Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

[MỜI HỢP TÁC] Các kỳ thi Olympic Quốc tế 2026 (IMO - IEO - ISO)

Kính gửi Quý Lãnh đạo, Ban Giám hiệu và Quý Thầy/Cô, FermatTech (Đối tác Google tại VN) phối hợp cùng SCO Ấn Độ trân trọng kính mời tham gia 3 kỳ thi uy tín dành cho HS từ lớp 1 - 12: - IMO: Olympic Toán Quốc tế. - IEO: Olympic Tiếng Anh Quốc tế. - ISO: Olympic Khoa học...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 9. Nhật Bản

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Trí Thịnh
Ngày gửi: 11h:26' 18-04-2008
Dung lượng: 7.4 MB
Số lượt tải: 194
Số lượt thích: 0 người
QUỐC KỲ
QUỐC HUY
KHẨU HIỆU : Hòa Bình và Tiến Bộ
NGÔN NGỮ: Tiếng Nhật
CHÍNH PHỦ: Quân Chủ Lập Hiến
I/ TỰ NHIÊN:
Thủ đô: Tokyo (35o41’B, 139o46’Đ)
Diện tích:
- Đất liền: 378 nghìn km2(thứ 60 thế giới)
- Lãnh hải: 3091 km2
1/ Vị trí
Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của
Thái Bình Dương và nằm trên vành đai núi lửa Thái
Bình Dương.
Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật
Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển
Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía
Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana.
Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là
biển. Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hãy lãnh thổ
nào trên đất liền. Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và
bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách
các đảo chính của Nhật Bản vài chục km.
Xét theo kinh độ và vĩ độ, các điểm cực của
Nhật Bản như sau:

- Điểm cực Đông: 24 độ 16 phút 59 giây Bắc,
153 độ 59 phút 11 giây Đông.
- Điểm cực Tây: 24 độ 26 phút 58 giây Bắc,
122 độ 56 phút 01 giây Đông.
- Điểm cực Bắc: 45 độ 33 phút 21 giây Bắc,
148 độ 45 phút 14 giây Đông.
- Điểm cực Nam: 20 độ 25 phút 31 giây Bắc,
136 độ 04 phút 11 giây Đông.
CÁC ĐẢO VÀ QUẦN ĐẢO:
Nhật Bản bao gồm khoảng 6800 đảo lớn nhỏ trong đó có nhiều
đảo không người trải dài dọc biển Thái Bình Dương của Châu Á.
Các đảo có diện tích lớn nhất (xếp từ lớn đến bé) là: Honshu
(Bản Châu) chiếm khoảng 61% tổng diện tích, Hokkaido (Bắc
Hải Đạo), Kyushu (Cửu Châu) và Shikoku (Tứ Quốc).
Các đảo Nhật Bản là một phần của dải núi ngầm trải dài từ
Đông Nam Á tới Alaska.
Đất đai của Nhật Bản là một dãy hải đảo trải theo hình vòng
cung bên cạnh phía Đông của lục địa châu Á,dài 3.800 km.
2/ ĐỊA HÌNH
Các đảo và quần đảo của Nhật Bản
Thực tế thì đối với người Nhật họ thường không tính 4
hòn đảo này khi nói đến đảo. Khi nói đến đảo, họ
thường nói đến những hòn đảo nhỏ hơn rải rác xung
quanh các đảo lớn.
Trong các đảo nhỏ đó, lớn nhất và quan trọng nhất là
đảo Okinawa, thuộc quần đảo Ryukyu, phía nam
Kyushu.
Okinawa nằm giữa đường kéo dài từ mỏm phía cực tây
của đảo Honshu tới đảo Đài Loan. Hòn đảo Okinawa
này tuy thuộc về Nhật Bản nhưng trước kia do ở khá xa
phần đất chính nên đã phát triển được một thứ văn hóa
riêng và một số điểm khác biệt với nếp sống của bốn
hòn đảo lớn.
Ngoài ra,còn có thể kể đến đảo Sado,
nằm ở khu vực bắc trung bộ của đảo
Honshu trên biển Nhật Bản. Diện tích
của đảo này là 857 km2 và chu vi của
nó là khoảng 217 km.
ĐỒI NÚI
- Địa hình chủ yếu là đồi núi và núi lửa (chiếm khoảng 70%-
80% tổng diện tích tự nhiên cả nước).
Trong các dãy núi lớn, nổi tiếng nhất là 3 dãy núi thuộc
Alps Nhật Bản.
Các dãy núi phần nhiều là từ đáy biển đội lên và có hình
cánh cung.
Núi cao trên 3000m ở Nhật Bản có đến hơn một chục ngọn.
Trên dãy Alps Nhật Bản tập trung khá nhiều đỉnh có độ cao
trên 2500m.
Ba dãy núi thuộc dãy Alps Nhật Bản
và các núi cao trên 2500m ở Nhật Bản
Tại Nhật, một số núi có nguồn gốc từ núi lửa.
Có khoảng 80 núi lửa hoạt động. Người ta nói rằng 10% của 800
núi nửa hoạt động trên thế giới tập trung tại Nhật Bản.Tại Nhật có
7 vành đai núi lửa chạy dọc từ bắc chí nam, trong đó có vài núi
lửa đang hoạt động. Núi nổi tiếng nhất và cao nhất là núi Phú Sĩ.
VÀNH
ĐAI
LỬA
THÁI
BÌNH
DƯƠNG
VỊ TRÍ: Bên bờ biển Đông, phía Nam đảo Benzhou, cách Tokyo 80 dặm
về phía Đông, thuộc địa phận 2 huyện Jinggang và Sangli.
