tap huan danh gia chuan GV

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Văn Việt
Ngày gửi: 14h:57' 27-09-2013
Dung lượng: 22.0 KB
Số lượt tải: 96
Nguồn:
Người gửi: Bùi Văn Việt
Ngày gửi: 14h:57' 27-09-2013
Dung lượng: 22.0 KB
Số lượt tải: 96
Số lượt thích:
0 người
CHUYÊN ĐỀ I
LÀM THẾ NÀO ĐỂ LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Nếu như trong một trường học, người Hiệu trưởng được coi là có vị trí quan trọng trong việc quy tụ mối đoàn kết thống nhất để phát huy sức mạnh của đội ngũ CBGV nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường thì người GVCN lớp có vai trò hết sức quan trọng trong một lớp học, là người quyết định mọi sự phát triển và tiến bộ của lớp, là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mọi hoạt động của học sinh trong lớp chủ nhiệm.
Đội ngũ GVCN là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho Hiệu trưởng trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường, là cánh tay nối dài của Hiệu trưởng, là cầu nối giữa Hiệu trưởng nhà trường với học sinh, cha mẹ các em và đoàn thể mà các em sinh hoạt.
Kết quả học tập của cả trường, thương hiệu của nhà trường được xây dựng và giữ gìn không phải do một hai cá nhân CBGV hay do một nhóm học sinh, một hai lớp học, mà là do sự nỗ lực của từng thành viên và toàn thể CBGV- HS nhà trường qua các thế hệ.
Để tạo lập nề nếp, thương hiệu nhà trường và luôn luôn “giữ được lửa”, nhiệm vụ và vai trò rất lớn thuộc về đội ngũ GVCN lớp-những người được coi là “linh hồn” của các lớp học.
Vậy làm thế nào để làm tốt Công tác chủ nhiệm lớp? Hy vọng chuyên đề này sẽ phần nào giúp các bạn đồng nghiệp trả lời câu hỏi đó.
B. PHẦN NỘI DUNG
I: VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA GVCN LỚP:
1. Vị trí, vai trò của GVCN lớp:
- GVCN lớp là người thay mặt Hiệu trưởng, Hội đồng sư phạm nhà trường và CMHS quản lý và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường.
- GVCN là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần gũi nhất đối với HS và tập thể lớp.
- GVCN là người cố vấn cho công tác Đội và các hoạt động ngoài giờ khác ở lớp chủ nhiệm.
2. Chức năng của GVCN lớp:
- Tổ chức, quản lý, lãnh đạo.
- Giáo dục tập thể và giáo dục cá nhân.
- Tổ chức các hoạt động giáo dục và các quan hệ của HS theo định hướng phát triển toàn diện nhân cách.
3. Nhiệm vụ của GVCN lớp:
Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ của một GV, còn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
b) Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
c) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh;
d) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng
II. NHỮNG YÊU CẦU CẦN CÓ Ở MỘT GVCN LỚP
- Là người mẹ
- Là người bạn
- Là nhà luật sư và thẩm phán
- Là nhà khoa học
- Là tấm gương sáng
Tại sao hầu hết trẻ em khi sinh ra đều yêu quý, thậm chí “thần tượng” bố mẹ (hoặc người nuôi dưỡng mình) nhiều nhất? Bởi vì: Đó là những người đầu tiên mà đứa trẻ biết và gắn bó và Thân thiện đầu tiên trong cuộc đời của trẻ (cho dù người đó có nhiều khiếm khuyết, thậm chí là người rất xấu trong xã hội, thì trẻ vẫn yêu bởi trẻ chưa có nhận thức về xấu tốt)
Đến tuổi đi học, thầy cô mà học sinh gắn bó trước nhất và nhiều nhất là GVCN- người trực tiếp chỉ đạo lớp và là người có nhiều thời gian tiếp xúc với học sinh của lớp trong mọi hoạt động giáo dục ở nhà trường. Vậy liệu GVCN có là người khiến học sinh yêu quý và ngưỡng mộ nhất hay không?
Câu trả lời là: có thể hoặc không! Bởi vì, khi đến tuổi đi học, ngay từ khi học mầm non, cũng là lúc trẻ đã có nhận thức khá rõ về yêu ghét, tốt xấu.
Vậy giáo viên nói chung và đặc biệt là GVCN sẽ được học sinh yêu quý, kính trọng, ngưỡng mộ, thậm chí là “thần tượng” nếu hội tụ đủ các yếu tố trên.
