Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ngu van 8. bao cao chuyen de

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 22h:22' 23-04-2023
Dung lượng: 126.1 KB
Số lượt tải: 111
Số lượt thích: 0 người
Báo cáo chuyên đề:

DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
TRONG ĐỌC VĂN BẢN VĂN HỌC
MÔN NGỮ VĂN THCS

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận phẩm chất, năng lực
người học, từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan
tâm tới việc học sinh làm được gì qua việc học: “Học để biết, học để
làm, học để khẳng định bản thân, học để cùng chung sống.” (Unesco).
Có thể thấy, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực có vai trò quan
trọng trong việc “nâng cao chất lượng đào tạo trong giáo dục phổ thông
nói riêng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quốc gia nói
chung”.
Môn Ngữ văn trong hệ thống chương trình giáo dục phổ thông đóng
vai trò quan trọng trong việc phát triển phẩm chất, năng lực cho học
sinh. Một trong những phương pháp dạy học phát triển phẩm chất, năng
lực, đó là dạy học giải quyết vấn đề.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khái niệm
a. Dạy học giải quyết vấn đề
a.1. Tình huống có vấn đề
Tình huống có vấn đề là những trở ngại về trí tuệ của con người xuất
hiện khi người đó chưa biết cách giải quyết hiện tượng, sự kiện, quá
trình của thực tế; khi chưa đạt tới mục đích bằng cách thức, hành động
quen thuộc. Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích
hay hành động mới.

Một tình huống được coi là có vấn đề khi thỏa mãn ba điều kiện:
+ Tồn tại một vấn đề.
+ Gợi nhu cầu nhận thức.
+ Gợi niềm tin vào khả năng của bản thân.
Vấn đề trong tác phẩm văn học là mâu thuẫn giữa tri thức văn học, phương
thức phân tích, cắt nghĩa, bình giá tác phẩm ở học sinh với các giá trị nội dung
tư tưởng và giá trị thẩm mĩ cần tìm của tác phẩm. Mâu thuẫn này chỉ được giải
quyết bằng những nỗ lực hoạt động sáng tạo và cảm xúc thẩm mĩ của học sinh.
Nhưng làm thế nào để vấn đề trong tác phẩm văn học trở thành tình huống
có vấn đề đối với học sinh ?

a.2. Dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề là cách thức tổ chức dạy học, trong đó HS
được đặt trong một tình huống có vấn đề mà bản thân HS chưa biết cách
thức, phương tiện cần phải nỗ lực tư duy để giải quyết vấn đề.
Dạy học giải quyết vấn đề có các đặc điểm sau:
- HS được đặt vào tình huống có vấn đề chứ không phải được thông
báo dưới dạng tri thức có sẵn. Vấn đề được đưa ra giải quyết cần vừa
sức và gợi được nhu cầu nhận thức ở HS.
- HS được học cách phát hiện và giải quyết vấn đề.

b. Dạy học giải quyết vấn đề trong đọc văn bản văn học
Dạy học giải quyết vấn đề trong đọc văn bản văn học là điều rất khả
dĩ. Bởi với đặc thù bộ môn, thì mỗi văn bản đã chứa đựng những tình
huống có vấn đề để tác giả muốn gửi gắm đến bạn đọc. Đặc trưng của
văn bản văn học là đi sâu phản ánh hiện thực khách quan và khám phá
thế giới tình cảm, tư tưởng, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.
Nhà văn M.Gorki từng cho rằng: Tác phẩm văn học nào cũng có vấn đề.
Đó chính là cơ sở đầu tiên để xây dựng biện pháp dạy học này.
Văn bản văn học là loại hình nghệ thuật có tính đa nghĩa, là những
“kết cấu vẫy gọi” luôn hướng tới những “người đọc tiềm ẩn”, mở ra khả
năng “tạo tình huống có vấn đề”. Vì thế, khi dạy học đọc hiểu văn bản
văn học, giáo viên phải khơi gợi được những tình huống có vấn đề để
học sinh “giải mã”, qua đó khám phá tác phẩm văn học.

