Tập huấn môn GDCD hè 2009

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Lê Văn Duẩn (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:28' 25-08-2009
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 40
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Lê Văn Duẩn (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:28' 25-08-2009
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 40
Số lượt thích:
0 người
LỚP TẬP HUẤN
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
Quảng Nam, Hè 2009
KHỞI ĐỘNG
CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN SẼ DÀNH CHO CÁC ANH CHỊ 20 PHÚT ĐỂ:
KHỞI ĐỘNG, LÀM QUEN VÀ HÌNH THÀNH CƠ CẤU TỔ CHỨC ĐIỀU HÀNH LỚP TRONG SUỐT KHOÁ HỌC
Xin mời !
Hãy cùng bắt đầu bằng một câu chuyện
Có một vị vua và một quân sư thông thái. Nhà thông thái luôn tháp tùng nhà vua đi khắp nơi và lời khuyên của nhà thông thái luôn là “Mọi chuyện xảy ra đều có lý do của nó”
Vào một ngày nhà vua đi săn và bị tai nạn. Nhà vua đã vô tính bắn trượt con mồi và mũi tên đã cắm vào chân mình.
Khi nhà vua hỏi vị quân sư nghĩ gì về tai nạn này, vị quân sự đã trả lời “Mọi chuyện xảy ra đều có lý do của nó”
Nhà vua vô cùng tức giận và đã ra lệnh bỏ tù vị quân sư thông thái. Sau đó nhà vua lại hỏi “Bây giờ ông nghĩ sao?”. Vị quân sư vẫn trả lời “Mọi chuyện xảy ra đều có lý do của nó”. Và ông đã bị biệt giam trong ngục tối.
Lần sau, nhà vua đi săn cùng đoàn tùy tùng và tất nhiên là không có vị quân sư đi theo. Không may đoàn đi săn bị lạc vào lãnh địa của 1bộ tộc ăn thịt người và bị bắt.
Bộ tộc ăn thịt người quyết định sẽ ăn thịt cả đoàn tùy tùng. Lần lượt từng người một bị kiểm tra trước khi cho vào nồi nấu.
Bộ tộc này đã phát hiện ra vết thương ở chân nhà vua và đã quyết định thả ông. Vì theo phong tục, họ sẽ không ăn những gì không còn nguyên vẹn. Và nhà vua đã thoát chết.
Nhà vua chợt nhận ra những gì vị quân sư nói là đúng. Vị quân sư đã thoát chết vì ông đang bị giam trong ngục. Và nếu vị vua không bị vết thương ở chân thì chắc chắn ông đã không có đường quay trở về với ngai vàng của mình.
Mọi điều trên thế giới xảy ra đều có lý do của nó!
Vậy lý do chúng ta có mặt tại đây là gì?
HOẠT ĐỘNG THƯỜNG NIÊN, ĐẦU MÕI NĂM HỌC ĐỀU CÓ NHỮNG BUỔI GẶP GỠ ĐỂ CÙNG NHAU TRAO ĐỔI CHUYÊN MÔN CHUẨN BỊ CHO NĂM HỌC MỚI
NĂM HỌC NÀY BỘ CHỦ TRƯƠNG CHUYÊN SÂU CHO 3 MÔN: GDCD, HOẠT ĐỘNG GD NGLL VÀ ĐỊA LÍ VỚI NHỮNG LÍ DO SAU:
Sau 8 năm thực hiện chương trình và SGK mới, Bộ nhận định chúng ta đã đạt được khá nhiều thành công trong đổi mới giáo dục phổ thông. Tuy nhiên cũng thẳng thắn đánh giá là kết quả GDPT mà đặc biệt là cấp THCS còn thấp chưa tương xứng với yêu cầu và mục tiêu phát triển chung.
Giáo dục vẫn còn nặng về kiến thức chưa chú ý đúng mức đến việc giáo dục kĩ năng sống và thái độ cho HS.
Năm học 2009-2010 là năm học đổi mới quản lí, nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện.
Hướng đến giáo dục kĩ năng sống là mục tiêu quan trong của chương trình.