ĐỘ CAO ĐỈNH NÚI: 3776 mét
DIỆN TÍCH: 90,76 km2
ĐƯỜNG KÍNH MIỆNG NÚI: khoảng 700 mét
ĐƯỜNG KÍNH CHÂN NÚI: gần 40 km
ĐỘ SÂU: khoảng 220 mét
- So với đỉnh Everest cao 8.848 mét thì núi Phú Sĩ không thấm vào đâu
nhưng nó trở thành cảnh quan đại diện cho Nhật Bản bởi hình dáng
tuyệt đẹp với hình nón gần như cân tuyệt đối trải dài tới mặt đất.
- Trong quan niệm của người Nhật, núi Phú Sĩ tượng trưng cho sự tốt
lành. Ngọn núi uy nghi, tượng trưng cho tinh thần kiên cường, bất
khuất của người dân Nhật Bản. Họ miêu tả núi Phú Sĩ “như chiếc quạt
bằng ngọc treo ngược trên bầu trời biển Đông, tuyết trắng trên núi
phản chiếu ánh sáng rực rỡ của mặt trời”
- Ở phía bắc chân núi Phú Sĩ có 5 hồ nước trong vắt, giống như những
viên ngọc khảm vào thân núi. Đó là các hồ Bản Tây, Tịnh Tiến, Tây,
Cửa Sông và Sơn Trung.
- Về phía nam núi Phú Sĩ có một vùng đồng bằng rộng lớn, có hai thác
nước nổi tiếng là thác Bạch Hề và Âm Chỉ.
- Hình dáng cân đối tuyệt vời của núi Phú Sĩ đã đi vào rất nhiều văn, thơ.
Có rất nhiều họa sĩ nổi tiếng thử sức bằng việc vẽ tranh núi Phú Sĩ.
Trong số đó nổi tiếng nhất là bức Phú Sĩ ba mươi sáu cảnh (Fugaku
Sanju-rokkei) của họa sĩ Katsushika Hokusai (1603-1867) thời Edo.
Một số hình ảnh của núi Phú Sĩ
Phú Sĩ
ba mươi sáu cảnh
của Katsushika Hokusai

Bức tranh vẽ phong cảnh quanh
núi Phú Sĩ
Núi Phú Sĩ đã phun nham thạch hàng trăm lần. Từ năm 781 đến
nay, núi Phú Sĩ đã phun 18 lần. Lần phun gần nhất là năm 1707,
tro bụi bay đến bám đầy nóc nhà ngoại thành Tokyo. Sau lần
phun lửa đó, núi Phú Sĩ đi vào giấc ngủ cho đến nay.
Tuy nhiên không thể nói chắc chắn 100% rằng núi Phú Sĩ không
phun trở lại.
Các nhà khoa học Nhật Bản dùng kỹ thuật và thiết bị hiện đại
nhất để thăm dò, nghiên cứu núi Phú Sĩ.
Họ thấy rằng, hằng năm, ngọn núi này có 10 lần động đất và
phun lửa nhỏ, nằm sâu trong lòng đất, không có phun lửa ra khỏi
mặt đất, nhưng ở nhiều cho trên thân núi vẫn thường phun hơi
nóng từ bên trong ra ngoài.
Dấu hiệu này chứng tỏ núi Phú Sĩ có thể phun lửa trở lại bất cứ
lúc nào, để tỏ rõ “uy quyền thần thánh” của nó.
* Đi kèm với núi lửa là khoảng
2800 suối nước nóng tại Nhật
Bản đồ
phân bố các suối nước nóng ở Nhật
BỒN ĐỊA VÀ CAO NGUYÊN
Nhật Bản có trên 60 bồn địa- những vùng đất trũng giữa các núi,khoảng
gần 40 cao nguyên và cụm cao nguyên (những cao nguyên liền kề nhau).
Giữa các núi có những bồn địa nhỏ, các cao nguyên và cụm cao nguyên.
BÌNH NGUYÊN
Nhật Bản có gần 60 bình nguyên nằm ở ven biển (đồng bằng ven biển), nơi có sông đổ ra. Tổng diện tích các bình nguyên bằng khoảng 20% diện tích cả nước.
Các bình nguyên nhìn chung đều hẹp. Bình nguyên lớn nhất là bình nguyên Kanto.
Bình nguyên Kanto
Nhật Bản có số lượng sông suối nhiều, nhưng độ dài của sông
không lớn.
Dòng sông dài nhất Nhật Bản là sông Shinano bắt nguồn từ
vùng phía đông tỉnh Nagano chảy qua vùng trung tâm tỉnh
Nigata rồi đổ ra biển Nhật Bản tại thị xã Niigata.
- Sông Shinano dài 367 km không thấm gì so với các dòng sông
nổi tiếng trên thế giới .Tuy nhiên sông này lại tương đối dài nếu
so với qui mô của nước Nhật.
- Vì Nhật Bản là một quốc gia toàn núi cho nên các dòng sông
thường chảy xiết trong đó có sông dài thứ hai, sông Tone chảy
qua đồng bằng Kanto và sông dài thứ 3, sông Ishikari của
Hokkaido.
SÔNG HỒ
Sông Shinano
Sông Ishikari
Sông Tone
Rất khó có thể nói chính xác có bao nhiêu hồ nhưng nếu là hồ
rộng trên 1 km2 thì có khoảng 100 hồ.
Hồ rộng nhất là hồ Biwa (Tì bà hồ) Hồ Biwa là một trong những
hồ nước trong cổ nhất trên thế giới.
Người ta tin rằng hồ này có từ khoảng 500 vạn năm trước. Do
sự biến đổi địa tầng, hồ bị dịch chuyển từ địa phận tỉnh Mie ngày
nay theo hướng bắc tới tỉnh Shiga và đạt được vị trí như hiện
nay là vảo khoảng 120 vạn năm về trước.