1. Tại sao người GVCN cần có phẩm chất, tình cảm của một người mẹ?
- “Mẹ thì hiền”, “mẹ cũng có thể nghiêm khắc nhưng bao giờ cũng yêu quý con, hiểu con và chia sẻ với con những điều con vướng mắc”, “mẹ luôn là chỗ dựa tin cậy mỗi khi con vấp ngã hoặc sai lầm”…
- Thời gian học sinh ở trường có thể bằng, thậm chí nhiều hơn ở nhà con người nói chung và học sinh cũng vậy, luôn khao khát được yêu thương, được vỗ về, an ủi. Vậy nên, nếu người GVCN nào dành cho học sinh thái độ, tình cảm như của mẹ dành cho con, hiệu quả công tác chủ nhiệm sẽ lớn hơn rất nhiều so với GVCN lạnh lùng, thờ ơ không gần gũi yêu thương học sinh.
2. Tại sao GVCN cần phải “là người bạn” của học sinh?
- Nhu cầu chia sẻ tâm tư, tình cảm, trao đổi phương pháp học tập…của học trò là rất lớn. Có những điều các em không nói với mẹ, không nói với thầy cô mà chỉ tâm sự với bạn.
- Bởi vậy, nếu GVCN tạo được niềm tin tưởng, sự thân thiện gần gũi với học sinh, các em sẵn sàng tâm sự, kể cả những điều sâu kín nhất của lứa tuổi. Khi đó, GVCN có cơ hội hiểu các em hơn, tư vấn và gỡ rối cho các em những băn khoăn của tuổi mới lớn, những mâu thuẫn của quan hệ học trò, thậm chí cả những khúc mắc trong gia đình…Khi “là người bạn” của các em, không hề làm giảm vị thế của GVCN mà trái lại, uy tín của người GVCN tăng lên đồng thời tạo lập một môi trường, một không khí gần gũi, thân thiện đoàn kết trong lớp.
3. Tại sao GVCN cần có phải có năng lực của một “luật sư” và “thẩm phán”?
- Một lớp học từ 25-> 40 học sinh với sự đa dạng về tính cách, với sự phức tạp của tâm lý lứa tuổi không thể tránh khỏi những mâu thuẫn xung đột trong tập thể lớp và các phát sinh các tình huống giáo dục
- Vì vậy, người GVCN phải là một nhà tâm lý, biết kìm chế căng thẳng và quản lý cảm xúc bản thân, hiểu quy luật phát triển tâm lý và các điều kiện phát triển tâm lí ở lứa tuổi học sinh để từ đó xây dựng Kế hoạch công tác chủ nhiệm cho phù hợp và hiệu quả.
- GVCN phải là một “luật sư”, một nhà quản lý, một vị“ thẩm phán” giỏi để bào chữa và giải quyết một cách thuyết phục, thỏa đáng những mâu thuẫn xung đột trong tập thể lớp.
4. Yếu tố “nhà khoa học” giúp gì trong công tác của người GVCN?
- Một GVCN thành công trong công tác chủ nhiệm là: lớp chủ nhiệm có nề nếp tốt, có chất lượng học tập tốt, nhiều học sinh đạt được thành tích cao trong học tập.
- Muốn vậy, ngoài những phẩm chất trên, người GVCN cũng cần phải là một giáo viên dạy giỏi và luôn luôn biết khích lệ, biết thắp sáng “ngọn nến” say mê trong lòng người học.
. 5. Là “người mẹ giàu lòng yêu thương”; là “người bạn chân thành, vị tha”; là “luật sư am hiểu luật”; là “vị thẩm phán công bằng nghiêm minh”; là “nhà khoa học với vốn tri thức phong phú”…người GVCN có đủ các yếu tố đó, chính là “Tấm gương sáng” cho học sinh.
- Trong thực tiễn giáo dục nói chung và trong công tác chủ nhiệm nói riêng không có phương pháp giáo dục nào hiệu quả và thuyết phục bằng… bản thân nhà giáo dục!- 6 phẩm chất trên đồng thời là 2 yếu tố cơ bản của người GVCN, đó là: cái Tâm và cái Tài. Khi hội tụ đủ các phẩm chất và yếu tố đó thể hiện thông qua các nội dung cơ bản của công tác chủ nhiệm, bản thân người GVCN lớp tự tỏa sáng và học sinh sẽ noi theo.
III. CÁC NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
1. Xây dựng Kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp.
a. Đặc điểm tình hình/môi trường lớp học
Đây là việc đầu tiên người GVCN phải làm và thường xuyên làm trong suốt quá trình chủ nhiệm để xây dựng và bổ sung, điều chỉnh kế hoạch cho kịp thời, phù hợp.
Việc thu thập các thông tin về đặc điểm tình hình/môi trường lớp học sẽ giúp GVCN tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, những thuận lợi và khó khăn của lớp mình chủ nhiệm.