Mục tiêu chung GD
Con người mới
phát triển toàn diện
THÁI ĐỘ
TÀI
ĐỨC
Mục tiêu D-H
KIẾN THỨC
KĨ NĂNG
KIẾN THỨC
KĨ NĂNG
KĨ NĂNG
THÁI ĐỘ
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG SỐNG LÀ ĐÍCH HƯỚNG ĐẾN CỦA GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI
PHẦN THỨ NHẤT
GIỚI THIỆU CHUNG
VỀ CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN
Hoạt động cá nhân
Anh, chị vui lòng điền vào phiếu thăm dò (còn trống) một cách ngắn gọn một nội dung mà anh, chị mong muốn khi về tham gia lớp tập huấn này.
1. Yêu cầu về kiến thức
Củng cố, bổ sung để nắm chắc một số kiến thức cơ bản về:
Đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân (GDCD) ở trường Trung học cơ sở (THCS).
Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD của học sinh (HS) THCS.
Cùng xác định mục tiêu
2. Yêu cầu về kĩ năng
- Thực hiện được việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD THCS ở trường, lớp mình phụ trách.
- Có kĩ năng ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS.
- Tổ chức được các hoạt động phối hợp trong giáo dục đạo đức cũng như đánh giá kết quả giáo dục đạo đức ở trường mình.
3. Yêu cầu về thái độ
- Luôn luôn có ý thức đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD và vận dụng một cách thường xuyên liên tục vào qúa trình giảng dạy và giáo dục tại đơn vị.
- Xem việc đổi mới đánh giá kết quả học tập bộ môn của HS là một hoạt động song song không thể tách rời với đổi mới PPDH.
II. Nội dung tập huấn
1. Đặc trưng môn GDCD ở THCS
2. Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở THCS
Một số thuật ngữ: Phương pháp dạy học (PPDH), Đổi mới PPDH
Cơ sở của việc đổi mới PPDH môn GDCD ở THCS
Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD ở THCS
3. Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS THCS
Một số thuật ngữ: Đánh giá, đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học, đánh giá kết quả học tập của HS
Mục đích của việc đánh giá kết quả học tập của HS
Các hình thức đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS
Lực lượng tham gia đánh giá kết quả học tập môn GDCD
Hướng dẫn cách ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD
III. Phương pháp tập huấn
Lớp tập huấn sẽ được tiến hành theo phương pháp cùng tham gia
Một số phương pháp tập huấn cụ thể :
- Động não
- Nghiên cứu tài liệu
- Thảo luận nhóm, thảo luận lớp
- Thuyết trình
- Thực hành
- Trò chơi
IV. Chương trình tập huấn
Xem trong Kế hoạch và Chương trình tập huấn đã ban hành.
Chương trình tập huấn
Câu chuyện minh hoạ
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG TẬP HUẤN
Đặc trưng của môn học
Giáo dục công dân
ở trường THCS
Hoạt động theo nhóm
Các nhóm thảo luận để trình bày ra bảng nhóm:
Anh,chị hãy nhớ lại những kiến thức về đặc trưng của môn GDCD ở trường THCS và trình bày theo cấu trúc:
Đặc trưng về mục tiêu bộ môn (KT,KN,TĐ)
Về tính thực tiễn của bộ môn
Về cấu trúc chương trình
Về vị trí và ý nghĩa của bộ môn trong chương trình GD chung.
1.1. Mục tiêu của môn GDCD ở THCS được xác định trong chương trình là :
a) Về kiến thức :
b) Về kĩ năng :
c) Về thái độ :
1.1. Đặc trưng về mục tiêu của môn GDCD ở THCS
KIẾN THỨC
KĨ NĂNG
THÁI ĐỘ
MÔN GDCD CÁC MÔN KHÁC
Quá trình hình thành kĩ năng sống
TRI THỨC
THÓI QUEN
HÀNH VI
HÀNH VI CÓ HIỆU QUẢ
KĨ NĂNG SỐNG
Nhiệm vụ của bộ môn GDCD
Về hình thành thái độ
KỈ LUẬT TIÊU CỰC
QUYỀN UY &
SỰ SỢ HÃI
KỈ LUẬT TÍCH CỰC
SỰ CỞI MỞ & TỰ GIÁC
Nhiệm vụ của bộ môn GDCD
Đặc trưng của môi trường GD thân thiện
Xu hướng của giáo dục hiện nay
XÂY DỰNG TRƯỜNG CHẤT LƯỢNG CAO
CSVC-THIẾT BỊ HIỆN ĐẠI
GIÁO VIÊN GIỎI, QUẢN LÍ TỐT
Ví dụ: - Mô hình Hệ thống giáo dục VIP ở Hà Nội
- Trường PTCS-PTTH Alfred Nobel
- Các trường quốc tế ở TP HCM
Trọng tâm của môn GDCD là phát triển ở học sinh hệ thống thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức ; hình thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật, tích cực tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm, quyền hạn của công dân; hình thành hành vi, thói quen theo các chuẩn mực đạo đức xã hội, những qui định của pháp luật và cộng đồng.