Diện tích hồ là 673 ki lô mét vuông, nhỏ hơn nhiều so với các hồ
nước trong khác trên thế giới như hồ Lớn (82.360 ki lô mét
vuông), hồ Huron (59.570 ki lô mét vuông).
Vị trí hồ Tì Bà (Biwa)
BIỂN VÀ BỜ BIỂN
Trên biển, Nhật Bản có vùng đặc quyền kinh tế với đường viền danh
nghĩa cách bờ biển 200 hải lý, song trên thực tế ở các vùng biển Nhật
Bản và biển Đông Hải thì phạm vi hẹp hơn nhiều do đây là các biển
chung.
Tương tự, vùng lãnh hải của Nhật Bản không phải hoàn toàn có đường
viền cách bờ biển 12 hải lý. Đường bờ biển của Nhật Bản có tổng
chiều dài là 33.889 km.
- Nhật Bản có bờ biển dài với nhiều loại địa hình.
Bờ biển Sanriku, Shima, Wakasa, Seto Naikai, Tây Kyushu nhiều chỗ
ăn sâu vào đất liền và có nhiều cửa sông. Trong khi đó bờ biển
Hokkaido, Shimokitahonto, Kashimanada, Enshunada, và bờ biển Nhật
Bản lại ít thay đổi, có nhiều bãi cát và cồn cát.

Sự phức tạp trong việc hình thành bờ biển làm cho phong cảnh trở
nên đẹp một cách hùng vĩ từ vùng này tới vùng khác.
Bờ biển Hokkaido
Bờ biển Kashimanada
Bờ biển Sanriku
Bờ biển Wakasa
Xung quanh Nhật Bản là một loạt các biển thông nhau:
+ Phía Đông và phía Nam là Thái Bình Dương.
+ Phía Tây Bắc là biển Nhật Bản.
+ Phía Tây là biển Đông Hải.
+ Phía Đông Bắc là biển Okhotsk.
+ Vùng biển xung quanh các quần đảo Izu, Ogasawara, Nansei của Nhật Bản
chính là biển Philippines.
+ Vùng biển nằm giữa Honshu và Shikoku gọi là biển Seito Naikai.
3/ KHÍ HẬU
Đặc điểm lớn nhất của khí hậu Nhật Bản là có bốn muà Xuân, Hạ,
Thu, Đông rõ rệt:
+ Mùa xuân từ tháng Ba tới tháng Năm, hoa anh đào nở dần từ
nam lên bắc.
+ Mùa hạ từ tháng Sáu tới tháng Tám, cây cối xanh mướt. .
+ Mùa thu từ tháng Chín tới tháng Mười Một, lá phong đỏ thắm
từ bắc xuống nam.
+ Mùa đông từ tháng Mười Hai tới tháng Hai, tuyết trắng tinh
khôi.
Vào mùa đông phần biển Nhật Bản có nhiều tuyết rơi cũng là
một đặc điểm của khí hậu Nhật Bản.
Mùa Xuân
Mùa Hạ
Mùa Thu
Mùa Đông
Vậy mùa nào là mùa đẹp nhất ở Nhật?
Như Sei Shonagon, một tác giả nữ thế kỉ thứ 10 đã viết,
mỗi mùa có cái thú riêng của nó.
Bà viết "Bình minh đẹp nhất trong mùa xuân, đêm đẹp
nhất trong mùa hạ, hoàng hôn đẹp nhất trong mùa thu
và buổi sớm ban mai đẹp nhất trong mùa đông."
Mặc dầu vậy, phần lớn người Nhật nói rằng mùa đẹp
nhất là mùa xuân và mùa thu. Đặc biệt là đầu tháng
Năm khi cây lá xanh tươi và khoảng từ cuối tháng Chín
tới giữa tháng 11 mùa lá đỏ. Họ thích những khoảng
thời gian này vì thời tiết ổn định, lý tưởng cho việc đi
du lịch.
Do địa thế và lãnh thổ trải dài 25 độ vĩ tuyến, khí hậu của Nhật Bản
cũng phức tạp:
+ Vùng Hokkaido và các cao nguyên có khí hậu á hàn đới
+ Các quần đảo ở phương Nam có khí hậu cận nhiệt đới
+ Các nơi khác có khí hậu ôn đới
Mùa đông, áp cao lục địa từ Siberi thổi tới khiến cho nhiệt độ không khí
xuống thấp; vùng Thái Bình Dương có hiện tượng foehn - gió khô và
mạnh.
Mùa hè, đôi khi nhiệt độ lên đến trên 30oC, các khu vực đô thị có thể
lên đến gần 40oC. Không khí mùa hè ở các bồn địa nóng và ẩm.
Vùng ven Thái Bình Dương hàng năm chịu một số cơn bão lớn.
Mùa hè và mùa đông tại Nhật Bản là hai thái cực ( nhiệt độ có thể
chênh nhau trên 30oC) trong khi mùa xuân và mùa thu có thời tiết
tương đối dịu hơn, với ít mưa và các ngày quang đãng.
Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40,9oC - đo được vào
16 tháng 8, 2007.
Sự phân bố các dòng biển nóng và lạnh, các loại gió mùa ở Nhật
Mùa mưa chính bắt đầu từ đầu tháng 5 tại Okinawa; trên phần
lớn đảo Honshu, mùa mưa bắt đầu từ trước giữa tháng 6 và kéo
dài 6 tuần. Vào cuối hè và đầu thu, các cơn bão thường mang
theo mưa nặng.
Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng, phản ánh
khí hậu và địa lý của các hòn đảo.
Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo Ryukyu
và Bonin tới các rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các
vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính, tới rừng ôn đới lá kim
vào mùa đông lạnh trên các phần phía Bắc các đảo
4/ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN
- Nhật Bản là quốc gia có rất ít tài nguyên thiên nhiên.
Trên các đảo Hokkaido và Kyushu có các mỏ than và kỹ nghệ
khai mỏ lên tới cực điểm vào năm 1941, ngày nay hầu như các
hầm mỏ này không hoạt động
Tất cả khoáng sản khác, kể cả dầu thô, đều phải nhập cảng từ
nước ngoài.
Tại Nhật Bản, cây rừng cũng là một nguồn tài nguyên. Gỗ được
dùng cho kỹ nghệ xây nhà và làm giấy nhưng việc sản xuất nội
địa đã giảm hẳn vì Nhật Bản ưa nhập cảng loại gỗ rẻ tiền hơn từ
các quốc gia nhiệt đới thuộc vùng Đông Nam Á.
- Một tài nguyên khác của Nhật Bản là cá biển. Nhật Bản có các
hạm đội tàu đánh cá rất lớn, hoạt động trong các hải phận quốc
tế.
Ngoài than đá (trữ lượng không nhiều) và đồng, các khoáng sản
khác có trữ lượng không đáng kể.
BẢN ĐỒ PHÂN BỐ CÁC LOẠI KHOÁNG SẢN Ở NHẬT
Nhật Bản có hệ thống các lòai thực vật và động vật rất đa dạng và phong
phú trải dài từ Bắc xuống Nam.
Thực vật và động vật tại Nhật Bản qua nhiều thế kỷ đã bị ảnh hưởng do
sự du nhập từ các quốc gia khác. Trong thời kỳ Minh Trị (1858-1912),
đã có từ 200 tới 500 loại cây được đưa vào Nhật Bản, phần lớn từ châu
Âu rồi về sau này từ Hoa Kỳ.
Nhật Bản vào thời cổ xưa đã được nối với châu Á nhờ thế đã có các thú
vật di cư từ Triều Tiên và Trung Hoa qua.
Nhật Bản có các loại thú đặc biệt,
chẳng hạn như loài gấu nâu của
đảo Hokkaido cao tới 2 mét và nặng
400 kilôgam và loài gấu nâu châu Á
nhỏ hơn,cao tới 1,4 mét và nặng 200
kilôgam.Một giống thú đặc biệt khác là
loài khỉ cỡ trung bình,cao khoảng 60
phân và có đuôi ngắn, thường thấy
trên các đảo Honshu, Shikoku và
Kyushu.
Những con khỉ Nhật Bản đang ngâm mình trong một suối nước nóng để tránh rét.
Tuy nhiên, do sự phát triển đô thị, do các loại kĩ nghệ và việc bành
trướng du lịch, môi trường sống của một số sinh vật đã bị ảnh hưởng
xấu:
+ Loại hạc rất đẹp của hòn đảo Hokkaido đã từng làm đề tài cho các
bức danh họa nhiều thế kỷ trước, nay đã bị tuyệt chủng.
+ Sự ô nhiễm các dòng sông đã làm chết đi các loại cá chép và cá hồi.
+ Loại gấu màu nâu cũng biến đi dần.
+ Loại khỉ macaca chỉ còn thấy tại khu vực Nagano.
+ Các khu giải trí dưới mặt nước cũng làm hư hỏng các vùng biển san
hô thiên nhiên.
Hạc Nhật Bản
Khỉ Macaca
Để bảo vệ môi trường thiên nhiên, Nhật Bản có 28 công viên quốc gia
và 55 công viên bán công.
Các công viên quốc gia được quản trị trực tiếp và các công viên bán
công được cai quản gián tiếp bởi Cơ quan Môi trường thuộc Văn phòng
Thủ tướng.
Miền phía bắc đảo Honshu và đảo Hokkaido là hai nơi thưa dân, nên có
nhiều công viên quốc gia lớn.
II/ DÂN CƯ:
Dân số: 127,7 triệu ngừơi (năm 2005), chiếm 2% dân số thế giới.
Dân số Nhật cao thứ 10 trên thế gíơi.
- Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên thấp và đang giảm dần.
=> kết cấu dân cư: dân số già.
* Từ 15.000 năm trước công nguyên, ở Nhật Bản đã có con người
sinh sống.
Tỷ lệ tăng 0,7% trong vòng 5 năm (trung bình 0,1% một năm) là
thấp nhất kể từ sau thế chiến thứ 2.
Mật độ dân số ở Nhật là 343 người/km2, đứng thứ 4 thế giới sau
Bangladesh, Hàn Quốc và Hà Lan.
Nếu tính theo tỷ lệ gia tăng dân số trong 5 năm thì giai đoạn 1945-1950
là cao nhất với tỷ lệ 15,3% với phong trào sinh con lần thứ nhất (baby
boom). Sau đó tỷ lệ gia tăng giảm dần, đến phong trào sinh con lần thứ
hai (giai đoạn 1970-1975) tỷ lệ gia tăng lại tăng lên đến 7,0% và sau đó
giảm dần theo thời gian.
Năm 2005, lần đầu tiên tỷ lệ gia tăng dân số của Nhật bị âm cả tỷ lệ gia
tăng tự nhiên lẫn tỷ lệ gia tăng cơ giới.
Con số người qua đời tại quốc gia này nhiều hơn số trẻ em sinh ra là
10.000. Tỷ lệ gia tăng cơ giới cũng bị âm và dân số giảm 19.000 người,
từ 127,776 triệu người năm 2004 xuống 127,757 triệu người năm 2005.
