.
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
3. Sự ra đi của em bé:
- Nghệ thuật:tương phản, bút pháp hiện thực kết hợp trữ tình, lãng mạn -> em bé đã được giải thoát.
-> Lên án những con người lạnh lùng, thờ ơ trước nỗi khổ của người khác.
Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật tương phản có tác dụng gì?
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Kể chuyện đan xen, đối lập giữa thực tế và mộng tưởng Nổi bật khát khao cháy bỏng và tình cảnh đáng thương của cô bé bán diêm/ của những người cùng khổ trong xã hội.
Tác giả đã thấu hiểu và nâng niu ước mơ tuổi thơ.
Phải biết trân trọng tình cảm gia đình và hạnh phúc bình dị bên người thân + Sống phải biết ước mơ, biết giữ tâm hồn trong sáng.
III. TỔNG KẾT:
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Tiết 17: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(An-đéc-xen)
Số phận bất hạnh của cô bé bán diêm (Cô bé bán diêm – An-đéc-xen)
Ở đất nước Đan Mạch xa xôi
Có cô bé bán diêm nghèo bất hạnh
Mẹ không còn, sống cùng cha ghẻ lạnh
Lấy rượu làm vui, quên mất đứa con thơ.
Đêm Nô-en lạnh lẽo những con đường
Em bé vẫn đầu trần, lang thang không bến đậu
Từng cánh cổng, bức tường và lòng người câm lặng
Em nép mình 1 góc nhỏ … cô đơn.
Trong đêm đông giá rét bơ vơ
Em nhớ tới người bà hiền hậu
Người đã cho em một thời thơ ấu
Êm đềm, hạnh phúc, được yêu thương
Sáng hôm sau con phố sáng tưng bừng
Tiếng cười nói xôn xao mừng năm mới
Người ta thấy em bên góc đường trơ trọi
Xung quanh em còn lại những tàn diêm.
Em ngước lên nhìn trời
Thiên đường cao vời vợi
Mẹ và bà có đợi
Ủ ấm em vào lòng.
1, 2, 3, 4, 5
Hết que này, que khác
Que diêm cuối cùng tắt
Thiên đường ở trên cao.
Tuyết phủ chỗ em ngồi
Mắt em nhắm lại rồi
Trái tim em bé bỏng
Thiên đường không đói rét
Thiên đường chẳng có diêm
Người qua đường náo nức
Từ nay không cơ cực
Chẳng ai còn gặp em
Rong ruổi trong bóng đêm.
Ước mơ em nhỏ lắm
Em cô bé bán diêm
Người giàu qua lặng lẽ
Người nghèo không có tiền
Em đâu dám về nhà
Trong màn đêm giá lạnh
Cây thông non gầy guộc
Bính bong... đêm Giáng sinh
Em quẹt diêm cho mình
Một mái nhà ấm cúng
Mùi ngỗng quay béo ngậy
Lò sưởi cháy hoà ca
Một que diêm sáng lên
Em gặp bà, gặp mẹ
Bà em còn rất trẻ
Mẹ em đẹp như tiên
Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước vào ngày 20/2/1990.
Ngày 20/11/1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước vào ngày 20/2/1990.
Chúng ta cần phải bảo vệ, che chở, chia sẻ và đùm bọc những đứa bé mồ côi, bất hạnh.
Một số hình ảnh về trẻ em lang thang ở Việt Nam
Nhìn những bức ảnh này em có suy nghĩ gì?
Đối với trẻ mồ côi, bất hạnh chúng ta
cần phải làm gì?
Chúng ta cần phải bảo vệ, che chở, chia sẻ và đùm bọc những đứa bé mồ côi, bất hạnh.
Đây là đoạn truyện mang đậm màu sắc cổ tích?
Em thấy trong phần truyện này có chỗ nào giống và khác với những truyện cố tích mà em đã biết?
- Giống: Có những mộng tưởng như những phép màu kì diệu.
- Khác: Đó là mộng tưởng, là những ảo ảnh không trở thành hiện thực.
IV. LUYỆN TẬP:
Bài tập 1:
Điểm giống và khác với những truyện cổ tích:
Theo em, vì sao nhà văn đã không để một bà tiên xuất hiện trong phần truyện này?
Nếu được tưởng tượng một kết thúc khác cho truyện, em sẽ định kể như thế nào?
Bài tập 2:
Bài tập 3:
Em bé mồ côi phải đi bán diêm trong đêm giao thừa rét buốt. Em chẳng dám về nhà vì sợ bố đánh, đành ngồi nép vào góc tường, liên tục quẹt diêm để sưởi. Hết bao diêm thì em bé chết cóng trong giấc mơ cùng bà nội bay lên trời. Sáng hôm sau, mồng 1 tết, mọi người qua đường vẫn thản nhiên nhìn cảnh tượng thương tâm.
Bài tập về nhà:
Những em bé trong đêm giao thừa thường được nhận sự quan tâm của gia đình. Giả sử em là cô bé bán diêm, em ước mơ điều gì? Với ước mơ đó, nếu em là người qua đường, em sẽ làm như thế nào?
Tóm tắt lại văn bản
请大家
投我一票
V. Vận dụng:
Tưởng tượng rằng em có mặt lúc cô bé đang bán diêm, lúc cô bé chết, em sẽ nói gì? Làm gì? Viết một đoạn kịch ngắn và diễn lại trong vòng 5 phút
请大家
投我一票
Hướng dẫn tự học
- Vẽ tranh về một chi tiết mà em thấy hay, thích.
- Viết một cái kết khác cho câu chuyện.
- Ghi lại cảm nhận của em về một hay vài chi tiết nghệ thuật tương phản trong đoạn trích.
- Học và làm bài tập bài: “Từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội”.
- Soạn bài: + “Trợ từ, thán từ”
+ Xem và trả lời câu hỏi SGK/ 69 72
Chúc các em vui, khỏe, chăm học!
 








Các ý kiến mới nhất