Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 18. Ôn tập Cuối Học kì I

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Liên
Ngày gửi: 20h:45' 11-03-2025
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
CHUYÊN ĐỀ:
DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 4+5-CHỐNG VĂN MẪU

CHUYÊN ĐỀ:
DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 4+5-CHỐNG VĂN MẪU

Chuyên đề bao gồm 7 vấn đề
1, Những ý kiến xã hội xoay quanh vấn đề văn mẫu
2, Ưu điểm và hạn chế của văn mẫu
3, Quy trình- Nội dung-Phương pháp dạy TLV
4, Vì sao Tập làm văn lại là phân môn khó
5, Ý kiến của cha mẹ HS về TLV hiện nay
6, Chấm phá về GD thế giới
7, Phương pháp cụ thể để dạy tập làm văn

1, Những ý kiến xã hội xoay quanh vấn đề văn mẫu

Nội dung cụ thể cùng trao đổi

2, Ưu điểm và hạn chế của văn mẫu

3, Quy trình- Nội dung-Phương pháp dạy TLV
A/ MỤC TIÊU CỦA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 4+5:
– Trang bị kiến thức và rèn luyện các kỹ năng làm văn.
– Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn
luyện tư duy logic, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn
cảm xúc, thẩm mỹ, hình thành nhân cách cho học sinh.
B/ NỘI DUNG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP4+ 5:

I/ Trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ năng làm văn:
1/ Cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 4+5:

Chương trình Tập làm văn lớp 4+5 gồm các nội dung sau:
– Miêu tả:
+ Tả đồ vật
+ Tả cây cối
+Tả con vật
+ Tả cảnh
+ Tả người

- Kể chuyện: Đã nghe, đã đọc;
được chứng kiến, tham gia.
– Các loại văn bản:
+ Làm báo cáo thống kê
+ Làm đơn
+ Thuyết trình tranh luận
+ Lập chương trình hoạt động
+ Tập viết đoạn đối thoại.

2/ Các kiến thức làm văn:
Kiến thức làm văn trang bị cho học sinh lớp 4, 5 cũng
thông qua các bài luyện tập thực hành. Nội dung các bài
luyện tập trong SGK Tiếng Việt 4, 5 giúp học sinh hoàn
thiện những hiểu biết ban đầu về văn miêu tả (tả cảnh,
người,…), có một số hiểu biết về mục đích giao tiếp và
hoàn cảnh giao tiếp để thực hành vận dụng các loại văn
bản khác như làm báo cáo thống kê, làm đơn, làm biên
bản, thuyết trình tranh luận, lập chương trình hoạt
động, tập viết đoạn đối thoại.
Ngoài việc cung cấp một số kiến thức mới, nội dung dạy
học Tập làm văn lớp 4,5 còn có cấc kiểu bài về văn kể
chuyện, văn miêu tả, chuẩn bị cho học sinh những điều
kiện cần thiết để học lên cấp trên.

3/ Các kỹ năng làm văn:
Nội dung các kỹ năng Tập làm văn cần trau dồi cho
học sinh lớp 4,5 được xây dựng trên cơ sở quy trình
sản sinh ngôn bản .
– Kỹ năng định hướng hoạt động giao tiếp.
+ Nhận diện đặc điểm loại văn bản.
+ Phân tích đề bài, xác định yêu cầu.
– Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:
+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho.
+ Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý
trong bài văn miêu tả.

– Kỹ năng hiện thực hóa hoạt động giao tiếp:
+ Xây dựng đoạn văn (chọn từ, tạo câu, viết đoạn)
+ Liên kết các đoạn thành bài văn
– Kỹ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục
đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt.
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt.

Đặc biệt hiện nay còn trau dồi cho học sinh
những kĩ năng sống :
+Kĩ năng xử lí thông tin
+ Kĩ năng hợp tác
+Kĩ năng thuyết trình
+Kĩ năng ra quyết định
+Kĩ năng phê phán
+Kĩ năng tư duy sáng tạo.