* Tìm hiểu đặc điểm tình lớp chủ nhiệm bao gồm các vấn đề cụ thể sau:
- Điều tra thông tin cơ bản của học sinh (như mẫu Sơ lược lý lịch học sinh).
- Thống kê kết quả xếp loại HK, HL, thành tích của HS năm học trước và nguồn vào năm nay. - Tìm hiểu cụ thể chính xác và chi tiết ( bằng trực tiếp và qua nhiều kênh thông tin) hoàn cảnh, nguyên nhân, tính cách của những “cá biệt” (gồm: hs học giỏi xuất sắc, hs ý thức chưa tốt hay vi phạm nội quy, học sinh có hoàn cảnh về kinh tế hoặc tình cảm đặc biệt…).
- Từ đó đánh giá điểm mạnh-yếu, thuận lợi-khó khăn của lớp chủ nhiệm.
b. Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu
Sau khi tìm hiểu và đánh giá chính xác được đặc điểm tình hình lớp học, tiến hành xây dựng Phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu khả thi và phù hợp với tình hình lớp.
- Phương hướng nhiệm vụ chung:
+ Giữ vững và phát huy những thành tích đã đạt năm trước.
+Xây dựng lớp thành một tập thể đoàn kết gắn bó và mạnh về mọi mặt.
- Mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu:
+ Là lớp dẫn đầu khối về mọi mặt, tiến tới dẫn đầu toàn trường, TTXS dẫn đầu.
+80% hs xếp HK Tốt, 20% HL Giỏi.
+ Không có hs vi phạm nội quy của lớp và trường, nội quy đoàn đội
c. Các biện pháp chính
+ Làm tốt công tác ổn định tổ chức lớp.
- Xây dựng đội ngũ Cán bộ lớp (gồm: Lớp trưởng, các lớp phó, tổ trưởng, các cán sự bộ môn) là những học sinh học tốt, gương mẫu, năng động, nhiệt tình, có năng lực và uy tín. Hình thành ý thức tự quản, tự giác trong tập thể học sinh lớp.
- Tư vấn cho phụ huynh cử Ban đại diện CMHS là những phụ huynh có thời gian, nhiệt tình trách nhiệm và kinh nghiệm trong hoạt động CMHS. Phối kết hợp chặt chẽ với ban đại diện CMHS trong mọi hoạt động.
+. Có những quy định và xây dựng tiêu chí thi đua trong lớp ngắn gọn, khoa học.
+ Triển khai (có giám sát, kiểm soát thường xuyên) việc học tập và thực hiện nội quy của nhà trường gồm: nội quy hs, và những quy định của lớp.
+ Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu để có những giải pháp hữu hiệu trong xử lý các tình huống.
+ Xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các lực lượng giáo dục khác: Giáo viên bộ môn của lớp, cán bộ đoàn đội hoặc xin tư vấn của Ban giám hiệu.
+ Chính xác trong thi đua; kịp thời trong tuyên dương khen thưởng hoặc phê bình khiển trách.
+. Xây dựng Kế hoạch công tác tuần, tháng.
2. Phương pháp và kinh nghiệm tổ chức giờ sinh hoạt lớp.
a.Tác dụng giáo dục của giờ sinh hoạt lớp
- Thời gian: Thường tính 1 tiết/tuần và tổ chức vào cuối tuần.
- Đây là dạng hoạt động giáo dục tập thể, là một hình thức tổ chức tự quản cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể học sinh đoàn kết.
- Đây cũng là dịp để HS làm quen với nhiều loại hình hoạt động khác nhau, giúp các em phát triển các kĩ năng cơ bản và cần thiết cho HS như: Phát triển về trí tuệ, tình cảm, đạo đức, sức khỏe...
b. Thực trạng phổ biến của việc tổ chức các giờ sinh hoạt lớp hiện nay và kết quả
+. Thực trạng: Có 2 hình thức phổ biến
- Lớp trưởng lên nhận xét các mặt hoạt động và kết quả thi đua của lớp trong tuần. Sau đó GVCN lớp “điều tra” những học sinh vi phạm nội quy làm mất điểm thi đua của lớp, phê bình, khiển trách…Sau đó GVCN thông báo vội vàng những nội dung trường triển khai trong tuần tới và…hết giờ!
- GVCN vào lớp và lần lượt “tra tội” từng học sinh vi phạm nội quy để xả bực tức. Sau đó triển khai công việc tuần sau.
c. Các yêu cầu cơ bản đối với giờ sinh hoạt lớp
- Đa dạng hoá về nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt lớp
- Thu hút tối đa sự tham gia của mọi HS dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, cố vấn của GVCN nhằm tăng cường vai trò tự quản của HS.
- Tăng cường những nội dung SH có liên quan đến các công việc chung của lớp, phù hợp với nhu cầu, sở thích của HS.