Cùng thống nhất
1.2. Về tính thực tiễn của môn GDCD
- Các chủ đề trong chương trình GDCD ở THCS gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực tiễn của học sinh trong các mối quan hệ
- Nội dung cụ thể của từng bài học GDCD ở THCS là những yêu cầu thiết thực của xã hội hiện đại đối với người công dân
- Việc lĩnh hội các giá trị đạo đức, pháp luật diễn ra trong chính các hoạt động thực tiễn của học sinh: học tập, lao động, vui chơi, giải trí...
1.3. Đặc điểm về cấu trúc nội dung môn GDCD
Môn Đạo đức ở tiểu học và GDCD ở THCS, THPT được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm phát triển các giá trị của con người Việt Nam thời kì CNH, HĐH.
- Cấu trúc nội dung từ lớp 6 đến lớp 9 gồm 2 phần và có mối quan hệ với nhau.
Phần các chuẩn mực đạo đức gồm 8 chủ đề:
1) Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư
2) Sống tự trọng và tôn trọng người khác
3) Sống có kỉ luật
4) Sống nhân ái vị tha
5) Sống hội nhập
6) Sống có văn hóa
7) Sống chủ động, sáng tạo
8) Sống có mục đích
Phần các chuẩn mực pháp luật gồm 5 chủ đề:
1) Quyền trẻ em và quyền, nghĩa vụ công dân trong gia đình
2) Quyền và nghĩa vụ công dân về giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
3) Quyền và nghĩa vụ công dân về văn hóa, giáo dục và kinh tế
4) Các quyền tự do cơ bản của công dân
5) Nhà nước XHCN Việt Nam - Quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lí nhà nước.
Ở mỗi chủ đề (Đạo đức và Pháp luật) được lựa chọn sắp xếp một số bài từ dễ đến khó dần, từ cụ thể đến trừu tượng, từ quan hệ môi trường vi mô đến vĩ mô…
Quy trình xây dựng chương trình môn đạo đức, GDCD
Xem trong tài liệu
Tài liệu
Cấu trúc của chương trình theo chủ đề Đạo đức và Pháp luật
Xem trong tài liệu
Chương trình môn GDCD được xây dựng dựa trên cơ sở các môn khoa học cơ bản như: Đạo đức học, Luật học và một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Môn GDCD là môn học tích hợp nhiều nội dung giáo dục xã hội cần thiết cho công dân trẻ tuổi như: giáo dục kĩ năng sống, giáo dục môi trường, giáo dục văn hóa hòa bình, giáo dục giới tính - sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục phòng tránh HIV/AIDS,... Vì vậy đòi hỏi thầy cô giáo có kiến thức rộng nhiều lĩnh vực, đặc biệt cần có kiến thức xã hội, có nghệ thuật dạy học - giáo dục và có tâm hồn trong sáng.
1.3. Về vị trí và ý nghĩa của môn GDCD ở trường THCS
- Đặc điểm về vị trí môn học có thể mô hình hoá như sau:
+ Trước hết GDCD là một môn học, chương trình nội dung các bài được sắp xếp theo một cấu trúc lôgic chặt chẽ, được thực hiện theo quy trình tổ chức của quá trình dạy học.
+ GDCD là một môn học đặc biệt, là một bộ phận của quá trình giáo dục các giá trị nhân cách (đạo đức, pháp luật, lối sống…) vì mục tiêu của môn học chính là thực hiện mục tiêu của quá trình giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Đó là vị trí đặc biệt của môn GDCD và môn Đạo đức ở tiểu học so với các môn học khác ở phổ thông.
