Tuần 19. Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Việt Hoa
Ngày gửi: 22h:52' 02-12-2007
Dung lượng: 286.5 KB
Số lượt tải: 258
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Việt Hoa
Ngày gửi: 22h:52' 02-12-2007
Dung lượng: 286.5 KB
Số lượt tải: 258
Số lượt thích:
0 người
Sinh viên : Nguyễn Hải Châu
Lớp : K2- 07
Ngành : Văn học
Phú sông Bạch Đằng
(Bạch Đằng giang phú - Trương Hán Siêu)
I. Tiểu dẫn
II. Đọc hiểu
III. Tổng kết (phần Ghi nhớ SGK)
IV. Luyện tập
1. Tác giả
2. Tác phẩm
3. Bố cục :
3 phần :
- ?Khách có kẻ? luống còn lưu? (21 câu đầu)
- ?Bên sông bô lão? lệ chan? (33 câu tiếp)
- ?Rồi vừa đi vừa ca rằng ... đức cao? (10 câu cuối)
Cảm xúc của khách trước sông Bạch Đằng :
- ?Khách? : một tâm hồn phóng khoáng, ham hiểu biết.
- Các địa danh : ?Nguyên?, ?Tương?, ?Vũ Huyệt?, ?Cửu Giang?, ?Ngũ Hồ?? mang tính ước lệ.
- Tâm trạng lâng lâng của người ngắm cảnh trước nét hùng vĩ, thơ mộng của sông nước Bạch Đằng và sự lặng buồn khi nghĩ đến cảnh cũ, người xưa : ?Sông chìm ? giờ lâu?.
2. Lời kể của các bô lão về chiến tích trên sông Bạch Đằng :
- ?Bô lão? : người dân địa phương, chứng nhân của lịch sử.
- Các cụm từ chỉ thời gian, các hình ảnh miêu tả trận đánh ở thế giằng co quyết liệt hiện lên rõ nét qua giọng hồi tưởng trang nghiêm của các bô lão.
- So sánh với trận Xích Bích, Hợp Phì thể hiện lòng tự hào, kết quả là giặc bị thất bại nhục nhã.
3. Lời bình luận về trận thắng Bạch Đằng :
- Các bô lão bình luận về chiến công : chúng ta thắng vì ba yếu tố : Thiên - Địa ? Nhân, trong đó quan trọng nhất là yếu tố con người (?đại vương coi thế giặc nhàn?).
- Khách cũng nối tiếp ca ngợi chiến công, đức độ của con người Đại Việt : ?hai vị thánh quân? : hai vua nhà Trần.
- Trương Hán Siêu (chữ Hán: 張漢超;?-1354) tên tự là Thăng Phủ, hiệu Đôn Tẩu, quê tại làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh (sau đổi thành Gia Khánh), lộ Trường Yên (nay là xã Phúc Am, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình), xuất thân là môn khách của Trần Hưng Đạo, tính tình cương nghị, học vấn uyên thâm, tham dự cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba.
- Năm 1308, ông được vua Trần Anh Tông bổ Hàn lâm học sĩ. Đời Trần Minh Tông giữ chức Hành khiển. Sang đời Trần Hiến Tông năm 1339 làm môn hạ hữu ty lang trung, đến đời Trần Dụ Tông năm 1342 đổi sang tả ty lang trung kiêm Kinh lược sứ ở Lạng Giang, rồi thăng tả gián nghị đại phu năm 1345 và năm 1351 làm tham tri chính sự. Năm Quý Tỵ 1353, ông lãnh quân Thần sách ra trấn nhậm ở Hóa Châu, giữ đất này yên ổn. Tháng 11 năm sau, ông cáo bệnh xin về nghỉ, nhưng về chưa đến kinh sư thì ông mất. Sau khi ông mất, vua cho truy tặng hàm thái bảo, năm 1363 truy tặng thái phó và được thờ ở Văn miếu quốc gia (từ năm 1372), ngang với các bậc hiền triết đời xưa.
- Trương Hán Siêu là người có học vấn sâu rộng, giàu lòng yêu nước, được các vua đời Trần tôn quý như bậc thầy. Thời trẻ, ông bài (phản đối) Phật, nhưng vua không trách, còn bổ ông làm quản tự cho một ngôi chùa lớn. Ông có bài Bạch Đằng Giang phú được truyền tụng và soạn Linh tế thập ký (bài ký tháp Linh Tế) Quang nghiêm tự bi văn (bài văn bia chùa Quang Nghiêm). Ông và Nguyễn Trung Ngạn hợp soạn bộ Hoàng triều đại điển và Hình thư. Hiện tại còn lưu được 3 bài văn 4 bài thơ. Bài Bạch Đằng giang phú của ông được truyền tụng và bài thơ về núi Dục Thúy được khắc bên sườn núi, hãy còn bút tích. ¤ng còng s¸ng t¸c c¸c bµi th¬ nh : Cóc hoa vÞnh, Dôc Thuý s¬n kh¾c th¹ch.