- Đảm bảo giao lưu dưới hình thức đối thoại, đàm thoại, tôn trọng và bình đẳng.
d. Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
+ Sơ kết, đánh giá thi đua tuần trước và cùng thảo luận Xây dựng kế hoạch tuần sau
VD: nêu các nội dung, thảo luận phương pháp, bàn bạc phân công nhân sự để thực hiện các hoạt động trong tuần, tháng hoạt động mạnh chào mừng 20/10 và 20/11.
+ Hình thức hỗn hợp: tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
- Đánh giá tình hình chung của lớp trong tuần;
- Thông báo những công việc chính trong tuần tới
- Sinh hoạt theo chủ đề (vd: Chủ đề tháng 12: Học tập tấm gương Anh bộ đội cụ Hồ: Phẩm chất của anh bộ đội cụ Hồ? Gắn với việc học tập trong thời điểm hiện tại? Những hiện tượng tồn tại của tuần qua đã thể hiện việc học tập…chưa? Làm thế nào để hạn chế tồn tại?)
e. Khen chê trong giờ sinh hoạt lớp
- Thực tế hiện nay trong các buổi SH lớp, các thầy cô thường chê HS nhiều hơn là khen ngợi (60 - 70% là “chê” HS).
- Biết khen - chê đúng mực sẽ khiến học trò hứng thú trong học tập….
Về nguyên tắc, khen phải nhiều hơn chê để tạo tâm lý tích cực vì ai cũng thích khen.
* Cách khen:
- Khen ngợi phải cụ thể, gọi tên các phẩm chất
- Khen ngợi phải chân thật, gây được cảm xúc tích cực nơi người khen
- Cần khen ngay hành vi tích cực mới khi nó vừa xuất hiện nhất là với những em hay mắc khuyết điểm, những em học yếu, nhút nhát….
* Cách phê bình
- Khi phê bình HS cũng cần lưu ý là phê bình hành vi cụ thể của cá nhân cụ thể chứ không khái quát hoá thành phẩm chất nhân cách.
- Khi phê bình không được chì chiết, nhắc đi nhắc lại những khuyết điểm đã xảy ra từ lâu, đặc biệt tránh định kiến thành kiến, quy chụp.
3. Tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh
+Tìm hiểu đặc điểm tâm lý từng học sinh trong lớp
1. Họ và tên học sinh:
2. Ngày, tháng năm sinh.
3. Địa chỉ sinh sống: Số điện thoại, của bố mẹ
4. Hứng thú riêng của học sinh:
5. Họ và tên cha mẹ, nơi công tác, chức vụ, số điện thoại ở nơi làm việc, địa chỉ Trình độ học vấn của cha mẹ.
6.Tình trạng điều kiện vật chất của gia đình:
7. Tình trạng sức khỏe của học sinh:
8. Những đặc điểm cá nhân của học sinh muốn được giáo viên đặc biệt chú ý:
+Tác dụng của việc tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh
- Hiểu hơn về lứa tuổi học sinh thuộc lớp chủ nhiệm.
- Hiểu được cá tính, những hạn chế và năng lực đặc biệt của từng học sinh, để trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch CN và có các biện pháp hiệu quả trong công tác chủ nhiệm với lớp, nhóm và cá nhân.
- Tránh được sự ngộ nhận, sai lầm, khiên cưỡng trong quá trình giáo dục.
- Thu hút và thuyết phục được học sinh hơn khi nắm được những thông tin cụ thể về hs.
C.KẾT LUẬN
Để khẳng định vai trò và tầm quan trọng của GVCN và CTCN lớp, GV sau nhiều năm dạy học đã so sánh: “Làm GV chủ nhiệm lớp giống như phụ nữ lấy chồng mà sinh con”. So sánh ấy cũng khẳng định yếu tố “người mẹ” cần có trong mỗi GVCN. So sánh ấy nói lên: sự bận rộn, niềm vui và hạnh phúc của người GV được làm CTCN lớp.
Tuy nhiên, để thành công trong CTCN đòi hỏi người GVCN không chỉ có cái Tâm (lòng nhiệt tình, yêu thương, tâm huyết...) mà còn phải có cái Tài (năng lực và kinh nghiệm).
Thực tiễn cũng chứng minh: Người giáo viên chủ nhiệm nào dày công chăm lo tới lớp của mình và có năng lực, phương pháp tốt trong tổ chức quản lý lớp thì lớp đó bao giờ cũng ngoan hơn, tiến bộ hơn, nề nếp hơn.