Trong 8 nước thuộc G8, tỷ lệ gia tăng dân số của Nhật trong 5 năm vẫn
cao hơn Đức (0,4%) và Nga(-2,3%) và bằng Ý. Cao nhất là Canada
(5,1%) và tiếp đến là Mỹ (4,9%).
Biểu đồ sự biến động dân số Nhật
Sự biến động về cơ cấu dân số theo độ tuổi
BIỂU ĐỒ SỰ BIẾN ĐỘNG CƠ CẤU DÂN SỐ THEO ĐỘ TUỔI
So sánh tháp dân số Nhật từ 1950 đến 2006 rồi dự báo đến 2005,
phản ánh sự gia tăng nhanh chóng của tỉ lệ người già.
Vùng Tokyo, bao gồm thủ đô Tokyo và một vài quận xung quanh
là trung tâm thủ phủ lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người
sinh sống.
Theo kết quả điều tra quốc dân tháng 10 năm 2005, trên toàn
nước Nhật có 10 tỉnh thành có dân số trên 3 triệu người, đó là:
- Ngoài ra có 10 tỉnh thành có dân số từ 2 đến 3 triệu dân, 20 tỉnh
thành có dân số từ 1 đến 2 triệu dân và 7 tỉnh còn lại có dân số
dưới 1 triệu dân.
- Thấp nhất là tỉnh Tottori với 610 nghìn dân.
- Tokyo (12,57 triệu)
- Osaka (8,82 triệu)
- Kanagawa (8,79 triệu)
- Aichi (7,25 triệu)
- Saitama (7,05 triệu)
- Chiba (6,06 triệu)
- Hokkaido (5,63 triệu)
- Hyogo (5,59 triệu)
- Fukuoka (5,05 triệu)
- Shizuoka (3,79 triệu)
SỰ PHÂN BỐ DÂN CƯ Ở CÁC THÀNH PHỐ LỚN TẠI NHẬT
MẬT ĐỘ DÂN SỐ TẠI NHẬT
Mật độ dân số cao nhất là:
+ Tokyo (5748 người/km2)
+ Osaka (4656 người/km2)
+ Kanagawa (3639 người/km2).

Thấp nhất: Hokkaido(72 người/km2)
=> Nhìn chung xu hướng của dân
cư phân bố không đồng đều,
tập trung vào vùng Kanto.
* Tháng 10 năm 2005, số nam giới ở Nhật là 62,34 triệu người, nữ giới
là 65,42 triệu người. Nam giới ít hơn nữ giới 3,08 triệu người.
Như vậy tỷ lệ nam giới ở Nhật chỉ là 48,8%. Tỷ lệ này chỉ cao hơn tỷ lệ
năm 1945 (47%) do chiến tranh, và thấp thứ 2 trong lịch sử.
Nguyên nhân chính của tỷ lệ nam nữ thấp là do tuổi thọ trung bình của
nữ cao hơn nam.
Tuy nhiên ở một số tỉnh thành dân số nam lại cao hơn nữ, đó là 4 tỉnh
thành: Kanagawa, Saitama, Aichi và Chiba.
* Tuổi thọ của nam giới là 78,36, nữ giới là 85,33. Ðây là tuổi thọ trung
bình cao nhất thế giới.
Thế nhưng năm 1935 thì con số này là 46,92 đối với nam giới và 49,63
đối với nữ giới.
Như vậy trong vòng 60 năm tuổi thọ trung bình của cả nam và nữ
đều tăng 30 tuổi.
CƠ CẤU DÂN SỐ GIỮA NAM VÀ NỮ TRONG TỪNG ĐỘ TUỔI Ở NHẬT
Người lao động Nhật Bản:
- Có nhiều ưu điểm là:
+ Lao động cần cù.
+ Làm việc tích cực.
+ Ý thức tự giác và tinh thần trách nhiệm rất cao.
- Người Nhật cũng rất chú trọng cho việc đầu tư cho giáo dục.
Quyết định sự phát triển về kinh tế cũng như xã hội Nhật Bản
thành một cường quốc trên thế gíơi.
KIMONO
BATTLE OF SUMO
III/ KINH TẾ:
- Nhật Bản là nền kinh tế quốc gia lớn thứ hai trên thế giới
1.Thời kỳ Tokugawa (trước 1868)
2.Thời kỳ công nghiệp hóa
+Thời kỳ 1870-1890
+ Thời kỳ 1900-1919
+Thời kỳ 1920-1937
+Tái thiết sau chiến tranh (1945-1954)
+Kỷ nguyên tăng trưởng nhanh (1955-1973)
3.Thời kỳ chuyển đổi (1974-1985)
4.Thời kỳ bong bóng kinh tế (1986-1990)
5.Trì trệ kinh tế kéo dài (1991-2001)
6.Phục hồi kinh tế (2002 đến nay)
- Kinh tế Nhật Bản từ xưa đến nay đã trải qua các thời kỳ:
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản,
trong khi dân số thì quá đông.
Phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ
trong chiến tranh,
Nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng
phục hồi trong thời kỳ 1945 – 1954:
+ Cải cách ruộng đất, ổn định nông thôn, luật chống độc quyền được
ban hành.
+ Phân phối lương thực, kiểm soát hành chính đối với giá cả, chống nạn
đầu cơ, "đông lạnh" tiền gửi ngân hàng, đổi tiền, phát hành trái phiếu
chính phủ, tập trung sức khôi phục và phát triển một số ngành ưu tiên
như than, thép, phân bón, điện lực, v.v...
+ Cân đối ngân sách thông qua hạn chế chi tiêu, ngừng kiểm soát giá,
cố định tỷ giá hối đoái Yên Nhật/Dollar Mỹ là 360 : 1.