Trương hán siêu
Tuy nhiên, cuộc đời ông không phải là không có tì vết. Năm 1326, khi là hành khiển ông nói trong triều rằng hình quan Phạm Ngộ và Lê Duy ăn hối lộ. Vua Minh Tông cho điều tra. Ông nói kín với người khác: "Tôi làm việc ở chính phủ, được chúa thượng tin dùng, cho nên mới nói thế, biết đâu lại có chuyện tra xét này!". Vua nghe vậy nói: "Hành khiển là quan ở sảnh, Thẩm hình là quan ở viện, ta đều tín nhiệm cả. Sao lại làm ta tin quan sảnh mà ngờ quan viện?". Đến khi tra hỏi, ông đuối lý phải phạt 300 quan tiền. Ông nổi tiếng thời bấy giờ, nhưng Tông chính đại khanh Lê Cư Nhân từng coi ông là chân đá cầu nhà quê, vì người làng quê đá cầu phần nhiều không trúng, để ví với Trương Hán Siêu lo liệu công việc phần nhiều không thỏa đáng. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư (ĐVSKTT), ông khinh bỉ người cùng hàng, không giao du với họ, chỉ chơi thân với bọn hoạn quan Phạm Nghiêu Tư, gặp quan thầy thuốc thì thế nào cũng đùa bợt nói cười, đều là những kẻ không đồng điệu với ông. Đến khi coi đất Lạng Giang thì gả con gái cho tù trưởng đất ấy là Nùng Ích Vấn, khi coi chùa Huỳnh Lâm thì gả con gái cho tam bảo nô Nguyễn Chế, đều vì mộ sự giàu có của họ cả. Vì thế ĐVSKTT mới viết rằng: “...Trương Hán Siêu là ông quan văn học, vượt hẳn mọi người, tuy cứng cỏi, chính trực nhưng lại chơi với kẻ không đáng chơi, gả con gái cho người không đáng gả....” Ngô Sĩ Liên còn viết trong ĐVSKTT: “Nghệ hoàng ban cho Hán Siêu được tòng tự ở Văn Miếu vì ông ta hay bài xích dị đoan chăng? Hình như vậy. Nhưng xét ra ông ta là người cậy tài, kiêu ngạo. Thời Minh Tông, Hán Siêu làm hành khiển, khinh bỉ người cùng hàng, đến nỗi vu cho Phạm Ngộ, Lê Duy nhận hối lộ. Khi đuối lý bị phạt, còn nói với người khác: "Đã được chúa thượng tin dùng, đâu ngờ có chuyện xét hỏi lại", thì thực là bằng chứng của thói kiêu ngạo, keo bẩn đấy”. Khổng Tử nói: "Dẫu tài giỏi đến như Chu Công mà kiêu ngạo và keo bẩn thì những gì còn lại cũng chẳng ra sao!".
Khách hữu: Quải hãn mạn chi phong phàm, Thập hạo đãng chi hải nguyệt. Triều kiết huyền hề Nguyên Tương, Mộ u thám hề Vũ Huyệt. Cửu Giang Ngũ Hồ, Tam Ngô Bách Việt. Nhân tích sở chí, Mi bất kinh duyệt, Hung thôn Vân Mộng giả sổ bách, Nhi tứ phương tráng chí do khuyết như dã. Nãi cử tiếp hề trung lưu, tòng Tử Trường chi viễn du. Thiệp Đại Than khẩu, tố Đông Triều đầu, để Bạch Đằng giang, thị phiếm thị phù. Tiếp kình ba ư vô tế, trám diêu vĩ chi tương mâu. Thủy thiên nhất sắc, phong cảnh tam thu. Chử địch ngạn lô, sắt sắt sưu sưu. Chiết kích trầm giang, khô cốt doanh khâu. Thảm nhiên bất lạc, trữ lập ngưng mâu. Niệm hào kiệt chi dĩ vãng, thán tông tích chi không lưu. Giang biên phụ lão vị ngã hà cầu? Hoặc phò lê trượng, hoặc trạo cô chu,
Tiếp dư nhi ngôn viết: Thử trọng hưng nhị thánh cầm Ô Mã Nhi chi chiến địa, dữ tích thì Ngô chủ phá Lưu Hoằng Tháo chi cố châu dã.