- Chính vì vị trí của nó, mà môn GDCD có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển thái độ, tình cảm, niềm tin, nâng cao nhận thức xã hội ở học sinh, tạo ra động cơ đúng đắn giúp học sinh tự điều chỉnh hành vi, thói quen trong hoạt động và cuộc sống hàng ngày của các em.
II. Đổi mới PPDH môn
GDCD ở trường THCS
Lại bắt đầu bằng một câu chuyện khác
Ở bang Oregon của nước Mĩ, hằng năm đều tổ chức cuộc thi ai trồng được quả bí ngô to nhất thì được thưởng rất hậu.
Anh nông dân Ray-mon là một hiện tượng đặc biệt, năm nào anh cũng giành được chức vô địch với những quả bí to ngoại hạng.
Và đặc biệt hơn là sau mỗi cuộc thi anh đều bổ quả bí tại chỗ để phân phát hạt giống cho mọi người về trông. Nhưng ở những cuộc thi năm sau anh vẫn là ngươì có quả bí to nhất bang. Năm nay quả bí của anh nặng đến 700 kg.
Câu chuyện về quả bí ngô
Anh (chị) có suy nghĩ gì về câu chuyện trên ?
Cùng suy ngẫm
Đáng trân trọng là ở chỗ luôn luôn sẻ chia cùng mọi người
Nhưng quan trọng hơn là ở phương pháp
Cùng thống nhất
1.1 Phương pháp dạy học
PPDH được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học.
PPDH có ba cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô là quan điểm về PPDH. Ví dụ: Dạy học hướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của HS,…
- Cấp độ trung gian là PPDH cụ thể. Ví dụ: đóng vai, kể chuyện, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lí tình huống, trò chơi, …
- Cấp độ vi mô là Kĩ thuật dạy học . Ví dụ: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật phản hồi tích cực,...
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
1. Một số thuật ngữ cơ bản
Giờ học không có thảo luận nhóm là giờ học chưa đổi mới phương pháp.
Không sử dụng bài giảng điện tử sao gọi là đổi mới phương pháp dạy học được ?
Trong một giờ dạy học, ít nhất phải sử dụng từ 3 PPDH trở lên mới thành công.
Đổi mới PPDH là thay thế các PPDH truyền thống bằng các PPDH hiện đại.
Cùng suy ngẫm
1.2 Đổi mới PPDH
Theo một nghĩa chung nhất thì: Đổi mới PPDH là sử dụng các PPDH theo cách mới, trong những điều kiện mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Nói một cách cụ thể hơn thì: Đổi mới PPDH là sử dụng các PPDH một cách tích cực và hiệu quả, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm HS và đặc điểm của từng lớp học, môn học. Đổi mới PPDH không có nghĩa là phủ định hoàn toàn các PPDH truyền thống và tuyệt đối hóa các PPDH hiện đại. Trong đổi mới PPDH cần phải khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống; sử dụng chúng một cách hợp lí, có hiệu quả trong sự kết hợp hài hòa với các PPDH hiện đại.
Cùng thống nhất
Tại nơi anh chị đang giảng dạy, thời gian qua đã thực hiện đổi mới PPDH môn GDCD dựa trên những cơ sở nào? Hiệu quả được đánh giá ở mức độ nào?
Cùng hoạt động
2. Cơ sở của việc đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
2.1. Cơ sở pháp lí
- Về đổi mới phương pháp dạy học, nghị quyết 4 của Trung ương Đảng khoá VII
- Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII
- Nghị quyết số 40 năm 2000 của Quốc hội
- Định hướng đó đã được pháp chế hoá trong văn bản pháp luật. Luật Giáo dục năm 2005 Điều 28, khoản 2
Định hướng trên nhấn mạnh đến việc phát huy tính tích cực, khả năng tự học, phương pháp tư duy sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức, hứng thú học tập của học sinh.
2.2. Cơ sở tâm lí - giáo dục
- Sự bùng nổ thông tin
- Lí thuyết hoạt động
- Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi
- Yêu cầu của xã hội hiện đại :
+ Tự học suốt đời
+ Năng động sáng tạo
+ Tự lực giải quyết những vấn đề của cuộc sống.
