Tuần 20. Hầu Trời

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Thị Thanh Mai
Ngày gửi: 14h:08' 11-03-2022
Dung lượng: 648.0 KB
Số lượt tải: 448
Nguồn:
Người gửi: Hồ Thị Thanh Mai
Ngày gửi: 14h:08' 11-03-2022
Dung lượng: 648.0 KB
Số lượt tải: 448
Số lượt thích:
0 người
HẦU TRỜI
TẢN ĐÀ
Là người dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đương sắp sửa.
Sáng tác chủ yếu theo thể loại cũ nhưng nguồn cảm hứng lại rất mới mẻ.
Người đầu tiên sống bằng nghề văn, xuất bản.
- Ông sống khoáng đạt và đã đeo "túi thơ” đi khắp cuộc đời mình.
1. Tác giả:
I. Tìm hiểu chung:
(1889 - 1939)
a. xu?t x?:
b. Th? tho:
Th?t ngơn, tru?ng thin : (4cu/7ti?ng/kh?) ko di khơng h?n d?nh, v?n, nh?p tuong d?i t? do, phĩng khống.
Tho t? s? - tr? tình: cĩ c?t truy?n, m? d?u, pht tri?n, k?t thc cĩ cc nhn v?t, tình ti?t.nhung du?c k? l?i b?ng tho v th?m d?m tr? tình c?m xc.
2. Tác phẩm:
Cách mở đầu câu chuyện của Tản Đà có điểm gì thu hút người đọc?
Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thế!
Thật được lên tiên - sướng lạ lùng.
1. Cách vào bài:
II. Đọc – hiểu văn bản:
- Khổ thơ mở đầu 4 câu có tác dụng gây nghi vấn, gợi sự tò mò: Chuyện kể về một giấc mơ nhưng tác giả lại khẳng định nó là sự thật tác giả đã trải qua khiến cho câu chuyện mang không khí vừa thực vừa ảo.
- Điệp từ “thật” (Thật hồn! Thật phách!Thật thân thể! Thật được lên Tiên…): 4 lần / 2 câu;
- Câu cảm thán, ngắt nhịp 2/2/3: khẳng định chắc chắn, củng cố niềm tin, gây ấn tượng là chuyện có thật hoàn toàn.
=> Với lối vào đề thật độc đáo và có duyên làm cho câu chuyện tác giả sắp kể đầy lôi cuốn, hấp dẫn, gợi tò mò nơi người đọc.
a. Lý do và thời điểm thi nhân lên trời đọc thơ:
Canh ba-trăng sáng
Cảnh thiên môn rực rỡ
Lạy trời-ngồi chờ đọc thơ
Đun nước uống-ngâm văn
Trời mất ngủ-đòi lên đọc thơ
Tiên giáng trần mời lên trời
2. Quá trình hầu trời:
Lý do-thời điểm
II. Đọc – hiểu văn bản:
Thái độ của thi sĩ khi
đọc thơ cho Trời và chư
tiên nghe?
Thái độ này thể hiện
cá tính gì của ông?
Thái độ nghe thơ
của Trời và chư tiên?
Thái độ đó cho
thấy điều gì?
b. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe:
II. Đọc – hiểu văn bản:
Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.
Thái độ của thi nhân Thái độ của người nghe
Hai quyển “Khối tình” văn thuyết lí
Hai “Khối tình con” là văn chơi
“Thần tiền”, “Giấc mộng” văn tiểu thuyết
“Đài gương”, “Lên sáu” văn vị đời
Quyển “Đàn bà Tàu” lối văn dịch
Đến quyển “Lên tám” nay là mười
b. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe:
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.
Trời lại phê cho: "Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít!
Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!”
II. Đọc – hiểu văn bản:
a.Thái độ của thi nhân khi đọc thơ:
- Thi nhân đọc thơ một cách cao hứng và có phần tự đắc.(đọc hết văn vần văn xuôi…).
-Thi nhân kể tường tận từng chi tiết về các tác phẩm của mình (Hai quyển khối tình…)
- Gịong đọc thơ của thi nhân vừa truyền cảm, vừa hóm hỉnh, vừa sảng khoái cuốn hút người nghe.
Tản Đà là một người rất “ngông” khi dám lên tận trời để khẳng định tài năng của mình.
Bởi lẽ,Tản Đà là một nhà thơ biết ý thức về tài năng và thơ văn lên Trời để khẳng định tài năng thơ văn của mình.ủa mình, dám đường hoàng bộc lộ cái “TÔI” cá thể của mình.