Đương kì: Trục lô thiên lý, tinh kì ỷ ni. Tì hưu lục quân, binh nhận phong khởi, thư hùng vị quyết, nam bắc đối lũy. Nhật nguyệt hôn hề vô quang, thiên địa lẫm hề tướng hủy. Bỉ tất liệt chi thế cương, Lưu Cung chi kế quỷ. Tự vị đầu tiên, khả tảo nam kỉ.
Kí nhi : Hoàng thiên trợ thuận, hung đồ phi mi. Mạnh Đức Xích Bích chi sư, đàm tiếu phi hôi. Phục Kiên Hợp Phì chi trận, tu du tống tử. Chí kim giang lưu, chung bất tuyết sỉ. Tái tạo chi công, thiên cổ xưng mĩ.
Tuy nhiên: Tự hữu vũ trụ, cố hữu giang sơn. Tín thiên tiệm chi thiết hiểm, lại nhân kiệt dĩ điện an. Mạnh Tân chi hội, sư vương nhược Lã. Duy thủy chi chiến, quốc sĩ như Hàn. Duy thử giang nhi đại tiệp, do đại vương chi tặc nhàn. Anh phong khả tưởng, khẩu bi bất san. Hoài cổ nhân hề vẫn thế, Lâm giang lưu hề hậu nhan.
Hành thả ca viết: "đại giang hề cổn cổn, hồng đào cự lãng hề triều tông vô tận. Nhân nhân hề văn danh, phỉ nhân hề câu mẫn.“ Khách tòng nhi canh ca viết: "nhị thánh hề thùy minh, tựu thử giang hề tẩy giáp binh. Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình.“ Tín tri: Bất tại quan hà chi hiểm hề, duy tại ý đức chi mạc kinh.
Phiên âm chữ Hán : Bạch Đằng giang phú
Một vài hình ảnh về sông Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng do Sông Giá và Sông Đá Bạc hợp lại mà thành ở khu vực bến đò An Hưng( Huyện Yên Hưng) sang Đoan Lễ (huyện Thuỷ Nguyên), người xưa gọi là họng sông. Sông Bạch Đằng đổ ra biển bằng hai cửa. Dòng chính Đổ ra biển bằng cửa Nam Triệu dài khoảng 20km. Hai chi lưu là sông Tranh và sông Rút ( còn gọi là Sông Nam) đổ ra biển bằng cửa Lạch Huyện dài khoảng 18km.
Một vài hình ảnh về sông Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng còn có tên gọi là sông Vân Cừ, Sông Rừng, tên gọi của dòng sông có lẽ xuất phát từ đặc điểm Sông Bạch Đằng là con sông lớn. Đoạn họng sông xưa kia từ Đoan Lễ huyện Thuỷ Nguyên đến Làng Rừng huyện Yên Hưng rộng tới 7km.
Hưng Đạo Đại Vương
Tên chính của ông là Trần Quốc Tuấn. Theo Ngọc phả Đình Đền Công xã Điền Công, Ông sinh ngày mồng 10 tháng 12 năm Mậu Tý 1228 nguyên quán ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông là con của Anh Sinh Vương Trần Liễu và Bà Nguyệt, là em của Vũ Thành Vương Trần Doãn và là anh của Thiên Cảm Hoàng Hậu vợ vua Trần Thánh Tông.