2. Cách tổ chức dạy học giải quyết vấn đề trong đọc văn bản văn học
2.1. Cách tiến hành
Cách thức tiến hành theo các bước cụ thể như sau:
Bước 1: Nhận biết vấn đề
Bước 2: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề
Bước 3: Thực hiện kế hoạch
Bước 4: Kiểm tra, đánh giá và kết luận

2.2. Điều kiện sử dụng
- Tình huống có vấn đề là điều kiện tiên quyết, nếu chưa tạo được tình
huống có vấn đề thì việc triển khai sẽ khó mang lại hiệu quả.
- GV cần tạo ra tình huống có vấn đề phù hợp, thu hút HS vào quá trình tìm
tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, không phải nội dung dạy học
nào cũng có thể phù hợp để xây dựng thành tình huống có vấn đề cho HS.
- Không nên sử dụng một cách gượng ép mà chỉ nên dùng khi phù hợp và
mang lại hiệu quả.
- Nếu giải quyết vấn đề được sử dụng cho các nhóm, vấn đề cần đủ phức
tạp để đảm bảo rằng tất cả các HS là thành viên trong nhóm đều phải làm việc
cùng nhau để giải quyết.
- Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo PPDH giải quyết vấn
đề đòi hỏi phải có thời gian phù hợp; thời điểm sử dụng cần linh hoạt.

- Sử dụng chuỗi các hoạt động học hoặc hệ thống câu hỏi có tầng
bậc, càng về sau hoạt động học hoặc câu hỏi càng có tác dụng hé mở
những điều cần thiết trong việc giải quyết vấn đề.
- Chuỗi các hoạt động học hoặc hệ thống câu hỏi cần gợi lên mâu
thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, hướng về vấn đề cần giải quyết.
- Nên sử dụng kết hợp với các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác để
mang lại hiệu quả cao nhất.
- Trong một số trường hợp, cần có thiết bị dạy học và các điều kiện
phù hợp để thực hiện hiệu quả phương pháp giải quyết vấn đề.

2.3. Xây dựng tình huống có vấn đề
2.3.1. Tạo tình huống có vấn đề
a. Tình huống lựa chọn
Tình huống lựa chọn là tình huống GV đặt HS trước một sự lựa chọn
rất khó khăn. HS được chọn một giải pháp trước hai hay nhiều phương
án giải quyết mà cái nào cũng có vẻ như có lí, có sức hấp dẫn. Tình
huống này đòi hỏi HS phải bộc lộ quan điểm, thái độ của bản thân với
mỗi vấn đề được nêu ra.

1):

Ví dụ: Văn bản “Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam (Ngữ văn 6, tập

GV nêu ra hai tình huống:
Có bạn cho rằng việc Sơn vội vã đi tìm cái Hiên để đòi lại chiếc áo
bông cũ đã làm giảm bớt thiện cảm nơi người đọc.
Có bạn cho rằng việc Sơn vội vã đi tìm cái Hiên để đòi lại chiếc áo
bông cũ vẫn không làm giảm bớt thiện cảm nơi người đọc.
Ý em như thế nào ?

b. Tình huống nghịch lí
Tình huống nghịch lí là những tình huống trái khoáy, ngược đời, trái
với lẽ thường. Tình huống này đòi hỏi HS phải huy động những kiến
thức tổng hợp để lí giải những vấn đề khó khăn mà tác phẩm đặt ra. Giải
quyết được vấn đề có nghĩa là HS đã tự nhiên chiếm lĩnh được tri thức.
Bởi vậy, trong khi dạy học tác phẩm văn học, GV cần chú ý phát hiện
tình huống nghịch lí từ những điều trái với tự nhiên, trái với lẽ thường
trong cuộc sống và nêu ra để HS tham gia giải quyết. Tình huống này sẽ
giúp các em ngộ ra nhiều điều lí thú mới mẻ, bổ ích trong bài học và
trong cuộc sống.
Ví dụ : Văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” của Nguyễn Ngọc
Thuần (Ngữ văn 7, tập 1):
Tại sao bố tôi ít khi nào ăn ổi, nhưng vì bạn Tí, bố ăn ?