Chư Tiên (Tâm, Cơ, Hằng Nga, Chức Nữ, Song Thành, Tiểu Ngọc )nghe thơ của thi nhân một cách xúc động, tán thưởng và hâm mộ.
b. Thái độ của trời và chư tiên khi nghe thơ:
- Thái độ của Trời: - Đánh giá cao;
- Không tiếc lời tán dương:
Văn thật tuyệt, Văn trần được thế chắc có ít / Nhời văn chuốt đẹp như sao băng ! / Khí văn hùng mạnh như mây chuyển! / Êm như gió thoảng, tinh như sương! / đẫm như mưa sa, lạnh như tuyết!”....
Tóm lại cả Trời và các Chư tiên đều rất thich thú, ngưỡng mộ trước tài năng của thi nhân.
“ Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn
Quê ở Á châu về Địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”
“ Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó
Trần gian thước đất cũng không có
Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều
Vốn liếng còn một bụng văn đó
Giấy người mực người thuê người in
Mướn cửa hàng người bán phường phố.
Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó.
………
Một cây che chống bốn năm chiều.”
c. Thi nhân trò chuyện với trời:
a. Xưng danh:
- Thi nhân công khai lí lịch rất rành mạch, hiện đại: tên, họ, quê, châu lục, hành tinh:
“Con tên Khắc Hiếu, họ là Nguyễn
Quê ở A Châu về Địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”
Cách xưng danh đầy trang trọng, đĩnh đạc chứng tỏ một giá trị không thể phủ nhận trong hoàn cảnh đất nước mất chủ quyền.
Cách tự xưng danh trong thơ văn cũng khẳng định hơn về cai tôi ca nhân của tác giả.
II. Đọc – hiểu văn bản:
Trời rằng: "Không phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc "thiên lương" của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay.
b.Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân:
Nhiệm vụ Trời giao cho thi nhân : Truyền bá “thiên lương” cho hạ giới - một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vinh dự vì có ý nghĩa với cuộc đời.
Với TĐ, công việc dưới trần gian của ông không chỉ là viết văn, chơi văn mà ông còn tự chất lên vai mình gánh nặng “văn chương tải đạo thiên lương”. Ông đã ý thức được trách nhiệm của mình với đời, đây cũng là một cách để tự khẳng định mình.
=> Từ trách nhiệm này, chứng tỏ nhà thơ dù lãng mạn nhưng vẫn không thoát ly hiện thực cuộc sống.Tác giả vẫn ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình với cuộc đời , mong giúp đời tốt đẹp hơn.
Bức tranh đời sống của văn nhân dưới hạ giới
- Tản Đà đã vẽ ra bức tranh hiện thực về cuộc sống của mình và nhiều nhà văn khác:
+ Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ vẽ ra bức tranh cuộc sống nghèo khó, cùng quẫn của tác giả và nhiều cây bút khác(Tản Đà còn nhiều bài thơ khác nói về tình cảnh của mình: Cảnh vui của nhà nghèo, ...)
+ Thực tế phũ phàng: Văn chương hạ giới rẻ như bèo, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, ông không tìm được tri âm nên phải lên tận trời để thỏa nguyện nỗi lòng
=> Đây cũng chính là thực tế đời sống của lớp văn nghệ sĩ nói chung thời bấy giờ với bi kịch “áo cơm ghì sát đất”: Tản Đà, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng , Xuân Diệu (Nỗi đời cơ cực...).
III. Tổng kết:
Nội dung
Nghệ thuật
Thể thơ thất ngôn trường thiên tự do
Khẳng định được tài năng
Cái tôi ngông-tài hoa
Cái tôi cô đơn, bế tắc
Hầu trời
Giọng điệu thoải mái, tự nhiên
Ngôn ngữ giản dị, sống động
Cách kể hóm hỉnh, lôi cuốn
LUYỆN TẬP
Câu 1: Cái ngông của Tản Đà được thể hiện ở những điểm nào trong bài thơ?
a. Đọc thơ cho trời nghe
b. Tự hào về tài thơ văn của mình,
c. Về nguồn gốc quê hương đất nước của mình,
d. Về sứ mạng vẻ vang là đi khơi dậy cho cái thiên lương của mọi người bằng thơ văn...
e. Tất cả đều đúng
LUYỆN TẬP
Tác giả kể chuyện đọc thơ, nhưng qua những lời kể trong Hầu Trời, có thể thấy được điều gì về tính cách và tâm hồn thi sĩ? Qua đó em học được gì về trách nhiệm của tuổi trẻ với đất nước?