Vài nét về trận Bạch Đằng (9/4/1288) Trong trận này, 8 vạn thuỷ quân và 400 thuyền chiến của địch đã bị ta tiêu diệt. Nghệ thuật quân sự của quân dân thời Trần là phối hợp chặt chẽ giữa quân đội nhà vua (chủ lực) và dân binh địa phương. Trong tác chiến đã sử dụng hình thức phục kích để tiêu diệt địch. Về chiến lược, chiến thuật: chọn đạo quân thuỷ của địch làm đối tượng tiến công, tiêu diệt trước và chủ yếu; đó là một quyết tâm rất chính xác vì so với đạo bộ binh chủ lực, thì số lượng đạo quân thủy ít hơn, không giỏi chiến đấu bằng và phải tốn nhiều công sức xây dựng. Quãng sông Bạch Đằng, nơi được chọn làm địa điểm tác chiến là một khu vực hiểm yếu có đủ những điều kiện cần thiết, đáp ứng được yêu cầu bố trí một trận mai phục trên sông với quy mô lớn. Tuy vậy, muốn khai thác triệt để những điều kiện thuận lợi trên, còn cần phải có một nghệ thuật tác chiến rất cao, như tìm cách cô lập hoàn toàn đạo quân thuỷ của ô Mã Nhi với đạo bộ binh chủ lực của Thoát Hoan, tách rời đạo kỵ binh đi yểm hộ và dần dần điều động đạo quân thuỷ này từng bước lọt vào đúng trận địa mai phục, theo đúng thời gian đã được xác định. Bởi vậy, đạo thuỷ quân địch dù đông tới 8 vạn tên, được đề phòng rất cẩn mật, nhưng vẫn gặp nhiều bất ngờ, lúng túng buộc phải bị động đối phó từ đầu đến cuối, và kết qủa là bị tiêu diệt hoàn toàn. Chiến thắng Bạch Đằng còn là kết quả của sự phối hợp tác chiến có hiệu quả cao giữa thuỷ quân và bộ binh, giữa quân chủ lực với các đội dân binh, giữa các lực lượng tham chiến về thời gian và không gian.Thế là trong vòng ba mươi nǎm, quân dân ta đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông, đội quân xâm lược mạnh nhất và hung hãn nhất của thời đó, bảo vệ quyền độc lập tự chủ của đất nước.Sức mạnh để làm nên chiến thắng là khối đoàn kết toàn dân như Trần Hưng Đạo đã nói, đó là ''vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, nước nhà chung sức". Chính nhờ khối đoàn kết đó mà một cuộc chiến tranh nhân dân, ''cả nước đánh giặc ", "trǎm họ là binh", mới có thể thực hiện. Và sau cùng, nguyên nhân sâu xa hơn của chiến thắng là sự ổn định kinh tế - xã hội thời Trần, được tạo ra từ đường lối “lấy dân làm gốc". Nói đến những chiến công chống xâm lược thời Trần, chúng ta không thể không nhớ tới câu nói tuyệt vời của Trần Hưng đạo: ''Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước''.
Phân tích bài “Bạch Đằng Giang Phú” của Trương Hán Siêu
Nhận xét về tác phẩm Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu , SGV Văn học 10 tập I, có viết:Giá trị của bài phú là ở chỗ không chỉ làm sèng dậy hào khí chiến thắng của trận B¹ch Đằng mà còn làm sáng lên những chân lý muôn đời của dân tộc. Anh ( chị ) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Một số bài tập
Chiếu mờ trong sương khói, trập trùng sau núi đồi. Từng đoàn quân hiên ngang cất bước theo gót chân nhau đến sa trường. Mặt tròi soi bóng nước, vầng trăng treo ánh gươm. Ôi bao nhiêu những hy sinh cho hôm nay những anh hùng. Kìa những cọc nhọn vẫn vươn mình trong sóng nước. Và bóng mẹ già đứng bên thềm chờ quân đến. Mặt nước hào hùng đã in hình bao chiến sĩ. Cầm giáo vượt ngàn chống quân thù vì đất nước. Bạch Đằng Giang - nơi chôn xác bao quân thù Bạch Đằng Giang - nơi ghi dấu bao anh hùng Bạch Đằng Giang!----- Hịch truyền vang sông núi, người người dưới bóng cờ. Thề cùng nhau sát cánh dâng hiến xương máu cho quê hương mãi thanh bình. Bập bùng nghe tiếng trống, và rền vang tiếng chiêng. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng âm thanh vẫn vang vọng. Kìa những cọc nhọn vẫn vươn mình trong sóng nước. Và bóng mẹ già đứng bên thềm chờ quân đến. Mặt nước hào hùng đã in hình bao chiến sĩ. Cầm giáo vượt ngàn chống quân thù vì đất nước. Bạch Đằng Giang - nơi chôn xác bao quân thù Bạch Đằng Giang - nơi ghi dấu bao anh hùng Bạch Đằng Giang! Hội nghị Diên Hồng những nắm tay, dòng máu hào hùng của núi sông. Từ những cụ già đến những bé thơ : Nên hòa hay nên chiến ? Nên hòa hay nên chiến ??? Chiến!!!.. Chiến!!!.. Chiến!!!.. Sát Thát!!! Bạch Đằng Giang - nơi chôn xác bao quân thù Bạch Đằng Giang - nơi ghi dấu bao anh hùng Bạch Đằng Giang!