4/ Các loại bài học:
Chương trình Tập làm văn lớp 5 được cụ thể hóa
trong SGK Tiếng việt 5 chủ yếu qua hai loại bài học
tương tự như SGK lớp 4: loại bài hình thành kiến
thức và loại bài luyện tập thực hành.

– Loại bài hình thành kiến thức được cấu trúc theo 3
phần:

(1) Nhận xét: Phần này bao gồm một số câu hỏi, bài tập
gợi ý học sinh khảo sát văn bản để tự rút ra một số nhận
xét về đặc điểm loại văn, kiến thức cần ghi nhớ.
(2) Ghi nhớ: gồm những kiến thức cơ bản được rút ra từ
phần nhận xét.
(3) Luyện tập: bài tập thực hành đơn giản nhằm giúp
học sinh củng cố và vận dụng kiến thức tiếp nhận trong
bài học.
– Loại bài luyện tập thực hành chủ yếu nhằm mục đích
luyện các kỹ năng làm văn, do vậy nội dung thường gồm
2, 3 bài tập nhỏ hoặc một đề bài tập làm văn kèm theo
gợi ý thực hành luyện tập theo hai hình thức: nói, viết.

– Loại bài luyện tập thực hành chủ yếu nhằm
mục đích luyện các kỹ năng làm văn, do vậy
nội dung thường gồm 2, 3 bài tập nhỏ hoặc
một đề bài tập làm văn kèm theo gợi ý thực
hành luyện tập theo hai hình thức: nói, viết.

II/ Mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn,
cảm xúc thẩm mỹ, hình thành nhân cách cho học sinh.
Nội dung các bài Tập làm văn lớp 4,5 thường gắn với chủ
điểm đang học ở các bài tập đọc . Quá trình hướng dẫn học
sinh thực hiện các kỹ năng phân tích đề, quan sát, tìm ý, nói –
viết đoạn hoặc bài là những cơ hội giúp học sinh mở rộng
hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học. Việc phân tích
dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn bài văn miêu tả, quan sát đối
tượng, tìm lý lẽ và dẫn chứng để thuyết trình, tranh luận…
góp phần phát triển năng lực phân tích, tổng hợp, phân loại
của học sinh. Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện
và phát triển như các biện pháp: so sánh, nhân hóa khi miêu
tả.
Học các tiết Tập làm văn, học sinh cũng có điều kiện tiếp cận
với vẻ đẹp của con người và thiên nhiên, đất nước, có cơ hội
bộc lộ cảm xúc của cá nhân, mở rộng tâm hồn và phát triển
nhân cách con người Việt Nam mới.

5/Yêu cầu cần đạt:

Lớp 4:
Viết đoạn văn, văn bản:
Biết tìm ý cho đoạn văn kể chuyện, miêu tả (tả đồ vật, cây
cối, con vật); viết được đoạn văn theo dàn ý đã lập. Biết dùng
từ, đặt câu, sử dụng dấu câu. Viết được bài văn theo dàn ý đã
lập có độ dìa khoảng 150-200 chữ. Viết được các văn bản
thông thường: Thư, sđơn, báo cáo ngắn, điện báo. Biết viết
tóm tắt đoạn tin, mẩu tin, câu chuyện đơn giản. Ghi chú: Viết
mở bài theo cách trực tiếp và gián tiếp, kết bài theo cách mở
rộng, không mở rộng cho bài văn miêu tả, kể chuyện. Viết các
đoạn văn tromng phần thân bài của bài văn kể chuyện, tả đồ
vật, cây cối, con vật. Viết 4 bài văn kể chuyện, miêu tả có bố
cục đủ 3 phần; phần thân bài có thể gồm một vài đoạn; lời
văn trôi chảy,c âu văn bước đầu có cảm xúc. Biết kiểm tra, rà
soát lại bài viết về nội dung, cách diền đạt, cách trình bày.