2.3. Cơ sở kinh tế - xã hội
Đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có những con người lao động có chất lượng cao, năng động, sáng tạo, có đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn phát triển của đất nước. Vì vậy, có thể nói đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói riêng là một vấn đề cấp bách hiện nay để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu mới của đất nước.
KHỞI ĐỘNG ĐẦU BUỔI HỌC
Anh, chị hãy nêu thực trạng của việc đổi mới PPDH môn GDCD ở đơn vị mình. Thử phân tích nguyên nhân của những ưu điểm và tồn tại.
- Về phương pháp D-H của GV và HS
- Về CSVC, thiết bị dạy học
- Về sự quan tâm và quản lí, chỉ đạo của các cấp QLGD.
Hoạt động nhóm theo địa phương:
2.4. Thực trạng dạy học môn GDCD ở trường THCS hiện nay
* Nhận định như sau :
- Về phương pháp dạy học : Giáo viên dạy Giáo dục công dân đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, hiện tượng dạy học lệ thuộc vào sách giáo khoa và sách giáo viên còn phổ biến. Việc rèn luyện kĩ năng và giáo dục thái độ và hành vi của học sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân thực hiện chưa đạt được yêu cầu đề ra của chương trình.
- Về thiết bị dạy học : Nhiều nơi chủ yếu chỉ sử dụng các thiết bị dạy học môn học tối thiểu do Bộ quy định, chưa quan tâm đến việc tự làm thiết bị, đồ dùng dạy học. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân đang được bước đầu thực hiện nhưng còn lúng túng, hiệu quả chưa cao.
- Về quản lí chỉ đạo : Nhiều cấp quản lí chưa thực sự quan tâm đến môn Giáo dục công dân, vẫn còn coi đó là môn phụ nên chưa tạo điều kiện về bố trí giáo viên và các điều kiện cần thiết khác để giáo viên giáo dục công dân nâng cao chất lượng dạy học.
* Nguyên nhân :
- Một số giáo viên ngại đổi mới vì không muốn mất nhiều thời gian, công sức đầu tư cho việc chuẩn bị giờ dạy.
- Nhận thức của đa số giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học là đúng nhưng chưa đầy đủ ; nhận thức của một số giáo viên còn chưa đúng. Ví dụ : Đồng nghĩa đổi mới phương pháp với đổi mới phương tiện, thiết bị dạy học, nên cho rằng phải có đầy đủ phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại thì mới đổi mới được phương pháp ; hoặc sử dụng các phương pháp dạy học một cách hình thức, lạm dụng phương pháp này hoặc phương pháp khác một cách tràn lan, kém hiệu quả…
Thực trạng dạy học nêu trên càng cho thấy cần phải nhanh chóng đẩy mạnh quá trình đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân trong nhà trường.
3. Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
3.1. Một số quan điểm về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
a) Đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
b) Dạy học GDCD thông qua các hoạt động của HS
Các hoạt động dạy học môn GDCD ở THCS rất phong phú, đa dạng, bao gồm những hình thức hoạt động chủ yếu như :
- Thảo luận lớp, thảo luận nhóm.
- Đóng vai, diễn tiểu phẩm.
- Quan sát, phân tích các tranh ảnh, băng hình, tiểu phẩm.
- Xử lí tình huống.
- Nhận xét, phân tích, đánh giá các ý kiến, quan điểm, các hành vi, việc làm, các trường hợp điển hình, các thông tin, sự kiện, các hiện tượng trong đời sống thực tiễn có liên quan đến các chuẩn mực đạo đức và pháp luật đã học.
- Sưu tầm, tìm hiểu các tranh ảnh, bài báo, các tư liệu có liên quan đến nội dung bài học và trình bày, giới thiệu sản phẩm sưu tầm được.
- Xây dựng kế hoạch hành động của HS.
- Điều tra thực tiễn.
- Xây dựng và thực hiện các dự án thực tiễn.