Bài hát : Bạch Đằng giang (nhóm Da vàng)
Lớp : K2- 07
Ngành : Văn học
Phú sông Bạch Đằng
(Bạch Đằng giang phú - Trương Hán Siêu)
I. Tiểu dẫn
II. Đọc hiểu
III. Tổng kết (phần Ghi nhớ SGK)
IV. Luyện tập
1. Tác giả
2. Tác phẩm
3. Bố cục :
3 phần :
- ?Khách có kẻ? luống còn lưu? (21 câu đầu)
- ?Bên sông bô lão? lệ chan? (33 câu tiếp)
- ?Rồi vừa đi vừa ca rằng ... đức cao? (10 câu cuối)
Cảm xúc của khách trước sông Bạch Đằng :
- ?Khách? : một tâm hồn phóng khoáng, ham hiểu biết.
- Các địa danh : ?Nguyên?, ?Tương?, ?Vũ Huyệt?, ?Cửu Giang?, ?Ngũ Hồ?? mang tính ước lệ.
- Tâm trạng lâng lâng của người ngắm cảnh trước nét hùng vĩ, thơ mộng của sông nước Bạch Đằng và sự lặng buồn khi nghĩ đến cảnh cũ, người xưa : ?Sông chìm ? giờ lâu?.
2. Lời kể của các bô lão về chiến tích trên sông Bạch Đằng :
- ?Bô lão? : người dân địa phương, chứng nhân của lịch sử.
- Các cụm từ chỉ thời gian, các hình ảnh miêu tả trận đánh ở thế giằng co quyết liệt hiện lên rõ nét qua giọng hồi tưởng trang nghiêm của các bô lão.
- So sánh với trận Xích Bích, Hợp Phì thể hiện lòng tự hào, kết quả là giặc bị thất bại nhục nhã.
3. Lời bình luận về trận thắng Bạch Đằng :
- Các bô lão bình luận về chiến công : chúng ta thắng vì ba yếu tố : Thiên - Địa ? Nhân, trong đó quan trọng nhất là yếu tố con người (?đại vương coi thế giặc nhàn?).
- Khách cũng nối tiếp ca ngợi chiến công, đức độ của con người Đại Việt : ?hai vị thánh quân? : hai vua nhà Trần.
- Trương Hán Siêu (chữ Hán: 張漢超;?-1354) tên tự là Thăng Phủ, hiệu Đôn Tẩu, quê tại làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh (sau đổi thành Gia Khánh), lộ Trường Yên (nay là xã Phúc Am, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình), xuất thân là môn khách của Trần Hưng Đạo, tính tình cương nghị, học vấn uyên thâm, tham dự cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai và thứ ba.
- Năm 1308, ông được vua Trần Anh Tông bổ Hàn lâm học sĩ. Đời Trần Minh Tông giữ chức Hành khiển. Sang đời Trần Hiến Tông năm 1339 làm môn hạ hữu ty lang trung, đến đời Trần Dụ Tông năm 1342 đổi sang tả ty lang trung kiêm Kinh lược sứ ở Lạng Giang, rồi thăng tả gián nghị đại phu năm 1345 và năm 1351 làm tham tri chính sự. Năm Quý Tỵ 1353, ông lãnh quân Thần sách ra trấn nhậm ở Hóa Châu, giữ đất này yên ổn. Tháng 11 năm sau, ông cáo bệnh xin về nghỉ, nhưng về chưa đến kinh sư thì ông mất. Sau khi ông mất, vua cho truy tặng hàm thái bảo, năm 1363 truy tặng thái phó và được thờ ở Văn miếu quốc gia (từ năm 1372), ngang với các bậc hiền triết đời xưa.
- Trương Hán Siêu là người có học vấn sâu rộng, giàu lòng yêu nước, được các vua đời Trần tôn quý như bậc thầy. Thời trẻ, ông bài (phản đối) Phật, nhưng vua không trách, còn bổ ông làm quản tự cho một ngôi chùa lớn. Ông có bài Bạch Đằng Giang phú được truyền tụng và soạn Linh tế thập ký (bài ký tháp Linh Tế) Quang nghiêm tự bi văn (bài văn bia chùa Quang Nghiêm). Ông và Nguyễn Trung Ngạn hợp soạn bộ Hoàng triều đại điển và Hình thư. Hiện tại còn lưu được 3 bài văn 4 bài thơ. Bài Bạch Đằng giang phú của ông được truyền tụng và bài thơ về núi Dục Thúy được khắc bên sườn núi, hãy còn bút tích. ¤ng còng s¸ng t¸c c¸c bµi th¬ nh : Cóc hoa vÞnh, Dôc Thuý s¬n kh¾c th¹ch.