Lớp 5:
- Viết đoạn văn, văn bản: Biết tìm ý cho đoạn văn và viết
đoạn văn kể chuyện, miêu tả; biết dùng một số biện pháp
liên kết câu trong đoạn, Biết lập dàn ý cho bài văn tả
cảnh, tả người.
- Biết viết bài văn kể chuyện hoặc miêu tả có độ dài
khoảng 200 chữ. Biết viết một số văn bản thông thường:
đơn, biên bản, báo cáo ngắn, chương trình hoạt động. Ghi
chú: Viết đoạn mở bài, thân bài và kết bài cho bài văn tả
cảnh, tả người.
- Viết 4 bài văn kể chuyện, miêu tả. Viết một số loại đơn
theo mẫu đã học. Viết biên bản một cuộc họp của học sinh
ở trường lớp, biên bản về một việc đơn giatrn mới xảy ra.
Viết báo cáo ngắn về một hoạt động của học sinh trong tổ,
lớp. Lập chương trình hoạt động của tổ, lớp.

C/ CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC CHỦ YẾU:
I/ Hướng dẫn học sinh nhận diện đặc điểm loại văn:
Ở các bài hình thành kiến thức làm văn, giáo viên
thường tiến hành hướng dẫn học sinh nhận diện đặc
điểm loại văn thông qua gợi ý nhận xét trong SGK.
Các thao tác cần được thực hiện theo trình tự sau:
– Yêu cầu học sinh đọc mục nhận xét trong SGK,
khảo sát văn bản để trả lời từng câu hỏi gợi ý.
– Hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận nhằm rút
ra những nhận xét về đặc điểm loại văn (kiến thức
cần ghi nhớ).

II/ Hướng dẫn học sinh làm bài tập thực hành:
1/ Sau khi nhận biết kiến thức làm văn, học sinh
được làm các bài thực hành, luyện tập nhằm củng cố
kiến thức và hình thành kỹ năng tương tự như việc
hướng dẫn học sinh làm bài tập về làm văn ở lớp 2,
3. Giáo viên cần thực hiện các thao tác sau:
– Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng
câu hỏi gợi ý, bằng lời giải thích).
– Hướng dẫn học sinh làm thử một phần của bài tập
và nhận xét để định hướng cho hoạt động của cá
nhân.
– Giúp học sinh luyện tập theo yêu cầu của bài tập
(theo cặp, theo nhóm hoặc trao đổi ở lớp), tổ chức
nhận xét và đánh giá kết quả.

2/ Đối với những bài luyện tập có tác dụng hình thành một số
kiến thức, kỹ năng ban đầu về các loại văn bản khác (làm báo
cáo thống kê, làm đơn, thuyết trình tranh luận, lập chương
trình hoạt động, chuyển câu chuyện thành kịch). Giáo viên
cũng thực hiện các thao tác hướng dẫn nói trên nhằm giúp học
sinh có một số hiểu biết ban đầu về mục đích giao tiếp và hoàn
cảnh giao tiếp để thực hành vận dụng. Đối với các bài ôn tập
về làm văn ở lớp 4,5, giáo viên thực hiện các thao tác trên
nhằm củng cố, hoàn thiện những kiến thức và kỹ năng đã học
ở cấp tiểu học.

III/ Hướng dẫn học sinh luyện tập theo đề bài:
Ở các bài luyện tập thực hành theo đề bài Tập làm
văn, giáo viên cần thực hiện các thao tác sau:
– Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài, xác định đúng nội
dung yêu cầu của đề.
– Hướng dẫn học sinh dựa vào gợi ý trong SGK để
thực hiện từng yêu cầu (theo 2 hình thức: nói –viết).
– Tổ chức nhận xét, đánh giá kết quả thực hành
nhằm trau dồi các kỹ năng làm văn cho học sinh.