c. Tình huống nhân quả
Đó là tình huống GV yêu cầu HS đi tìm nguyên nhân của một kết
quả, bản chất của một hiện tượng, nguồn gốc quy luật của một sự kiện,
động cơ sâu xa của một hành vi nào đó. Tình huống này đòi hỏi HS phải
trả lời câu hỏi “Tại sao?” và để trả lời thấu đáo, các em cần phải thảo
luận, tranh luận để đi đến câu trả lời thuyết phục nhất. Các em được thể
hiện khả năng phán đoán, suy luận của mình trước những tình huống đặt
ra.

Ví dụ 1: Văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”- Nguyễn Ngọc
Thuần (Ngữ văn 7, tập 1):
Tại sao tác giả không đặt nhan đề “Vừa mở mắt vừa mở cửa sổ” mà
“Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” ?
Ví dụ 2: Dạy học văn bản “Thánh Gióng” (Ngữ văn 6, tập 2):
Vì sao hội thi thể dục thể thao trong nhà trường lại có tên gọi là Hội
khỏe Phù Đổng?

d. Tình huống giả định
Tình huống giả định là tình huống GV nêu ra một số giả thiết nào đó
khi phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ vấn đề cần tìm hiểu.
Ví dụ: Dạy học văn bản “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen (Ngữ văn
6, tập 1):
Nếu em bé bán diêm sống trong xã hội ngày nay thì em bé có chết
một cách thương tâm như thế không ?

e. Tình huống phản bác
Đó là tình huống GV cố tình đưa ra ý kiến sai lệch, thiếu chính xác
để HS dùng lập luận bác bỏ ý kiến này và đưa ra ý kiến đúng đắn trên
cơ sở nắm vững nội dung bài học. Tình huống này đòi hỏi HS dùng lí lẽ
và dẫn chứng để phản bác ý kiến sai lệch và thuyết phục mọi người
bằng ý kiến đúng.

Ví dụ: Văn bản “Trong lòng mẹ” (trích “Những ngày thơ ấu”) của
Nguyên Hồng (Ngữ văn 7, tập 1):
GV tạo tình huống: Cảnh cậu bé Hồng nằm trong lòng mẹ là một thế
giới buồn thỉu buồn thiu.
->HS phản hồi, phản biện: “- Dạ, thưa thầy… chúng em không đồng
ý ạ! Cảnh cậu bé Hồng nằm trong lòng mẹ là một thế giới diệu kì, tràn
ngập ánh sáng, rực rỡ sắc màu, hương hoa thơm ngát. Một thế giới đang
hồi sinh, bừng nở trở lại. Một thế giới dịu dàng kỉ niệm và ăm ắp tình
mẫu tử thiêng liêng.”.

g. Tình huống bế tắc
Tình huống bế tắc là xây dựng tình huống phản hồi của HS, trong đó
phải chứa đựng “nút” bế tắc là cho HS thoạt đầu không lấy kiến thức cũ
để giải quyết được.

1):

Ví dụ: Dạy học văn bản “Lão Hạc” của Nam Cao (Ngữ văn 8, tập

GV: Lão Hạc phải chọn cái chết bởi vì già yếu không làm được gì
nữa; đói khổ, túng quẫn, không có lối thoát; thương con; giàu lòng tự
trọng. Nếu lão sống thêm thì sẽ ăn vào đồng tiền, vào cái vốn liếng cuối
cùng để dành cho con; ăn hết đi thì đến lúc chết lấy tiền đâu mà lo ma
chay cho mình, làm phiền hà bà con làng xóm; ăn hết thì dễ để cái đói
dồn đẩy vào con đường tha hóa, biến chất (đi ăn trộm, ăn cắp kiểu như
Binh Tư hay rạch mặt ăn vạ kiểu như Chí Phèo).