Trương hán siêu
Tuy nhiên, cuộc đời ông không phải là không có tì vết. Năm 1326, khi là hành khiển ông nói trong triều rằng hình quan Phạm Ngộ và Lê Duy ăn hối lộ. Vua Minh Tông cho điều tra. Ông nói kín với người khác: "Tôi làm việc ở chính phủ, được chúa thượng tin dùng, cho nên mới nói thế, biết đâu lại có chuyện tra xét này!". Vua nghe vậy nói: "Hành khiển là quan ở sảnh, Thẩm hình là quan ở viện, ta đều tín nhiệm cả. Sao lại làm ta tin quan sảnh mà ngờ quan viện?". Đến khi tra hỏi, ông đuối lý phải phạt 300 quan tiền. Ông nổi tiếng thời bấy giờ, nhưng Tông chính đại khanh Lê Cư Nhân từng coi ông là chân đá cầu nhà quê, vì người làng quê đá cầu phần nhiều không trúng, để ví với Trương Hán Siêu lo liệu công việc phần nhiều không thỏa đáng. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư (ĐVSKTT), ông khinh bỉ người cùng hàng, không giao du với họ, chỉ chơi thân với bọn hoạn quan Phạm Nghiêu Tư, gặp quan thầy thuốc thì thế nào cũng đùa bợt nói cười, đều là những kẻ không đồng điệu với ông. Đến khi coi đất Lạng Giang thì gả con gái cho tù trưởng đất ấy là Nùng Ích Vấn, khi coi chùa Huỳnh Lâm thì gả con gái cho tam bảo nô Nguyễn Chế, đều vì mộ sự giàu có của họ cả. Vì thế ĐVSKTT mới viết rằng: “...Trương Hán Siêu là ông quan văn học, vượt hẳn mọi người, tuy cứng cỏi, chính trực nhưng lại chơi với kẻ không đáng chơi, gả con gái cho người không đáng gả....” Ngô Sĩ Liên còn viết trong ĐVSKTT: “Nghệ hoàng ban cho Hán Siêu được tòng tự ở Văn Miếu vì ông ta hay bài xích dị đoan chăng? Hình như vậy. Nhưng xét ra ông ta là người cậy tài, kiêu ngạo. Thời Minh Tông, Hán Siêu làm hành khiển, khinh bỉ người cùng hàng, đến nỗi vu cho Phạm Ngộ, Lê Duy nhận hối lộ. Khi đuối lý bị phạt, còn nói với người khác: "Đã được chúa thượng tin dùng, đâu ngờ có chuyện xét hỏi lại", thì thực là bằng chứng của thói kiêu ngạo, keo bẩn đấy”. Khổng Tử nói: "Dẫu tài giỏi đến như Chu Công mà kiêu ngạo và keo bẩn thì những gì còn lại cũng chẳng ra sao!".
Khách hữu: Quải hãn mạn chi phong phàm, Thập hạo đãng chi hải nguyệt. Triều kiết huyền hề Nguyên Tương, Mộ u thám hề Vũ Huyệt. Cửu Giang Ngũ Hồ, Tam Ngô Bách Việt. Nhân tích sở chí, Mi bất kinh duyệt, Hung thôn Vân Mộng giả sổ bách, Nhi tứ phương tráng chí do khuyết như dã. Nãi cử tiếp hề trung lưu, tòng Tử Trường chi viễn du. Thiệp Đại Than khẩu, tố Đông Triều đầu, để Bạch Đằng giang, thị phiếm thị phù. Tiếp kình ba ư vô tế, trám diêu vĩ chi tương mâu. Thủy thiên nhất sắc, phong cảnh tam thu. Chử địch ngạn lô, sắt sắt sưu sưu. Chiết kích trầm giang, khô cốt doanh khâu. Thảm nhiên bất lạc, trữ lập ngưng mâu. Niệm hào kiệt chi dĩ vãng, thán tông tích chi không lưu. Giang biên phụ lão vị ngã hà cầu? Hoặc phò lê trượng, hoặc trạo cô chu,
Tiếp dư nhi ngôn viết: Thử trọng hưng nhị thánh cầm Ô Mã Nhi chi chiến địa, dữ tích thì Ngô chủ phá Lưu Hoằng Tháo chi cố châu dã.