Rất gắn bó và đã có nhiều năm làm CTCN lớp, từ nhận thức, kinh nghiệm thực tiễn tôi hy vọng đem tới cho các bạn đồng nghiệp một chuyên đề hữu ích giúp các bạn thêm nhiều thành công trong công tác chủ nhiệm lớp
LÀM THẾ NÀO ĐỂ LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Nếu như trong một trường học, người Hiệu trưởng được coi là có vị trí quan trọng trong việc quy tụ mối đoàn kết thống nhất để phát huy sức mạnh của đội ngũ CBGV nhằm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường thì người GVCN lớp có vai trò hết sức quan trọng trong một lớp học, là người quyết định mọi sự phát triển và tiến bộ của lớp, là người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về mọi hoạt động của học sinh trong lớp chủ nhiệm.
Đội ngũ GVCN là lực lượng hỗ trợ đắc lực cho Hiệu trưởng trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường, là cánh tay nối dài của Hiệu trưởng, là cầu nối giữa Hiệu trưởng nhà trường với học sinh, cha mẹ các em và đoàn thể mà các em sinh hoạt.
Kết quả học tập của cả trường, thương hiệu của nhà trường được xây dựng và giữ gìn không phải do một hai cá nhân CBGV hay do một nhóm học sinh, một hai lớp học, mà là do sự nỗ lực của từng thành viên và toàn thể CBGV- HS nhà trường qua các thế hệ.
Để tạo lập nề nếp, thương hiệu nhà trường và luôn luôn “giữ được lửa”, nhiệm vụ và vai trò rất lớn thuộc về đội ngũ GVCN lớp-những người được coi là “linh hồn” của các lớp học.
Vậy làm thế nào để làm tốt Công tác chủ nhiệm lớp? Hy vọng chuyên đề này sẽ phần nào giúp các bạn đồng nghiệp trả lời câu hỏi đó.
B. PHẦN NỘI DUNG
I: VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA GVCN LỚP:
1. Vị trí, vai trò của GVCN lớp:
- GVCN lớp là người thay mặt Hiệu trưởng, Hội đồng sư phạm nhà trường và CMHS quản lý và chịu trách nhiệm về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường.
- GVCN là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần gũi nhất đối với HS và tập thể lớp.
- GVCN là người cố vấn cho công tác Đội và các hoạt động ngoài giờ khác ở lớp chủ nhiệm.
2. Chức năng của GVCN lớp:
- Tổ chức, quản lý, lãnh đạo.
- Giáo dục tập thể và giáo dục cá nhân.
- Tổ chức các hoạt động giáo dục và các quan hệ của HS theo định hướng phát triển toàn diện nhân cách.
3. Nhiệm vụ của GVCN lớp:
Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ của một GV, còn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
b) Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
c) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh;
d) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng
II. NHỮNG YÊU CẦU CẦN CÓ Ở MỘT GVCN LỚP
- Là người mẹ
- Là người bạn
- Là nhà luật sư và thẩm phán
- Là nhà khoa học
- Là tấm gương sáng
Tại sao hầu hết trẻ em khi sinh ra đều yêu quý, thậm chí “thần tượng” bố mẹ (hoặc người nuôi dưỡng mình) nhiều nhất? Bởi vì: Đó là những người đầu tiên mà đứa trẻ biết và gắn bó và Thân thiện đầu tiên trong cuộc đời của trẻ (cho dù người đó có nhiều khiếm khuyết, thậm chí là người rất xấu trong xã hội, thì trẻ vẫn yêu bởi trẻ chưa có nhận thức về xấu tốt)
Đến tuổi đi học, thầy cô mà học sinh gắn bó trước nhất và nhiều nhất là GVCN- người trực tiếp chỉ đạo lớp và là người có nhiều thời gian tiếp xúc với học sinh của lớp trong mọi hoạt động giáo dục ở nhà trường. Vậy liệu GVCN có là người khiến học sinh yêu quý và ngưỡng mộ nhất hay không?
Câu trả lời là: có thể hoặc không! Bởi vì, khi đến tuổi đi học, ngay từ khi học mầm non, cũng là lúc trẻ đã có nhận thức khá rõ về yêu ghét, tốt xấu.
Vậy giáo viên nói chung và đặc biệt là GVCN sẽ được học sinh yêu quý, kính trọng, ngưỡng mộ, thậm chí là “thần tượng” nếu hội tụ đủ các yếu tố trên.
1. Tại sao người GVCN cần có phẩm chất, tình cảm của một người mẹ?
- “Mẹ thì hiền”, “mẹ cũng có thể nghiêm khắc nhưng bao giờ cũng yêu quý con, hiểu con và chia sẻ với con những điều con vướng mắc”, “mẹ luôn là chỗ dựa tin cậy mỗi khi con vấp ngã hoặc sai lầm”…
- Thời gian học sinh ở trường có thể bằng, thậm chí nhiều hơn ở nhà con người nói chung và học sinh cũng vậy, luôn khao khát được yêu thương, được vỗ về, an ủi. Vậy nên, nếu người GVCN nào dành cho học sinh thái độ, tình cảm như của mẹ dành cho con, hiệu quả công tác chủ nhiệm sẽ lớn hơn rất nhiều so với GVCN lạnh lùng, thờ ơ không gần gũi yêu thương học sinh.