D/ QUY TRÌNH GIẢNG DẠY:
Về cơ bản, quy trình giảng dạy các bài học của
phân môn Tập làm văn là quy trình hướng dẫn
học sinh thực hành tự tìm ra kiến thức và luyện
tập trau dồi các kỹ năng phục vụ cho việc sản sinh
ngôn bản. Tuy nhiên, căn cứ vào cấu trúc nội
dung của hai loại bài học, hoạt động dạy bài mới
được tiến hành có điểm khác nhau như dưới đây :

I/ Kiểm tra bài cũ :
Yêu cầu học sinh nhắc lại những kiến thức
cần ghi nhớ hoặc làm bài tập đã thực hành ở
tiêt trước (hoặc giáo viên nhận xét kết quả
chấm bài tập làm văn nếu có)

II/ Dạy bài mới :
1/ Giới thiệu bài :
Dựa vào nội dung và mục đích yêu cầu của bài dạy cụ thể,
giáo viên có thể dẫn dắt giới thiệu bài bằng những cách
khác nhau, sao cho thích hợp.
2/ Hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức và luyện tập:
* Đối với loại bài hình thành kiến thức :
a/ Hướng dẫn học sinh nhận xét :
Dựa theo câu hỏi, bài tập gợi ý của mục I (nhận xét) SGK,
giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện đặc điểm của loại
văn thông qua việc khảo sát văn bản, thảo luận, trả lời câu
hỏi nhằm tìm ra những điểm cần ghi nhớ (được diễn đạt
ngắn gọn, súc tích ở mục II trong SGK).

c/ Hướng dẫn học sinh luyện tập :
Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện từng bài tập
ở mục III (luyện tập) SGK theo hiểu yêu cầu của bài
tập (GV có thể gợi ý thêm bằng câu hỏi hoặc lời giải
trình tự:
– Đọc và nhận thích).
– Thực hành luyện tập theo từng yêu cầu của bài tập
(có thể làm thử một phần bài tập dưới sự hướng dẫn
của GV, sau đó trao đổi, thảo luận theo cặp hoặc
nhóm).
– Nêu kết quả trước lớp để GV nhận xét, đánh giá
nhằm củng cố kiến thức và hình thành kỹ năng theo
yêu cầu của bài học.

* Đối với loại bài luyện tập thực hành :
Đây là loại bài chủ yếu nhằm mục đích rèn luyện
kỹ năng làm văn. Nội dung bài học thường gồm 2, 3
bài tập nhỏ hoặc một đề bài tập làm văn.
Dựa vào mục đích yêu cầu của bài dạy, GV hướng
dẫn học sinh thực hiện từng bài tập trong SGK theo
trình tự các thao tác đã nêu ở mục tiêu của loại bài
hình thành kiến thức hoặc hướng dẫn học sinh thực
hiện từng nội dung gợi ý trong SGK để luyện tập các
kỹ năng tập làm văn dưới hình thức nói – viết theo
đề bài cho trước.

3/ Củng cố, dặn dò :
GV giúp học sinh nhắc lại những điểm chính của
nội dung bài học hoặc yêu cầu luyện tập thực hành,
nhận xét đánh giá chung kết quả tiết học (biểu
dương bài làm hay, động viên học sinh học tốt,…).
Dặn học sinh thực hiện công việc tiếp theo (học bài
cũ, chuẩn bị cho bài mới).

4, Vì sao Tập làm văn lại là phân môn khó?

1. Vốn từ nghèo nàn do ngại đọc sách
2. Khả năng quan sát yếu và thiếu
3. Rập khuôn máy móc văn mẫu và lời giảng của
cô, PP dạy của cô, cách nhận xét và cho điểm của
cô.
4. Thiếu tính tưởng tượng và thiếu thực tế.
5. Chương trình SGK nôn nóng cho học sinh viết
đoạn văn, bài văn; viết nhiều đoạn mà quá ít
luyện viết cả bài.