Đương kì: Trục lô thiên lý, tinh kì ỷ ni. Tì hưu lục quân, binh nhận phong khởi, thư hùng vị quyết, nam bắc đối lũy. Nhật nguyệt hôn hề vô quang, thiên địa lẫm hề tướng hủy. Bỉ tất liệt chi thế cương, Lưu Cung chi kế quỷ. Tự vị đầu tiên, khả tảo nam kỉ.
Kí nhi : Hoàng thiên trợ thuận, hung đồ phi mi. Mạnh Đức Xích Bích chi sư, đàm tiếu phi hôi. Phục Kiên Hợp Phì chi trận, tu du tống tử. Chí kim giang lưu, chung bất tuyết sỉ. Tái tạo chi công, thiên cổ xưng mĩ.
Tuy nhiên: Tự hữu vũ trụ, cố hữu giang sơn. Tín thiên tiệm chi thiết hiểm, lại nhân kiệt dĩ điện an. Mạnh Tân chi hội, sư vương nhược Lã. Duy thủy chi chiến, quốc sĩ như Hàn. Duy thử giang nhi đại tiệp, do đại vương chi tặc nhàn. Anh phong khả tưởng, khẩu bi bất san. Hoài cổ nhân hề vẫn thế, Lâm giang lưu hề hậu nhan.
Hành thả ca viết: "đại giang hề cổn cổn, hồng đào cự lãng hề triều tông vô tận. Nhân nhân hề văn danh, phỉ nhân hề câu mẫn.“ Khách tòng nhi canh ca viết: "nhị thánh hề thùy minh, tựu thử giang hề tẩy giáp binh. Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình.“ Tín tri: Bất tại quan hà chi hiểm hề, duy tại ý đức chi mạc kinh.
Phiên âm chữ Hán : Bạch Đằng giang phú
Một vài hình ảnh về sông Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng do Sông Giá và Sông Đá Bạc hợp lại mà thành ở khu vực bến đò An Hưng( Huyện Yên Hưng) sang Đoan Lễ (huyện Thuỷ Nguyên), người xưa gọi là họng sông. Sông Bạch Đằng đổ ra biển bằng hai cửa. Dòng chính Đổ ra biển bằng cửa Nam Triệu dài khoảng 20km. Hai chi lưu là sông Tranh và sông Rút ( còn gọi là Sông Nam) đổ ra biển bằng cửa Lạch Huyện dài khoảng 18km.
Một vài hình ảnh về sông Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng còn có tên gọi là sông Vân Cừ, Sông Rừng, tên gọi của dòng sông có lẽ xuất phát từ đặc điểm Sông Bạch Đằng là con sông lớn. Đoạn họng sông xưa kia từ Đoan Lễ huyện Thuỷ Nguyên đến Làng Rừng huyện Yên Hưng rộng tới 7km.
Hưng Đạo Đại Vương
Tên chính của ông là Trần Quốc Tuấn. Theo Ngọc phả Đình Đền Công xã Điền Công, Ông sinh ngày mồng 10 tháng 12 năm Mậu Tý 1228 nguyên quán ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông là con của Anh Sinh Vương Trần Liễu và Bà Nguyệt, là em của Vũ Thành Vương Trần Doãn và là anh của Thiên Cảm Hoàng Hậu vợ vua Trần Thánh Tông.