2. Tại sao GVCN cần phải “là người bạn” của học sinh?
- Nhu cầu chia sẻ tâm tư, tình cảm, trao đổi phương pháp học tập…của học trò là rất lớn. Có những điều các em không nói với mẹ, không nói với thầy cô mà chỉ tâm sự với bạn.
- Bởi vậy, nếu GVCN tạo được niềm tin tưởng, sự thân thiện gần gũi với học sinh, các em sẵn sàng tâm sự, kể cả những điều sâu kín nhất của lứa tuổi. Khi đó, GVCN có cơ hội hiểu các em hơn, tư vấn và gỡ rối cho các em những băn khoăn của tuổi mới lớn, những mâu thuẫn của quan hệ học trò, thậm chí cả những khúc mắc trong gia đình…Khi “là người bạn” của các em, không hề làm giảm vị thế của GVCN mà trái lại, uy tín của người GVCN tăng lên đồng thời tạo lập một môi trường, một không khí gần gũi, thân thiện đoàn kết trong lớp.
3. Tại sao GVCN cần có phải có năng lực của một “luật sư” và “thẩm phán”?
- Một lớp học từ 25-> 40 học sinh với sự đa dạng về tính cách, với sự phức tạp của tâm lý lứa tuổi không thể tránh khỏi những mâu thuẫn xung đột trong tập thể lớp và các phát sinh các tình huống giáo dục
- Vì vậy, người GVCN phải là một nhà tâm lý, biết kìm chế căng thẳng và quản lý cảm xúc bản thân, hiểu quy luật phát triển tâm lý và các điều kiện phát triển tâm lí ở lứa tuổi học sinh để từ đó xây dựng Kế hoạch công tác chủ nhiệm cho phù hợp và hiệu quả.
- GVCN phải là một “luật sư”, một nhà quản lý, một vị“ thẩm phán” giỏi để bào chữa và giải quyết một cách thuyết phục, thỏa đáng những mâu thuẫn xung đột trong tập thể lớp.
4. Yếu tố “nhà khoa học” giúp gì trong công tác của người GVCN?
- Một GVCN thành công trong công tác chủ nhiệm là: lớp chủ nhiệm có nề nếp tốt, có chất lượng học tập tốt, nhiều học sinh đạt được thành tích cao trong học tập.
- Muốn vậy, ngoài những phẩm chất trên, người GVCN cũng cần phải là một giáo viên dạy giỏi và luôn luôn biết khích lệ, biết thắp sáng “ngọn nến” say mê trong lòng người học.
. 5. Là “người mẹ giàu lòng yêu thương”; là “người bạn chân thành, vị tha”; là “luật sư am hiểu luật”; là “vị thẩm phán công bằng nghiêm minh”; là “nhà khoa học với vốn tri thức phong phú”…người GVCN có đủ các yếu tố đó, chính là “Tấm gương sáng” cho học sinh.
- Trong thực tiễn giáo dục nói chung và trong công tác chủ nhiệm nói riêng không có phương pháp giáo dục nào hiệu quả và thuyết phục bằng… bản thân nhà giáo dục!- 6 phẩm chất trên đồng thời là 2 yếu tố cơ bản của người GVCN, đó là: cái Tâm và cái Tài. Khi hội tụ đủ các phẩm chất và yếu tố đó thể hiện thông qua các nội dung cơ bản của công tác chủ nhiệm, bản thân người GVCN lớp tự tỏa sáng và học sinh sẽ noi theo.
III. CÁC NỘI DUNG VÀ BIỆN PHÁP CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
1. Xây dựng Kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp.
a. Đặc điểm tình hình/môi trường lớp học
Đây là việc đầu tiên người GVCN phải làm và thường xuyên làm trong suốt quá trình chủ nhiệm để xây dựng và bổ sung, điều chỉnh kế hoạch cho kịp thời, phù hợp.
Việc thu thập các thông tin về đặc điểm tình hình/môi trường lớp học sẽ giúp GVCN tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, những thuận lợi và khó khăn của lớp mình chủ nhiệm.
* Tìm hiểu đặc điểm tình lớp chủ nhiệm bao gồm các vấn đề cụ thể sau:
- Điều tra thông tin cơ bản của học sinh (như mẫu Sơ lược lý lịch học sinh).