- Chơi các trò chơi học tập.
c) Đổi mới PPDH GDCD theo quan điểm hợp tác
d) Dạy học GDCD phải gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh
e) Dạy học GDCD phải kết hợp giữa PPDH và phương pháp giáo dục đạo đức, giữa các PPDH hiện đại và PPDH truyền thống (xem phụ lục I)
g) Dạy học GDCD phải chú trọng sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học
h) Dạy học GDCD cần phải phối, kết hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm xây dựng môi trường dạy học, giáo dục lành mạnh, khép kín
3.2. Yêu cầu cụ thể đối với giáo viên
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.
- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội nội dung bài học; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của học sinh; bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh; giúp các em phát triển tối đa tiềm năng của bản thân.
- Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; hướng dẫn học sinh có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn;..
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm và trình độ HS ; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương.
3.3. Yêu cầu cụ thể đối với học sinh
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảo luận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thày, cho bạn; biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè.
- Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập; thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế.
3.4. Yêu cầu cụ thể về chuẩn bị và thực hiện một giờ học theo định hướng đổi mới PPDH môn GDCD
1/ Thiết kế giáo án
Thiết kế giáo án là xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh nhằm giúp học sinh đạt được những mục tiêu của bài học.
a) Các bước thiết kế một giáo án
- Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình.
- Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để :
+ Hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học.
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở học sinh.
+ Xác định trình tự lôgic của bài học.
- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh :
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã có và cần có.
+ Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.
- Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
- Thiết kế giáo án : thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh.
b) Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung sau :
- Mục tiêu bài học :
+ Nêu rõ yêu cầu học sinh cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ.
+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được.
- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học
+ Giáo viên chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất...), các phương tiện và tài liệu dạy học cần thiết.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết).
- Tổ chức các hoạt động dạy học :
Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy - học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ :
+ Tên hoạt động.
+ Thời lượng để thực hiện hoạt động.
+ Mục tiêu của hoạt động.
+ Cách tiến hành hoạt động.
+ Kết luận của giáo viên (về những kiến thức, kĩ năng, thái độ học sinh cần có sau hoạt động ; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học để giải quyết ; những sai sót thường gặp ; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp ;...)
- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối : xác định những việc học sinh cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới.
2/ Thực hiện giờ dạy học
Một giờ dạy học nên được thực hiện theo các bước cơ bản sau :
a) Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
b) Tổ chức dạy và học bài mới
c) Luyện tập, củng cố
d) Đánh giá
e) Hướng dẫn học sinh học bài, làm việc ở nhà
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
1. Để đổi mới PPDH môn GDCD có hiệu quả trước hết người GV phải xác định đúng vị trí bộ môn và thật sự tâm huyết với vai trò, nhiệm vụ của mình trong chương trình giáo dục chung. Nên gạt ra ngoài suy nghĩ của mình những so sánh không có cơ sở về môn học, về những lợi ích vật chất kèm theo thì mới mong thành công ở những bước tiếp theo.
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
2. Luôn luôn tìm tòi, sưu tầm các tư liệu từ cuộc sống thực tế tại địa phương để làm chất liệu thiết kế nên các giờ dạy-học. Ngoài ra, nguồn tư liệu từ chính trong trường học nơi mình công tác cũng rất đáng quý, như tư liệu từ sách giáo khoa, sách tham khảo của các môn khác cùng khối mà các em đang học (đặc biệt là các môn KHXH như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Âm nhạc, Mĩ thuật...)
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
3. Luôn luôn xem học sinh là trung tâm của hoạt động dạy-học nhưng không tuyệt đối hoá vai trò của học sinh bằng cách khoán trắng cho một số em nòng cốt của lớp. Bởi vì sự định hướng là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động học, mà vai trò định hướng là của người thầy. Dạy học tốt nhất là thông qua hoạt động của học sinh, giáo viên là người định hướng, điều chỉnh và can thiệp đúng lúc, đúng phương pháp. Và nên nhớ là tất cả học sinh trong lớp đều được tham gia hoạt động.
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
4. Đừng quá tham lam vận dụng các PPDH hiện đại trong cùng một tiết học. Vì nó sẽ làm cho lớp học rối lên, kiến thức được lĩnh hội một cách hời hợt và chắp vá. Cuối cùng chẳng đọng lại được gì cho người học qua 45 phút hoạt động mệt nhọc. Vấn đề là ở chỗ phải biết lựa chọn PP nào cho phù hợp với chủ đề, nội dung bài học; phù hợp với điều kiện CSVC, trang thiết bị dạy học của trường; phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí của lứa tuổi; phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, với đặc trưng văn hoá vùng miền...