5, Ý kiến của cha mẹ HS về TLV hiện nay.

6, Chấm phá về GD thế giới.

A. Mục tiêu giáo dục tiểu học Mỹ
Cho dù là người Hoa ở Mỹ, bạn cũng khó
hiểu rõ được đâu là trình độ tri thức mà học
sinh tiểu học ở Mỹ phải đạt đến, sau đây chỉ
là một tiêu chuẩn sơ lược để tham khảo.

1. Tốt nghiệp mẫu giáo
– Có thể nhận biết và phân biệt con số, có thể biểu đạt
khái niệm toán học trừu tượng bằng những vật thể cụ
thể như hòn sỏi, mẩu giấy, cái que…; nhận biết 26 chữ
cái tiếng Anh, phân biệt nguyên âm và phụ âm; phân
biệt được các ngành nghề khác nhau đại ý làm những gì,
ví dụ như bác sĩ, giáo viên, người đưa thư, cảnh sát, cảnh
sát phòng cháy chữa cháy… hiểu được quá trình diễn
biến của cuộc đời sinh vật, bao gồm sinh, lão, bệnh, tử
của con người, sâu biến thành bướm,…; học địa lý từ địa
cầu, bản đồ; hiểu được rằng trên trái đất có rất nhiều cư
dân, rất nhiều quốc gia và những màu da khác nhau,
hiểu được rằng người cần ở trong nhà, trẻ em cần đến
trường, người trưởng thành cần đi làm…

2. Lớp 1
– Có thể đếm từ 1 đến 100, có thể đếm số có hai chữ số
hoặc thế nào là bội số của 5, biết số lẻ và số chẵn, biết
phép cộng trừ đơn giản; học cách quan sát, chia ngành
phân loại đối với những sự vật và vật phẩm khác nhau;
có thể lấy dẫn chứng về quá trình diễn biến của sự sống,
hiểu được quan hệ sống tương trợ giữa động thực vật
trong thiên nhiên; học sử dụng tranh ảnh để biểu đạt ý;
hiểu tính tất yếu của việc mặc, ăn, ở và mái ấm gia đình;
hiểu rõ quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa
những người làng xóm.

3. Lớp 2
– Biết đọc, viết số có ba chữ số, từ năm số tùy ý chọn,
có thể đếm xuôi hoặc đếm ngược; vận dụng thành
thạo phép cộng trừ đối với số có hai chữ số, biết
dùng những đơn vị đo lường như inch (tấc Anh)
hoặc centimet để đo độ dài, biết xem đồng hồ; đọc
sách, duy trì đều đặn việc viết (nhận xét, bình luận)
sau khi đọc sách, học cách viết tổng kết, hiểu và
phân biệt được những hình thức văn học khác nhau
như: thơ, tản văn, tiểu thuyết, truyện ký…, biết
được sự khác nhau giữa tác phẩm hư cấu và tác
phẩm phi hư cấu; bắt đầu học nghiên cứu độc lập về
động vật, ví dụ như vấn đề sinh thái của côn trùng…

4. Lớp 3
– Học được cách biến tư liệu thành biểu đồ; biết so
sánh sự lớn nhỏ và cộng trừ trong phạm vi 100.000,
thành thạo phép cộng, trừ, nhân, chia đối với số có
ba chữ số; có thể lấy những tài liệu tại chỗ trong môi
trường xung quanh, sưu tập, tổ chức tài liệu, hiểu
được cách giữ gìn sức khỏe của con người, hiểu rõ
quá trình diễn biến cuộc đời của những động vật nhỏ
như: ếch, bướm, gà con, chuột bạch…; hiểu cách sử
dụng tự điển; có thể hiểu tư tưởng của những tác
phẩm và các nhà văn, họa sĩ mình yêu thích biểu đạt,
hiểu được các tác phẩm văn học trong các bối cảnh
văn hóa khác nhau.