- Thống kê kết quả xếp loại HK, HL, thành tích của HS năm học trước và nguồn vào năm nay. - Tìm hiểu cụ thể chính xác và chi tiết ( bằng trực tiếp và qua nhiều kênh thông tin) hoàn cảnh, nguyên nhân, tính cách của những “cá biệt” (gồm: hs học giỏi xuất sắc, hs ý thức chưa tốt hay vi phạm nội quy, học sinh có hoàn cảnh về kinh tế hoặc tình cảm đặc biệt…).
- Từ đó đánh giá điểm mạnh-yếu, thuận lợi-khó khăn của lớp chủ nhiệm.
b. Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu
Sau khi tìm hiểu và đánh giá chính xác được đặc điểm tình hình lớp học, tiến hành xây dựng Phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu khả thi và phù hợp với tình hình lớp.
- Phương hướng nhiệm vụ chung:
+ Giữ vững và phát huy những thành tích đã đạt năm trước.
+Xây dựng lớp thành một tập thể đoàn kết gắn bó và mạnh về mọi mặt.
- Mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu:
+ Là lớp dẫn đầu khối về mọi mặt, tiến tới dẫn đầu toàn trường, TTXS dẫn đầu.
+80% hs xếp HK Tốt, 20% HL Giỏi.
+ Không có hs vi phạm nội quy của lớp và trường, nội quy đoàn đội
c. Các biện pháp chính
+ Làm tốt công tác ổn định tổ chức lớp.
- Xây dựng đội ngũ Cán bộ lớp (gồm: Lớp trưởng, các lớp phó, tổ trưởng, các cán sự bộ môn) là những học sinh học tốt, gương mẫu, năng động, nhiệt tình, có năng lực và uy tín. Hình thành ý thức tự quản, tự giác trong tập thể học sinh lớp.
- Tư vấn cho phụ huynh cử Ban đại diện CMHS là những phụ huynh có thời gian, nhiệt tình trách nhiệm và kinh nghiệm trong hoạt động CMHS. Phối kết hợp chặt chẽ với ban đại diện CMHS trong mọi hoạt động.
+. Có những quy định và xây dựng tiêu chí thi đua trong lớp ngắn gọn, khoa học.
+ Triển khai (có giám sát, kiểm soát thường xuyên) việc học tập và thực hiện nội quy của nhà trường gồm: nội quy hs, và những quy định của lớp.
+ Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu để có những giải pháp hữu hiệu trong xử lý các tình huống.
+ Xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các lực lượng giáo dục khác: Giáo viên bộ môn của lớp, cán bộ đoàn đội hoặc xin tư vấn của Ban giám hiệu.
+ Chính xác trong thi đua; kịp thời trong tuyên dương khen thưởng hoặc phê bình khiển trách.
+. Xây dựng Kế hoạch công tác tuần, tháng.
2. Phương pháp và kinh nghiệm tổ chức giờ sinh hoạt lớp.
a.Tác dụng giáo dục của giờ sinh hoạt lớp
- Thời gian: Thường tính 1 tiết/tuần và tổ chức vào cuối tuần.
- Đây là dạng hoạt động giáo dục tập thể, là một hình thức tổ chức tự quản cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng tập thể học sinh đoàn kết.
- Đây cũng là dịp để HS làm quen với nhiều loại hình hoạt động khác nhau, giúp các em phát triển các kĩ năng cơ bản và cần thiết cho HS như: Phát triển về trí tuệ, tình cảm, đạo đức, sức khỏe...
b. Thực trạng phổ biến của việc tổ chức các giờ sinh hoạt lớp hiện nay và kết quả
+. Thực trạng: Có 2 hình thức phổ biến
- Lớp trưởng lên nhận xét các mặt hoạt động và kết quả thi đua của lớp trong tuần. Sau đó GVCN lớp “điều tra” những học sinh vi phạm nội quy làm mất điểm thi đua của lớp, phê bình, khiển trách…Sau đó GVCN thông báo vội vàng những nội dung trường triển khai trong tuần tới và…hết giờ!
- GVCN vào lớp và lần lượt “tra tội” từng học sinh vi phạm nội quy để xả bực tức. Sau đó triển khai công việc tuần sau.
c. Các yêu cầu cơ bản đối với giờ sinh hoạt lớp
- Đa dạng hoá về nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt lớp
- Thu hút tối đa sự tham gia của mọi HS dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ, cố vấn của GVCN nhằm tăng cường vai trò tự quản của HS.
- Tăng cường những nội dung SH có liên quan đến các công việc chung của lớp, phù hợp với nhu cầu, sở thích của HS.
- Đảm bảo giao lưu dưới hình thức đối thoại, đàm thoại, tôn trọng và bình đẳng.
d. Các hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp:
+ Sơ kết, đánh giá thi đua tuần trước và cùng thảo luận Xây dựng kế hoạch tuần sau
VD: nêu các nội dung, thảo luận phương pháp, bàn bạc phân công nhân sự để thực hiện các hoạt động trong tuần, tháng hoạt động mạnh chào mừng 20/10 và 20/11.