Câu 2: Viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về vấn đề sau?
TẢN ĐÀ
Là người dạo bản đàn mở đầu cho một cuộc hoà nhạc tân kì đương sắp sửa.
Sáng tác chủ yếu theo thể loại cũ nhưng nguồn cảm hứng lại rất mới mẻ.
Người đầu tiên sống bằng nghề văn, xuất bản.
- Ông sống khoáng đạt và đã đeo "túi thơ” đi khắp cuộc đời mình.
1. Tác giả:
I. Tìm hiểu chung:
(1889 - 1939)
a. xu?t x?:
b. Th? tho:
Th?t ngơn, tru?ng thin : (4cu/7ti?ng/kh?) ko di khơng h?n d?nh, v?n, nh?p tuong d?i t? do, phĩng khống.
Tho t? s? - tr? tình: cĩ c?t truy?n, m? d?u, pht tri?n, k?t thc cĩ cc nhn v?t, tình ti?t.nhung du?c k? l?i b?ng tho v th?m d?m tr? tình c?m xc.
2. Tác phẩm:
Cách mở đầu câu chuyện của Tản Đà có điểm gì thu hút người đọc?
Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thế!
Thật được lên tiên - sướng lạ lùng.
1. Cách vào bài:
II. Đọc – hiểu văn bản:
- Khổ thơ mở đầu 4 câu có tác dụng gây nghi vấn, gợi sự tò mò: Chuyện kể về một giấc mơ nhưng tác giả lại khẳng định nó là sự thật tác giả đã trải qua khiến cho câu chuyện mang không khí vừa thực vừa ảo.
- Điệp từ “thật” (Thật hồn! Thật phách!Thật thân thể! Thật được lên Tiên…): 4 lần / 2 câu;
- Câu cảm thán, ngắt nhịp 2/2/3: khẳng định chắc chắn, củng cố niềm tin, gây ấn tượng là chuyện có thật hoàn toàn.
=> Với lối vào đề thật độc đáo và có duyên làm cho câu chuyện tác giả sắp kể đầy lôi cuốn, hấp dẫn, gợi tò mò nơi người đọc.
a. Lý do và thời điểm thi nhân lên trời đọc thơ:
Canh ba-trăng sáng
Cảnh thiên môn rực rỡ
Lạy trời-ngồi chờ đọc thơ
Đun nước uống-ngâm văn
Trời mất ngủ-đòi lên đọc thơ
Tiên giáng trần mời lên trời
2. Quá trình hầu trời:
Lý do-thời điểm
II. Đọc – hiểu văn bản:
Thái độ của thi sĩ khi
đọc thơ cho Trời và chư
tiên nghe?
Thái độ này thể hiện
cá tính gì của ông?
Thái độ nghe thơ
của Trời và chư tiên?
Thái độ đó cho
thấy điều gì?
b. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe:
II. Đọc – hiểu văn bản:
Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.
Thái độ của thi nhân Thái độ của người nghe
Hai quyển “Khối tình” văn thuyết lí
Hai “Khối tình con” là văn chơi
“Thần tiền”, “Giấc mộng” văn tiểu thuyết
“Đài gương”, “Lên sáu” văn vị đời
Quyển “Đàn bà Tàu” lối văn dịch
Đến quyển “Lên tám” nay là mười
b. Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe:
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.
Trời lại phê cho: "Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít!
Nhời văn chuốt đẹp như sao băng!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!”
II. Đọc – hiểu văn bản:
a.Thái độ của thi nhân khi đọc thơ:
- Thi nhân đọc thơ một cách cao hứng và có phần tự đắc.(đọc hết văn vần văn xuôi…).
-Thi nhân kể tường tận từng chi tiết về các tác phẩm của mình (Hai quyển khối tình…)
- Gịong đọc thơ của thi nhân vừa truyền cảm, vừa hóm hỉnh, vừa sảng khoái cuốn hút người nghe.
Tản Đà là một người rất “ngông” khi dám lên tận trời để khẳng định tài năng của mình.
Bởi lẽ,Tản Đà là một nhà thơ biết ý thức về tài năng và thơ văn lên Trời để khẳng định tài năng thơ văn của mình.ủa mình, dám đường hoàng bộc lộ cái “TÔI” cá thể của mình.