Kinh tế tự do được khôi phục, tăng năng suât nông nghiệp ,lạm phát
được khống chế thúc đẩy tiêu dùng. nâng cao vị trí của tư bản công
nghiệp, khuyến khích tinh thần kinh doanh và đầu tư.
Từ kỷ nguyên tăng trưởng nhanh 1955 - 1973, tốc độ phát triển kinh tế
Nhật Bản được gọi là "sự thần kì" : tốc độ phát triển kinh tế trung bình
10% giai đoạn 1960, trung bình 5% giai đoạn 1970.
Chỉ số biểu hiện sức mạnh của nền mậu dịch một quốc gia - độ độc lập
về ngoại thương (tỷ lệ giữa tổng lượng mậu dịch (xuất khẩu và nhập
khẩu) trên tổng thu nhập quốc gia) của Nhật Bản là 10% năm 1955 và
tăng lên gấp đôi, 20% năm 1970.
Nếu vào năm 1950, GNP (tổng sản lượng quốc gia) của Nhật còn nhỏ
hơn của bất cứ nước phương Tây nào và chỉ bằng vài phần trăm so
với của Mỹ, Năm 1973, GNP của Nhật Bản chỉ còn bằng một phần ba
của Mỹ và lớn thứ hai trên thế giới.
- Nguyên nhân:
+ Đồng yên Nhật được cố định có lợi cho xuất khẩu
+ nguồn tài chính ổn định nhờ chính sách của chính phủ
+ Chính sách kinh tế vĩ mô (chủ yếu là chính sách tài chính) và chính
sách công nghiệp được sử dụng tích cực, nhu cầu lớn từ Mỹ đối với
hàng quân dụng do chiến tranh Việt Nam tạo ra.
+ Cách mạng công nghệ, lao động rẻ lại có kỹ năng, khai thác được lao
động dư thừa ở khu vực nông nghiệp
So sánh tốc độ tăng GNP bình quân đầu người
của Nhật Bản giữa các thời kỳ
Cuộc khủng hoảng dầu lửa 1973-1975 đã làm kinh tế Nhật Bản rơi vào
tình trạng khủng hoảng sâu sắc, bắt đầu cho thời kỳ chuyển đổi cơ cấu
kinh tế (1974-1985) theo hướng tự do hóa:
+ Những ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng như đóng tàu,
luyện thép, hóa dầu, dệt, gia công kim loại bị khủng hoảng nặng nề.
+ Nhật Bản phải tích cực triển khai chương trình tiết kiệm năng lượng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ
+ Giảm tỷ trọng của các ngành dùng nhiều năng lượng, tăng tỷ trọng của
các ngành có hàm lượng tri thức cao (sản xuất máy tính, máy bay,
người máy công nghiệp, mạch tổ hợp,...), các ngành sản xuất theo
mốt và công nghiệp thông tin
+ Nhấn mạnh hơn nữa nghiên cứu khoa học cơ bản để có thể chuyển
sang các ngành kinh tế mới.
+ Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tăng vọt với hai động lực chính là tận
dụng nguồn nguyên liệu, năng lượng ở các nền kinh tế đang phát triển
và chọc thủng hàng rào bảo hộ mậu dịch ở các nền kinh tế phát triển
Nhờ cải cách tích cực,kinh tế được phục hồi.Tốc độ tăng trưởng GDP
của Nhật thực tế vẫn cao hơn các nước công nghiệp phát triển khác.
Tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản những năm giữa thập kỷ 80 đã làm
thế giới kinh ngạc. Tuy nhiên sau đó trong hơn 4 năm liền Nhật Bản bị
ảnh hưởng nặng nề bởi một nền kinh tế bong bóng (1986-1990).
Gọi là kinh tế bong bóng bởi giá địa ốc, giá chứng khoán,... tăng ở mức
cực nhanh rồi hạ xuống như là những chiếc bong bóng bị xẹp xuống
sau khi được bơm đầy hơi.
Đồng Yên cao giá so với Dollar Mỹ, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế
cao, tỷ lệ lạm phát cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá tài sản (bất động sản
lẫn tài sản tài chính) cao, tiêu dùng mạnh.
- Nguyên nhân:
+ Đồng Yên lên giá sau Thỏa ước Plaza, ngân hàng Nhật Bản thực hiện
chính sách tiền tệ nới lỏng (hạ lãi suất), kinh tế tăng trưởng mạnh và
đầu cơ tài sản bắt đầu làm tăng giá tài sản.
+ Các nhà đầu tư giảm đầu tư vào tài sản của Mỹ và tăng đầu tư vào
các tài sản của Nhật Bản. Giá cổ phiếu và trái phiếu công ty tăng kích
thích xí nghiệp đầu tư. Lạm phát tăng tốc kích thích tiêu dùng.
Tháng 10 năm 1990, Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ
thắt chặt. Bong bóng kinh tế vỡ vào năm 1991 và bong bóng giá tài sản
vỡ vào năm 1992.
Sau thời kì kinh tế bong bóng, từ năm 1991 kinh tế Nhật Bản phát triển
ì ạch.Nhật Bản bước vào giai đoạn trì trệ kinh tế kéo dài (1991-2001).
Sự tăng trưởng suy giảm đáng kể do hậu quả của sự đầu tư quá mức
suốt giai đoạn cuối thập niên 1980.
Trong những năm 1992-1995 tốc độ tăng trưởng hàng năm chỉ đạt
1,4%, năm 1996 là 3,2%.
Đặc biệt, từ 1997, và nhất là từ đầu 1998, kinh tế Nhật bị lâm vào suy
thoái nghiêm trọng với những biểu hiện:
+ Khủng hoảng hệ thống tài chính tiền tệ, đồng Yen, chứng khoán giảm
giá mạnh.