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
5. PPDH dù truyền thống hay hiện đại đều ưu việt như nhau nếu biết vận dụng một cách linh hoạt và thích hợp. Người giáo viên càng nắm chắc nhiều PP thì càng có lợi thê trong dạy học. Cho nên, thường xuyên học hỏi để nâng cao kĩ năng tổ chức hoạt động và các kĩ thuật dạy học là yếu tố cần thiết đối với người GV trong giai đoạn hiện nay. Đã có kĩ năng thuyết giảng hay thì cần học thêm kĩ thuật tin học và ngược lại. Tất cả đều rất cần thiết và hữu ích khi thiết kế các hoạt động dạy học và thể hiện nó trên lớp.
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
6. Sử dụng các thiết bị hỗ trợ và đồ dùng dạy học cũng là một vấn đề cần lưu ý. Tất nhiên là phải được hình dung và tính toán trước từ khâu thiết kế các hoạt động dạy học nhưng phải chú ý tính phù hợp giữa tính năng của thiết bị với nội dung, chủ đề cần chuyển tải. Không nhất thiết là tiết học nào cũng sử dụng các thiết bị hiện đại, vấn đề là ở chỗ biết thay đổi hình thức tổ chức các tiết học để tránh sự nhàm chán và luôn luôn tạo ra sự bất ngờ cho các em, đặc biệt là cách vào đê, các hoạt động khởi động tạo ấn tượng mới lạ cho tiết học. Một tiết học có phần vào đề hay và ấn tượng cũng có nghĩa là tiết học đó đã thành công gần 50% dự tính.
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
7. Cuối cùng, đổi mới PPDH môn GDCD là hướng đến nâng cao hiệu quả dạy học và giáo dục làm người. Kết quả này mang tính đặc trưng nên việc đánh giá thể hiện rõ nhất là qua dư luận xã hội. Học sinh của trường nào được xã hội khen thì người thầy đó, nhà trường đó đã làm tốt công tác đổi mới PPDH, đổi mới PPGD.
Và cũng như câu chuyện về quả bí ngô, các anh chị hãy chia sẻ những kinh nghiệm của mình đã có được với mọi người để cùng nhân lên niềm vui trong chiêm nghiệm kết quả dạy-học.
Cùng chiêm nghiệm
2
8
Quả bí ngô
SKKN trong D-H
KHỞI ĐỘNG ĐẦU BUỔI HỌC
III. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDCD ở THCS
Anh chị hãy cho biết ý kiến của mình về các vấn đề sau:
Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Theo anh chị, trong các hình thức đề kiểm tra thì loại đề nào là phù hợp nhất đối với môn GDCD. Tại đơn vị anh chị đang sử dụng phổ biến nhất là loại hình nào.
Anh chị có suy nghĩ gì về loại đề tự luận mở mà hiện nay đang được khuyến khích sử dụng.
Làm thế nào để kết hợp giữa kết quả học tập môn GDCD với đánh giá hạnh kiểm học sinh.
Cùng hoạt động theo nhóm
1.1. Kiểm tra
Kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá. Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá. Trong dạy học có 4 loại kiểm tra là : Kiểm tra thăm dò ; kiểm tra kết quả ; kiểm tra xếp thứ bậc và kiểm tra năng lực tổng thể có định hướng. Thi cũng là kiểm tra nhưng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt.
1. Một số thuật ngữ
1.2. Đánh giá
Trong giáo dục đánh giá được hiểu là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học (mục tiêu đào tạo) làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo.
1.3. Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học
Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu thập và xử lí thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học, về những hoạt động khác có liên quan của nhà trường và ngành Giáo dục.
1.4. Đánh giá kết quả học tập
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.
Như vậy, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một kế hoạch tổng thể gồm 3 công đoạn chủ yếu:
a) Thu thập thông tin.
b) Phân tích thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của kết quả học tập.
c) Ra quyết định sư phạm.
Căn cứ vào mục đích đánh giá mà người ta phân thành 3 loại hình khác nhau:
- Đánh giá chẩn đoán: được tiến hành trước một giai đoạn giáo dục nhất định nhằm đưa ra các chứng cứ để có thể dự kiến kết quả học tập cho giai đoạn đó.
