Tuần 16. Người lái đò Sông Đà (trích)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần hạ quyên
Ngày gửi: 10h:46' 16-09-2021
Dung lượng: 46.7 KB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: Trần hạ quyên
Ngày gửi: 10h:46' 16-09-2021
Dung lượng: 46.7 KB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Nguyễn Tuân
1. Tác giả
Phong cách sáng tác:
+ Thể hiện rõ nét chất tài hoa, uyên bác.
+ Thường tiếp cận, phát hiện, miêu tả sự vật ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ, nhân vật là những con người tài hoa, nghệ sĩ.
Tác phẩm
a.Xuất xứ - Hoàn cảnh sáng tác
Trích tùy bút Sông Đà (1960), gồm 15 tùy bút. Người lái đò sông Đà là kết quả của nhiều dịp Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Đây là những năm miền Bắc bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh và khởi sắc trong cuộc xây dựng mới, chinh phục thiên nhiên.
b. Thể loại
Tùy bút
c. Đề tài
- Vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc qua hình ảnh sông Đà hung bạo, trữ tình.
- Vẻ đẹp con người lao động Tây Bắc qua hình ảnh của những người lái đò trên sông.
Giai đoạn xây dựng XHCN ở miền BẮC(LẶNG lẽ Sa Pa, Tiếng chổi tre…)
1. Ý nghĩa lời đề từ
- “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” -> tôn vinh giá trị người lao động trên sông nước - ông lái đò sông Đà hàng ngày phải chiến đấu với thiên nhiên dữ dội, hung bạo, một người lao động bình thường mà tài hoa, nghệ sĩ
=>Nguyễn Tuân cũng đã gọi đó là thứ “vàng mười” đã qua thử lửa.
- “Chúng thủy giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu”: Mọi con sông đều chảy về hướng Đông, riêng con sông Đà chảy theo hướng Bắc.
→ Sông Đà bướng bỉnh đã không chịu khép mình theo qui luật của mọi dòng sông. Nó tự tìm đến một miền đất lạ để thỏa khát vọng vẫy vùng.
Hình tượng sông Đà
a. Nguồn gốc
Khai sinh ở huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc
Sông Đà hung bạo
So sánh, nhân hóa, liên tưởng, vận dụng nhiều kiến thức khác nhau
XA -> GẦN
“cảnh đá bờ sông dựng vách thành”, “có vách đá thành chẹt lòng sông như một cái yết hầu”…
VÁCH ĐÁ
MẶT NƯỚC
“Quãng mặt ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”.
- quãng Tà Mường Vát: “Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút nước xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn”.
ÂM THANH
tiếng thác nước: “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “giọng gằn mà chế nhạo”, “rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng”.
THẠCH TRẬN
Vòng 1:
5 tử- 1 sinh-> nằm lập lờ phía tả ngạn
Vòng 2:
Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào”,
Vòng 3:
ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng thứ ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ”.
NHAM HIỂM, THIỆN CHIẾN, KẺ THÙ SỐ 1 CỦA NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
TỔNG KẾT
1. Nội dung
Người lái đò sông Đà là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu đất nước say đắm, thiết tha của một con người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp kì vĩ, hào hùng, vừa trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên và nhất là con người lao động.
2. Nghệ thuật
- Sông Đà được Nguyễn Tuân nhìn bằng con mắt của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, quân sự, võ thuật, địa lí, lịch sử; ngôn ngữ giàu hình ảnh, phóng túng nhưng chọn lọc, hàm súc.
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh.
- Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ.
- Có cảm hứng đặc biệt với những cái phi thường: hùng vĩ của sông Đà, sự tài hoa của người lái đò.
Nguyễn Tuân
1. Tác giả
Phong cách sáng tác:
+ Thể hiện rõ nét chất tài hoa, uyên bác.
+ Thường tiếp cận, phát hiện, miêu tả sự vật ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ, nhân vật là những con người tài hoa, nghệ sĩ.
Tác phẩm
a.Xuất xứ - Hoàn cảnh sáng tác
Trích tùy bút Sông Đà (1960), gồm 15 tùy bút. Người lái đò sông Đà là kết quả của nhiều dịp Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Đây là những năm miền Bắc bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh và khởi sắc trong cuộc xây dựng mới, chinh phục thiên nhiên.
b. Thể loại
Tùy bút
c. Đề tài
- Vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc qua hình ảnh sông Đà hung bạo, trữ tình.
- Vẻ đẹp con người lao động Tây Bắc qua hình ảnh của những người lái đò trên sông.
Giai đoạn xây dựng XHCN ở miền BẮC(LẶNG lẽ Sa Pa, Tiếng chổi tre…)
1. Ý nghĩa lời đề từ
- “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sông” -> tôn vinh giá trị người lao động trên sông nước - ông lái đò sông Đà hàng ngày phải chiến đấu với thiên nhiên dữ dội, hung bạo, một người lao động bình thường mà tài hoa, nghệ sĩ
=>Nguyễn Tuân cũng đã gọi đó là thứ “vàng mười” đã qua thử lửa.
- “Chúng thủy giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu”: Mọi con sông đều chảy về hướng Đông, riêng con sông Đà chảy theo hướng Bắc.
→ Sông Đà bướng bỉnh đã không chịu khép mình theo qui luật của mọi dòng sông. Nó tự tìm đến một miền đất lạ để thỏa khát vọng vẫy vùng.
Hình tượng sông Đà
a. Nguồn gốc
Khai sinh ở huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc
Sông Đà hung bạo
So sánh, nhân hóa, liên tưởng, vận dụng nhiều kiến thức khác nhau
XA -> GẦN
“cảnh đá bờ sông dựng vách thành”, “có vách đá thành chẹt lòng sông như một cái yết hầu”…
VÁCH ĐÁ
MẶT NƯỚC
“Quãng mặt ghềnh Hát Loóng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm”.
- quãng Tà Mường Vát: “Trên sông bỗng có những cái hút nước giống như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút nước xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn”.
ÂM THANH
tiếng thác nước: “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, “giọng gằn mà chế nhạo”, “rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng”.
THẠCH TRẬN
Vòng 1:
5 tử- 1 sinh-> nằm lập lờ phía tả ngạn
Vòng 2:
Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào”,
Vòng 3:
ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng thứ ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ”.
NHAM HIỂM, THIỆN CHIẾN, KẺ THÙ SỐ 1 CỦA NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
TỔNG KẾT
1. Nội dung
Người lái đò sông Đà là một áng văn đẹp được làm nên từ tình yêu đất nước say đắm, thiết tha của một con người muốn dùng văn chương để ca ngợi vẻ đẹp kì vĩ, hào hùng, vừa trữ tình, thơ mộng của thiên nhiên và nhất là con người lao động.
2. Nghệ thuật
- Sông Đà được Nguyễn Tuân nhìn bằng con mắt của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, quân sự, võ thuật, địa lí, lịch sử; ngôn ngữ giàu hình ảnh, phóng túng nhưng chọn lọc, hàm súc.
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh.
- Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ.
- Có cảm hứng đặc biệt với những cái phi thường: hùng vĩ của sông Đà, sự tài hoa của người lái đò.
 







Các ý kiến mới nhất