5. Lớp 4
– Dùng máy tính để tính toán những con số rất
lớn, so sánh lớn nhỏ trong phạm vi 1.000.000,
học số thập phân và phân số, vẽ biểu đồ; có thể
giải thích sự khác nhau của khí hậu giữa các
vùng đất trên thế giới nhờ bản đồ, hình ảnh,
biểu đồ; thông qua việc đọc, hiểu thêm một bước
về những thể loại văn học khác nhau, ví dụ như
tác phẩm khoa học viễn tưởng, truyện ký,…

6. Lớp 5
– Biết điền, đọc các loại bảng biểu, thành thạo các
phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số; có thể vận
dụng hệ thống thư viện và các tư liệu để tiến hành
nghiên cứu; tiến hành so sánh và tổng hợp các loại
tin tức thông qua việc viết bút ký; bắt đầu tự viết
những bài văn dạng tả thật (phi hư cấu) và những
đoản văn theo thể thức năm đoạn; học được cách
viết chính thức, không chính thức và cách viết thư
cho bạn bè; hiểu việc chia ngành phân loại những
sách báo khác nhau, có thể nắm được nội dung chủ
yếu của một cuốn sách, đồng thời tiến hành bình
luận về cấu tứ, bối cảnh, cách xây dựng nhân vật,
phương thức biểu đạt, nghệ thuật ngôn ngữ.















Lịch học tập hằng ngày của học sinh lớp 1 ở Mỹ
7g40-8g15: Hoạt động khởi động buổi sáng tại lớp.
8g15-9g: Giáo viên dạy học tương tác.
9g-9g25: Tập đọc.
9g25-10g10: Các hoạt động đặc biệt.
10g10-11g15: Tổng hợp (viết/ từ vựng/thơ/tin học).
11g15-11g45: Ăn trưa.
11g45-12g: Đọc sách.
12g-12g30: Viết.
12g30-13g30: Toán.
13g30-13g45: Nghỉ ngơi/ăn nhẹ.
13g45-14g30: Thể dục (hoặc đọc sách ở thư viện).
14g30-15g10: Khoa học thường thức/kiến thức xã hội.
15g10-15g20: Tan học.

Lịch học hàng ngày của học sinh Tiểu học ở Mỹ:
- Ăn sáng
- Làm bài buổi sáng:  15-20 phút.
- Học Toán/ Văn: 90 phút. 
- Học Khoa học tự nhiên/ Khoa học xã hội: 45 phút.
 - Ăn trưa: 30 – 40 phút. 
- Giờ ra chơi: 10 phút.
- Học các môn phụ như tiếng nước ngoài (chủ yếu là
tiếng Tây Ban Nha), giáo dục sức khỏe, vẽ, âm nhạc,
thư viện, thể dục. 

Đánh giá học sinh
- Toàn bộ thành quả học tập của học sinh ở Hoa Kỳ (gồm ba
lĩnh vực là nhận thức, thái độ - tình cảm và kỹ năng - hành
vi) được đánh giá và xếp hạng theo một chuẩn đo lường duy
nhất.
- Ở các lớp mẫu giáo, bài làm của học sinh được đánh giá
bằng những biểu tượng vui: “mặt cười”, “mặt thường”, “mặt
buồn”...
- Từ lớp 1 đến lớp 3, giáo viên xếp hạng trình độ học sinh từ
cao xuống thấp theo trình tự chữ cái A-B-C-D...
- Từ lớp 4 trở lên, học sinh được nhận điểm số theo thang
100, rồi từ đó quy thành các hạng bằng chữ hay bằng số (4.0 xuất sắc, 3.0 - tốt, 2.0 - trung bình, 1.0 - yếu, 0 - liệt).