Chư Tiên (Tâm, Cơ, Hằng Nga, Chức Nữ, Song Thành, Tiểu Ngọc )nghe thơ của thi nhân một cách xúc động, tán thưởng và hâm mộ.
b. Thái độ của trời và chư tiên khi nghe thơ:
- Thái độ của Trời: - Đánh giá cao;
- Không tiếc lời tán dương:
Văn thật tuyệt, Văn trần được thế chắc có ít / Nhời văn chuốt đẹp như sao băng ! / Khí văn hùng mạnh như mây chuyển! / Êm như gió thoảng, tinh như sương! / đẫm như mưa sa, lạnh như tuyết!”....
Tóm lại cả Trời và các Chư tiên đều rất thich thú, ngưỡng mộ trước tài năng của thi nhân.
“ Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn
Quê ở Á châu về Địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”
“ Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo khó
Trần gian thước đất cũng không có
Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều
Vốn liếng còn một bụng văn đó
Giấy người mực người thuê người in
Mướn cửa hàng người bán phường phố.
Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó.
………
Một cây che chống bốn năm chiều.”
c. Thi nhân trò chuyện với trời:
a. Xưng danh:
- Thi nhân công khai lí lịch rất rành mạch, hiện đại: tên, họ, quê, châu lục, hành tinh:
“Con tên Khắc Hiếu, họ là Nguyễn
Quê ở A Châu về Địa cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”
Cách xưng danh đầy trang trọng, đĩnh đạc chứng tỏ một giá trị không thể phủ nhận trong hoàn cảnh đất nước mất chủ quyền.
Cách tự xưng danh trong thơ văn cũng khẳng định hơn về cai tôi ca nhân của tác giả.
II. Đọc – hiểu văn bản:
Trời rằng: "Không phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc "thiên lương" của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay.
b.Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân:
Nhiệm vụ Trời giao cho thi nhân : Truyền bá “thiên lương” cho hạ giới - một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vinh dự vì có ý nghĩa với cuộc đời.
Với TĐ, công việc dưới trần gian của ông không chỉ là viết văn, chơi văn mà ông còn tự chất lên vai mình gánh nặng “văn chương tải đạo thiên lương”. Ông đã ý thức được trách nhiệm của mình với đời, đây cũng là một cách để tự khẳng định mình.
=> Từ trách nhiệm này, chứng tỏ nhà thơ dù lãng mạn nhưng vẫn không thoát ly hiện thực cuộc sống.Tác giả vẫn ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình với cuộc đời , mong giúp đời tốt đẹp hơn.
Bức tranh đời sống của văn nhân dưới hạ giới
- Tản Đà đã vẽ ra bức tranh hiện thực về cuộc sống của mình và nhiều nhà văn khác:
+ Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ vẽ ra bức tranh cuộc sống nghèo khó, cùng quẫn của tác giả và nhiều cây bút khác(Tản Đà còn nhiều bài thơ khác nói về tình cảnh của mình: Cảnh vui của nhà nghèo, ...)
+ Thực tế phũ phàng: Văn chương hạ giới rẻ như bèo, thân phận nhà văn bị rẻ rúng, ông không tìm được tri âm nên phải lên tận trời để thỏa nguyện nỗi lòng
=> Đây cũng chính là thực tế đời sống của lớp văn nghệ sĩ nói chung thời bấy giờ với bi kịch “áo cơm ghì sát đất”: Tản Đà, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng , Xuân Diệu (Nỗi đời cơ cực...).
III. Tổng kết:
Nội dung
Nghệ thuật
Thể thơ thất ngôn trường thiên tự do
Khẳng định được tài năng
Cái tôi ngông-tài hoa
Cái tôi cô đơn, bế tắc
Hầu trời
Giọng điệu thoải mái, tự nhiên
Ngôn ngữ giản dị, sống động
Cách kể hóm hỉnh, lôi cuốn
LUYỆN TẬP
Câu 1: Cái ngông của Tản Đà được thể hiện ở những điểm nào trong bài thơ?
a. Đọc thơ cho trời nghe
b. Tự hào về tài thơ văn của mình,
c. Về nguồn gốc quê hương đất nước của mình,
d. Về sứ mạng vẻ vang là đi khơi dậy cho cái thiên lương của mọi người bằng thơ văn...
e. Tất cả đều đúng
LUYỆN TẬP
Tác giả kể chuyện đọc thơ, nhưng qua những lời kể trong Hầu Trời, có thể thấy được điều gì về tính cách và tâm hồn thi sĩ? Qua đó em học được gì về trách nhiệm của tuổi trẻ với đất nước?
Câu 2: Viết đoạn văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về vấn đề sau?
 







Các ý kiến mới nhất