+ Hình thức hỗn hợp: tổng kết thi đua và sinh hoạt theo chủ đề
- Đánh giá tình hình chung của lớp trong tuần;
- Thông báo những công việc chính trong tuần tới
- Sinh hoạt theo chủ đề (vd: Chủ đề tháng 12: Học tập tấm gương Anh bộ đội cụ Hồ: Phẩm chất của anh bộ đội cụ Hồ? Gắn với việc học tập trong thời điểm hiện tại? Những hiện tượng tồn tại của tuần qua đã thể hiện việc học tập…chưa? Làm thế nào để hạn chế tồn tại?)
e. Khen chê trong giờ sinh hoạt lớp
- Thực tế hiện nay trong các buổi SH lớp, các thầy cô thường chê HS nhiều hơn là khen ngợi (60 - 70% là “chê” HS).
- Biết khen - chê đúng mực sẽ khiến học trò hứng thú trong học tập….
Về nguyên tắc, khen phải nhiều hơn chê để tạo tâm lý tích cực vì ai cũng thích khen.
* Cách khen:
- Khen ngợi phải cụ thể, gọi tên các phẩm chất
- Khen ngợi phải chân thật, gây được cảm xúc tích cực nơi người khen
- Cần khen ngay hành vi tích cực mới khi nó vừa xuất hiện nhất là với những em hay mắc khuyết điểm, những em học yếu, nhút nhát….
* Cách phê bình
- Khi phê bình HS cũng cần lưu ý là phê bình hành vi cụ thể của cá nhân cụ thể chứ không khái quát hoá thành phẩm chất nhân cách.
- Khi phê bình không được chì chiết, nhắc đi nhắc lại những khuyết điểm đã xảy ra từ lâu, đặc biệt tránh định kiến thành kiến, quy chụp.
3. Tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh
+Tìm hiểu đặc điểm tâm lý từng học sinh trong lớp
1. Họ và tên học sinh:
2. Ngày, tháng năm sinh.
3. Địa chỉ sinh sống: Số điện thoại, của bố mẹ
4. Hứng thú riêng của học sinh:
5. Họ và tên cha mẹ, nơi công tác, chức vụ, số điện thoại ở nơi làm việc, địa chỉ Trình độ học vấn của cha mẹ.
6.Tình trạng điều kiện vật chất của gia đình:
7. Tình trạng sức khỏe của học sinh:
8. Những đặc điểm cá nhân của học sinh muốn được giáo viên đặc biệt chú ý:
+Tác dụng của việc tìm hiểu đặc điểm tâm lý học sinh
- Hiểu hơn về lứa tuổi học sinh thuộc lớp chủ nhiệm.
- Hiểu được cá tính, những hạn chế và năng lực đặc biệt của từng học sinh, để trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch CN và có các biện pháp hiệu quả trong công tác chủ nhiệm với lớp, nhóm và cá nhân.
- Tránh được sự ngộ nhận, sai lầm, khiên cưỡng trong quá trình giáo dục.
- Thu hút và thuyết phục được học sinh hơn khi nắm được những thông tin cụ thể về hs.
C.KẾT LUẬN
Để khẳng định vai trò và tầm quan trọng của GVCN và CTCN lớp, GV sau nhiều năm dạy học đã so sánh: “Làm GV chủ nhiệm lớp giống như phụ nữ lấy chồng mà sinh con”. So sánh ấy cũng khẳng định yếu tố “người mẹ” cần có trong mỗi GVCN. So sánh ấy nói lên: sự bận rộn, niềm vui và hạnh phúc của người GV được làm CTCN lớp.
Tuy nhiên, để thành công trong CTCN đòi hỏi người GVCN không chỉ có cái Tâm (lòng nhiệt tình, yêu thương, tâm huyết...) mà còn phải có cái Tài (năng lực và kinh nghiệm).
Thực tiễn cũng chứng minh: Người giáo viên chủ nhiệm nào dày công chăm lo tới lớp của mình và có năng lực, phương pháp tốt trong tổ chức quản lý lớp thì lớp đó bao giờ cũng ngoan hơn, tiến bộ hơn, nề nếp hơn.
Rất gắn bó và đã có nhiều năm làm CTCN lớp, từ nhận thức, kinh nghiệm thực tiễn tôi hy vọng đem tới cho các bạn đồng nghiệp một chuyên đề hữu ích giúp các bạn thêm nhiều thành công trong công tác chủ nhiệm lớp
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓







Các ý kiến mới nhất