Vài nét về trận Bạch Đằng (9/4/1288) Trong trận này, 8 vạn thuỷ quân và 400 thuyền chiến của địch đã bị ta tiêu diệt. Nghệ thuật quân sự của quân dân thời Trần là phối hợp chặt chẽ giữa quân đội nhà vua (chủ lực) và dân binh địa phương. Trong tác chiến đã sử dụng hình thức phục kích để tiêu diệt địch. Về chiến lược, chiến thuật: chọn đạo quân thuỷ của địch làm đối tượng tiến công, tiêu diệt trước và chủ yếu; đó là một quyết tâm rất chính xác vì so với đạo bộ binh chủ lực, thì số lượng đạo quân thủy ít hơn, không giỏi chiến đấu bằng và phải tốn nhiều công sức xây dựng. Quãng sông Bạch Đằng, nơi được chọn làm địa điểm tác chiến là một khu vực hiểm yếu có đủ những điều kiện cần thiết, đáp ứng được yêu cầu bố trí một trận mai phục trên sông với quy mô lớn. Tuy vậy, muốn khai thác triệt để những điều kiện thuận lợi trên, còn cần phải có một nghệ thuật tác chiến rất cao, như tìm cách cô lập hoàn toàn đạo quân thuỷ của ô Mã Nhi với đạo bộ binh chủ lực của Thoát Hoan, tách rời đạo kỵ binh đi yểm hộ và dần dần điều động đạo quân thuỷ này từng bước lọt vào đúng trận địa mai phục, theo đúng thời gian đã được xác định. Bởi vậy, đạo thuỷ quân địch dù đông tới 8 vạn tên, được đề phòng rất cẩn mật, nhưng vẫn gặp nhiều bất ngờ, lúng túng buộc phải bị động đối phó từ đầu đến cuối, và kết qủa là bị tiêu diệt hoàn toàn. Chiến thắng Bạch Đằng còn là kết quả của sự phối hợp tác chiến có hiệu quả cao giữa thuỷ quân và bộ binh, giữa quân chủ lực với các đội dân binh, giữa các lực lượng tham chiến về thời gian và không gian.Thế là trong vòng ba mươi nǎm, quân dân ta đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông, đội quân xâm lược mạnh nhất và hung hãn nhất của thời đó, bảo vệ quyền độc lập tự chủ của đất nước.Sức mạnh để làm nên chiến thắng là khối đoàn kết toàn dân như Trần Hưng Đạo đã nói, đó là ''vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, nước nhà chung sức". Chính nhờ khối đoàn kết đó mà một cuộc chiến tranh nhân dân, ''cả nước đánh giặc ", "trǎm họ là binh", mới có thể thực hiện. Và sau cùng, nguyên nhân sâu xa hơn của chiến thắng là sự ổn định kinh tế - xã hội thời Trần, được tạo ra từ đường lối “lấy dân làm gốc". Nói đến những chiến công chống xâm lược thời Trần, chúng ta không thể không nhớ tới câu nói tuyệt vời của Trần Hưng đạo: ''Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước''.
Phân tích bài “Bạch Đằng Giang Phú” của Trương Hán Siêu
Nhận xét về tác phẩm Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu , SGV Văn học 10 tập I, có viết:Giá trị của bài phú là ở chỗ không chỉ làm sèng dậy hào khí chiến thắng của trận B¹ch Đằng mà còn làm sáng lên những chân lý muôn đời của dân tộc. Anh ( chị ) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Một số bài tập
Chiếu mờ trong sương khói, trập trùng sau núi đồi. Từng đoàn quân hiên ngang cất bước theo gót chân nhau đến sa trường. Mặt tròi soi bóng nước, vầng trăng treo ánh gươm. Ôi bao nhiêu những hy sinh cho hôm nay những anh hùng. Kìa những cọc nhọn vẫn vươn mình trong sóng nước. Và bóng mẹ già đứng bên thềm chờ quân đến. Mặt nước hào hùng đã in hình bao chiến sĩ. Cầm giáo vượt ngàn chống quân thù vì đất nước. Bạch Đằng Giang - nơi chôn xác bao quân thù Bạch Đằng Giang - nơi ghi dấu bao anh hùng Bạch Đằng Giang!----- Hịch truyền vang sông núi, người người dưới bóng cờ. Thề cùng nhau sát cánh dâng hiến xương máu cho quê hương mãi thanh bình. Bập bùng nghe tiếng trống, và rền vang tiếng chiêng. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng âm thanh vẫn vang vọng. Kìa những cọc nhọn vẫn vươn mình trong sóng nước. Và bóng mẹ già đứng bên thềm chờ quân đến. Mặt nước hào hùng đã in hình bao chiến sĩ. Cầm giáo vượt ngàn chống quân thù vì đất nước. Bạch Đằng Giang - nơi chôn xác bao quân thù Bạch Đằng Giang - nơi ghi dấu bao anh hùng Bạch Đằng Giang! Hội nghị Diên Hồng những nắm tay, dòng máu hào hùng của núi sông. Từ những cụ già đến những bé thơ : Nên hòa hay nên chiến ? Nên hòa hay nên chiến ??? Chiến!!!.. Chiến!!!.. Chiến!!!.. Sát Thát!!! Bạch Đằng Giang - nơi chôn xác bao quân thù Bạch Đằng Giang - nơi ghi dấu bao anh hùng Bạch Đằng Giang!
Bài hát : Bạch Đằng giang (nhóm Da vàng)







chung em khong chi muon biet y nghia bai tho ma con muon tim hieu cac cau hoi trong bai tho hay van minh dang hoc.the nen em rat mong aqi do se dap ung duoc yeu cau nay cua em .cam on nhiu hihi