Cấu trúc và phương pháp dạy học của cô giáo Tiểu học:
- Giải khái niệm chung
- Theo trình độ học sinh và nhu cầu để giảng dạy sâu hơn. 
- Khi soạn giáo án thì cùng lên kế hoạch với giáo viên các bộ
môn khác để nắm bắt kiến thức cũng như khả năng nhận
thức của học sinh. Thậm chí cùng lên kế hoạch với giáo viên
liên khối, có thể những bài dạy lớp 2 cần tham khảo ý kiến
của cô giáo lớp 1 hoặc lớp 3 nếu nội dung dạy liên quan đến
khối lớp đó. 
- Chỉ ra học sinh nào cũng đặc biệt và có tài (không nhất thiết
trong học tập mà có thể những việc làm mà bản thân trẻ làm
giỏi) để học sinh tự tin hơn.  Ví như có thể học kém nhưng
biết vẽ, tết tóc, đánh đàn…

Mô hình lớp học phổ biến:
- Sắp xếp bàn ghế và đồ đạc linh hoạt chủ yếu bố trí theo cấp độ
hay nhóm nhỏ:
+ Theo nhóm: 3-4 học sinh
+ Hình chữ U
+ Dãy bàn
+ Ngồi riêng: ví dụ như học sinh cá biệt, học sinh quá nghịch
(trường hợp này cần hỏi ý kiến phụ huynh học sinh hoặc do phụ
huynh đề xuất).
+ Bàn cho cô giáo kèm nhóm nhỏ.
Hoạt động dạy và học không chỉ diễn ra ở khu vực bảng hoặc
bàn học sinh mà diễn ra ở bất cứ đâu trong lớp, cô giáo đứng ở
mọi vị trí.
- Đặc biệt, khi kiểm tra, đối với những học sinh nhận thức
kém, không làm kịp thời lượng tốc độ của cả lớp hơn thì giáo
viên sẽ cho các em thời lượng thời gian nhiều hơn so với các
bạn khác. 

7, Phương pháp cụ thể để dạy tập làm văn không
cần văn mẫu GV vẫn HD HS làm được bài văn đảm
bảo qua một số dạng bài cụ thể:

A, Hướng dẫn HS bài văn: Tả cây cối lớp 4
I, Tìm hiểu chung:
Chuẩn kiến thức kĩ năng tuần 27 yêu cầu cần đạt:
- Viết được 1 bài văn hoàn chỉnh tả cây cối theo gợi ý đề bài
SGK( hoặc đề bài do GV lựa chọn ; bài viết đủ 3 phần (MB, TB,
KL), diễn đạt thành câu, lời tả tự nhiên, rõ ý.
Quyết định 16 yêu cầu: Độ dài khoảng 16 câu.
SGK cụ thể: 9 tiết dạy cho kiểu bài tả cây cối

. Tuần 21: Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối:
Bài văn miêu tả cây cối thường có 3 phần:
1.Mở bài: Tả hoặc giới thiệu bao quát về cây.
2. Thân bài: Tả từng bộ phận của cây hoặc tả từng thời kì
phát triển của cây
3.Kết bài: Có thể nêu ích lợi của cây, ấn tượng đặc biệt hoặc
tình cảm với cây.
• Tuần 22: Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối
• Tuần 23: Đoạn văn trong bài miêu tả cây cối.
• Tuần 24: Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối
• Tuần 25 : Luyện tập mở bài trong bài văn tả cây côi
• Tuần 26: - Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn miêu
tả cây cối;
- Luyện tập miêu tả cây cối
• Tuần 27: - Miêu tả cây cối (Kiểm tra)
- Trả bài kiểm tra

Có 4 đề:
1, Tả một cây có bóng mát.
2, Tả một cây ăn quả.
3, Tả một cây hoa.
4, Tả một luống rau, một vườn hoa.

Tại sao HS vẫn không viết được? Hướng
dẫn như thế nào để HS có thể viết tỉ mỉ được?

II, Hướng dẫn tỉ mỉ riêng từng phần nhỏ:
 
Gửi ý kiến