+ Nợ xấu khó đòi tăng cao, sản xuất trì trệ và tỉ lệ thất nghiệp hoàn toàn
đạt con số kỷ lục trong 45 năm (5,5%)
+ Năm 1997, GDP thực chất - 0,7%, năm 1998 là -1,8%.
Thiểu phát và giảm phát trong thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dài
GDP của Nhật so với các cường quốc kinh tế khác
vào năm 1999.
Trong giai đoạn phục hồi kinh tế (2002 đến nay), Nhật Bản đang xúc
tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế,
giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại
cơ cấu chính phủ,…
Nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2003 đạt
trên 3%, quý I/2004 đạt 6%.
Nhìn chung, tuy trải qua nhiều thời kỳ biến động, tốc độ phát triển tuy
chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế-công
nghiệp-tài chính thương mại-dịch vụ-khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ
hai trên thế giới (chỉ sau Hoa Kỳ).
- Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế
giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay,
viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới.
Dù diễn ra chậm chạp nhưng đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu
thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả
đáng khích lệ.
- Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế
giới.
Một số số liệu thống kê nền kinh tế Nhật Bản
Tiền tệ: 1 Yên Nhật (¥JPY)
Các tổ chức thương mại: APEC, WTO và OECD
Xếp hạng GDP: thứ 2 theo tổng GDP;
thứ 16 theo GDP bình quân đầu người
GDP: 4,800 tỷ USD (2005)
Tốc độ tăng trưởng GDP: 2,8% (2006)
GDP bình quân đầu người (GDP thực): 38.500 USD (2006)
GDP theo lĩnh vực: nông nghiệp: (1,6%) công nghiệp: (25,3%)
dịch vụ: (73,1%) (2006)
Lạm phát: 0,3% (2006)
Dân số dưới mức nghèo khổ: 13,5% Sau khi trừ thuế và các khoản
chuyển giao.
Lực lượng lao động: 66,44 triệu (2006.)
Lực lượng lao động theo nghề nghiệp: + nông nghiệp(4,6%),
+ công nghiệp (27,8%),
+ dịch vụ (67,7%) (2004)
Thất nghiệp: 4,1% (2006)
Các ngành chính: ô tô-xe máy, thiết bị công nghiệp và vận tải, điện tử,
hóa chất, luyện thép, máy công cụ, chế biến thực
phẩm, kim loại màu.
Xuất khẩu: 590,3 tỷ USD (2006)
Các đối tác chính: Mỹ 22,9%, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 13,4%,
Hàn Quốc 7,8%, Đài Loan 7,3%, Hong Kong 6,1%
Nhập khẩu: 524,1 tỷ USD (2006)
Các bạn hàng:Trung Quốc 21%, USA 12,7%, Saudi Arabia 5,5%,
UAE 4,9%, Australia 4,7%, Hàn Quốc 4,7%, Indonesia 4%
Viện trợ kinh tế cho nước ngoài: ODA, 9,7 tỷ (2/2007)
CÁC NGÀNH KINH TẾ
1/ Công nghiệp:
- Giá trị sản lượng công nghiệp Nhật Bản đứng thứ 2 thế giới, sau Mĩ.
- Công nghiệp chiếm 26,8% tỉ trọng trong các ngành kinh tế.
Sau chiến tranh, công nghiệp Nhật Bản được phân làm hai loại: công
nghiệp vật liệu cơ bản như sắt thép, tinh luyện nhôm, hoá dầu, xi
măng, dệt và công nghiệp hoá học nặng như kim loại, cơ khí, hoá học.
Tuy nhiên qua 2 lần khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và 1979 với sự
tăng vọt của giá nhiên liệu và nguyên liệu, ngành công nghiệp Nhật
Bản đã bị đình đốn.
Tiếp đó Nhật Bản đã chú trọng phát triển ngành công nghiệp gia công
chính xác. Kỹ thuật điện tử của Nhật Bản đã đạt đến trình độ rất cao.
Các sản phẩm này của Nhật Bản đã làm bá chủ trên thị trường thế giới.

Nhật Bản là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ chế tạo tiên tiến
bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử,
công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học,
dệt may, thức ăn chế biến.
Trụ sở Toyota
Trụ sở Honda
Những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật là thiết bị giao thông vận tải,
xe cơ giới, hàng điện tử, máy móc điện tử và hóa chất.
Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớn
nhất của Nhật Bản.
Do hạn chế về tài nguyên thiên
nhiên, Nhật Bản phải phụ thuộc vào
các quốc gia khác về phần nguyên
liệu vì vậy đất nước này nhập khẩu
rất nhiều loại hàng hóa như là máy
móc, thiết bị, chất đốt, thực phẩm
(đặc biệt là thịt bò), hóa chất,
nguyên liệu dệt may và những
nguyên liệu cho các ngành
công nghiệp của đất nước.


Xuất và nhập khẩu
tại cảng ở Nhật
Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứu
khoa học, công nghệ máy móc, nghiên cứu y học.
Gần 700,000 nhà nghiên cứu chia sẻ 130 tỉ USD của ngân sách nghiên
cứu và phát triển, đứng hàng thứ 3 trên thế giới.
Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong ngành
khoa học robot, đây là quốc gia sở hữu
hơn nửa (402,200 trong tổng 742,500)
số robot cho công nghiệp sản xuất.
Nhật Bản là quê hương 7 trong số 20
nhà sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế
giới.
Nhật Bản đóng góp rất nhiều phát minh quan trọng trong các lĩnh vực
điện tử, ô tô, máy móc, robot công nghiệp, quang học, hóa chất, chất
bán dẫn và kim loại.