- HS phản hồi: Lão Hạc chọn cái chết là bi quan, yếm thế (bất luận, dẫu cuộc
sống nghiệt ngã như thế nào đi chăng nữa cũng không được chết.
- HS khác: Đúng vậy, sống vẫn hơn chết. Nhà văn Lép Tôn-xtôi có kể:
Một lần ông già đẵn xong củi và mang về. Phải mang đi xa ông già kiệt sức, đặt
bó củi rồi nói:
- Chà, giá Thần Chết đến mang ta đi có phải hơn không!
Thần Chết đến và bảo:
- Ta đây, lão cần gì nào ?
Ông già sợ hãi bảo:
- Lão muốn ngài nhấc hộ bó củi lên cho lão.
Truyện này khuyên chúng ta phải yêu cuộc sống, dù kiệt sức thì sống vẫn hơn.
- HS khác nữa: Vậy, dạ thưa thầy, nếu thầy và các bạn là tác giả của truyện ngắn
“Lão Hạc” thì thầy và các bạn sẽ kết thúc truyện ra sao (để lão Hạc chết hay để lão
Hạc sống) ?

2.3.2. Giáo viên tạo tình huống để học sinh tự đặt câu hỏi tình
huống có vấn đề
Trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề, người nêu và giải quyết vấn
đề có thể là GV, có thể là HS, cũng có thể là GV và HS đồng song hành.
Có ông bố rất quan tâm tới việc học của con, hôm nào, đứa con đi
học về ông cũng hỏi: “Hôm nay ở trường, con hỏi thầy được bao nhiêu
câu ?”. Thế tại sao ông không hỏi: “Hôm nay con học được bao nhiêu
điểm ?” ?
Rõ ràng, vấn đề hỏi là vấn đề quan trọng. Dạy học hiện nay là phát
triển phẩm chất, năng lực. Nghĩa là cải tiến việc dạy học theo hướng
giúp HS biết cách tự học, tự rèn luyện kĩ năng sống: Học - Hỏi - Hiểu Hành. HS phải học cách hỏi, cách tự hỏi và cách hỏi người khác, qua đó
giúp HS “tư duy sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề”.

Ví dụ 1: Văn bản “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” - Nguyễn Ngọc Thuần
(Ngữ văn 7, tập 1):
- GV tạo tình huống (GV bình): Bạn hãy nhắm mặt lại để lắng nghe
những âm thanh gần gũi, bình dị, thân thương của cuộc sống vọng về. Bạn
hãy nhắm mặt lại để lắng nghe những mùi hương quen thuộc của các loài hoa
trong khu vườn nhà bạn. Bạn hãy nhắm mắt lại để nghe từng tiếng bước chân,
từng hơi thở của những người thân trong gia đình. Bạn hãy nhắm mắt lại…
- HS đặt câu hỏi ngược lại: Dạ thưa thầy, thưa các bạn… có khi nào bạn
nhắm mặt lại mà không thấy, không nghe, không ngửi, không cảm nhận được
một điều gì không ? Nghĩa là “nhắm mắt” mà “không mở được cửa sổ” ?
(Khi tâm hồn ta lụi tàn, úa héo, vô cảm; khi hồn ta chưa rộng mở yêu
thương)
Ví dụ 2: (Xem ví dụ nói về cái chết của lão Hạc trên đây).

3. Vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong đọc văn
bản văn học
Phương pháp giải quyết vấn đề có thể vận dụng ở các tiến trình, các
khâu, các hoạt động trong giờ dạy học đọc văn bản: Kiểm tra bài cũ, học
bài mới, chuẩn bị ở nhà; trước khi đọc, trong khi đọc, sau khi đọc; khởi
động, khám phá (hình thành kiến thức mới), luyện tập (vận dụng), mở
rộng…

III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Hi vọng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề sẽ góp phần
vào việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực cho HS. Tuy nhiên, việc
áp dụng phương pháp này như thế nào cho có hiệu quả cần cân nhắc sao
cho hợp lí, linh hoạt và sáng tạo.
 
Gửi ý kiến