Robot ASIMO
BẢN ĐỒ PHÂN BỐ
CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ở NHẬT
2/ Dịch vụ:
- Dịch vụ chiếm 68% giá trị GDP (2004).
Thương mại của Nhật Bản đứng hàng thứ 4 trên thế giới với các bạn
hàng chính là Hoa Kì, Trung Quốc, EU, Úc, các nước Đông Nam Á,…
Nhật Bản còn có ngành tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới,
hoạt động đầu tư ra nước ngoài ngày càng phát triển.
Đây cũng là trụ sở của một số công ty dịch
vụ tài chính, những tập đoàn kinh doanh
và những ngân hàng lớn nhất thế giới.
Trụ sở của ngân hàng lớn nhất thế giới
Mitsubishi UFJ (số vốn ước tính lên
đến 1.7 nghìn tỉ đô la Mỹ) tại Nhật
=>
Nhật Bản cũng là nơi có thị trường chứng
khoán lớn thứ hai thế giới - thị trường chứng
khoán Tokyo với khoảng 549.7 nghìn tỉ yên
vào tháng 12/2006.
Giao thông ở Nhật Bản rất phát triển, vào
năm 2004 ở Nhật Bản có khoảng
1,177,278 km đường bộ, 173 sân bay,
23,577 km đường sắt.
Phương tiện đường không được hoạt
động chủ yếu bởi All Nippon Airways
(ANA) và Japan Airlines (JAL). Đường
sắt được điều khiển bởi Japan Railways.
Thị trường chứng khoán Tokyo
Nhật Bản đang có những kế hoạch rất sáng sủa trong ngành
thám hiểm không gian, trong đó có kế hoạch xây dựng một trạm
mặt trăng vào năm 2030.
Cơ quan thám hiểm không gian Nhật Bản (JAXA) là một trong
những thành viên chủ chốt của trạm vũ trụ quốc tế, đây là cơ
quan chuyên nghiên cứu về không gian vũ trụ, các hành tinh,
các nghiên cứu hàng không, phát triển tên lửa và vệ tinh.
Đây cũng là nơi đã chế tạo ra
module thăm dò Nhật bản,
module được dự tính sẽ xuất
phát và lắp ráp vào trạm vũ trụ
quốc tế trong các chuyến bay lắp
ráp của tàu con thoi vào năm
2007 và 2008.
Trụ sở nghiên cứu JAXA
3/ Nông nghiệp:
Nông nghiệp có vai trò thứ yếu trong nền kinh tế Nhật Bản.Tỉ trọng
nông nghiệp trong GDP hiện nay chỉ khoảng 1%.
- Trồng trọt:
+ Lúa gạo là cây trồng chính, chiếm 50% đất canh tác.
+ Trong những năm gần đây, một số diện tích trồng lúa được chuyển
sang trồng các loại cây khác như củ cải đường,chè, hoa quả,…
+ Sản lượng tơ tằm Nhật Bản đứng đầu thế giới.
- Chăn nuôi tương đối phát triển. Các vật nuôi chính là bò, gà, lợn.
Nhờ phát triển theo hướng thâm canh,
ứng dụng tiến bộ khoa học-kĩ thuật và
công nghệ hiện đại, năng suất cây
trồng, vật nuôi, chất lượng nông sản
tăng đáng kể.
BẢN ĐỒ PHÂN BỐ NÔNG NGHIỆP Ở NHẬT
- Ngư nghiệp:
+ Sản lượng đánh bắt cá hàng năm lớn : 4596,2 nghìn tấn cá (2003)
+ Nhật Bản là quốc gia tiêu thụ hải sản lớn thứ 2 thế giới sau Ai Len.
Tuy nhiên lượng đánh bắt hải sản của họ lại đang bị giảm kể từ năm
1999.
+ Hiện nay, với diện tích đánh bắt chỉ có 200 hải lý, ngành ngư nghiệp
Nhật Bản vốn đã rất quen thuộc với việc đánh bắt xa bờ đang ở trong
tình trạng khó khăn. Con đường duy nhất để tồn tại là nuôi trồng ngư
nghiệp .
+ Từ xưa Nhật Bản vẫn tự hào là nước có ngành ngư nghiệp mạnh nhất
thế giới nhưng năm 1999 họ đã phải nhường vị trí này cho Trung Quốc.
+ Sản lượng hải sản chỉ đủ đáp ứng 62.6% nhu cầu trong nước, 37.4%
còn lại phải nhập khẩu.
Nghề nuôi trồng thủy sản (tôm,sò, ốc,rau câu, trai lấy ngọc,…) được
chú trọng phát triển.
BỐN VÙNG KINH TẾ GẮN VỚI BỐN ĐẢO LỚN
No_avatar
chao
No_avatar

tôi can biet nhung thong tin ve dac diem tu nhien cua nhat ban.mong chuong trinh co the gui  lai cho toi

 

No_avatar
với một bài giảng quá nhiều sile như thế này liệu rằng có phải là cách hay, tôi nghĩ nếu thầy giảm bớt kênh chữ thì bài giảng sẽ hấp dẫn hơn nhiều, những thông tin bổ sung cho bài giảng không nhất thiết phải đưa lên, tôi đã từng dự rất nhiều bài giảng và tôi thấy rằng giáo viên đưa nội dụng bài giảng vào trình chiếu quá nhiều, sử dụng powerpoint chỉ nên xem như hỗ trợ cho giáo viêc trong quá trình dạy học mà thôi. với ý kiến của riêng tôi bài giảng của thầy chưa thật sự hấp dẫn.
Avatar
 - 78 slide x 3 phút = 234 phút = Bài này dạy bao nhiêu tiết ( 4 tiết chăng).
 
Gửi ý kiến