- Đánh giá quá trình: được tiến hành trong quá trình giáo dục nhằm cung cấp thông tin về những gì HS đã học được, vạch ra hành động tiếp theo (nội dung nào nên dạy và cách tiếp cận nào nên sử dụng,…) của quá trình dạy học đó.
- Đánh giá tổng kết: được tiến hành tại cuối mỗi giai đoạn học tập, nhằm tổng kết thành tích học tập của học sinh một cách có hệ thống.
2. Mục đích kiểm tra đánh giá kết quả học tập
- Xác định thực trạng mức độ đạt được về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh so với mục tiêu và chuẩn chương trình.
- Giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ cũng như tồn tại của mình, khuyến khích, thúc đẩy việc học tập của HS.
- Tìm ra nguyên nhân của mức độ chất lượng mà học sinh đạt được ; phán đoán những khả năng phát triển về kiến thức và các kĩ năng mà học sinh có thể đạt được trong giai đoạn tiếp theo.(cá thể hoá qúa trình rèn luyện của HS)
- Giúp giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục các cấp điều chinh việc tổ chức hoạt động dạy và học cho phù hợp, tìm những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy và học. (rút ra phương hướng phối hợp GD cụ thể)
3. Các hình thức và loại bài kiểm tra trong dạy học môn Giáo dục công dân trường Trung học cơ sở
3.1. Các hình thức kiểm tra
a/ Kiểm tra thường xuyên :
b/ Kiểm tra định kì :
c/ Kiểm tra tổng kết :
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với môn Giáo dục công dân có 2 hình thức kiểm tra là kiểm tra thường xuyên và định kì.
3.2. Các loại bài kiểm tra môn Giáo dục công dân trường THCS
a/ Kiểm tra miệng :
b/ Kiểm tra viết 15 phút :
c/ Kiểm tra viết 1 tiết giữa học kì :
Thời điểm kiểm tra : Giữa học kì I và giữa học kì II của năm học.
Phạm vi kiểm tra : Nội dung các bài đã học từ đầu học kì đến bài trước khi kiểm tra.
d/ Kiểm tra viết 1 tiết cuối học kì :
Thời điểm kiểm tra : Cuối học kì I và cuối học kì II của năm học.
Phạm vi kiểm tra : Nội dung các bài đã học từ đầu mỗi học kì đến bài cuối mỗi học kì.
e/ Kiểm tra thực hành :
4. Một số yêu cầu cơ bản của việc đổi mới kiểm tra môn Giáo dục công dân trường Trung học cơ sở
4.1. Việc kiểm tra phải góp phần quan trọng vào việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS.
4.2. Việc kiểm tra phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực.
4.3. Phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của môn học để xây dựng đề kiểm tra, từ đó mới xác định được mức độ đạt yêu cầu của chuẩn.
4.4. Phái có sự phân hoá mức độ cho các loại đối tượng học sinh khác nhau nhằm khuyến khích HS phấn đấu vươn lên.
4.5. Đổi mới công cụ kiểm tra, cụ thể là đổi mới các hình thức đề kiểm tra, kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và hình thức quan sát động, nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh.
4.6. Phối hợp các lực lượng trong việc kiểm tra, đánh giá
- Tự kiểm tra, đánh giá và kiểm tra, đánh giá của học sinh và tập thể học sinh.
- Kiểm tra, đánh giá của các lực lượng giáo dục trong nhà trường như giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn khác, cán bộ Đoàn, Đội.
- Kiểm tra, đánh giá của gia đình và cộng đồng.
5. Hướng dẫn kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDCD
5.1. Kĩ thuật thiết kế câu hỏi kiểm tra
Hiện nay, ở cấp THCS đề kiểm tra được xây dựng theo ba mức độ của tư duy là: nhận biết, thông hiểu, vận dụng.
- Mức độ nhận biết : Là mức độ chỉ yêu cầu học sinh nhận ra, nhớ lại nội dung đã học.
- Mức độ thông hiểu : Mức độ này, yêu cầu học sinh nhận biết được các kiến thức cơ bản đã được thay đổi hoặc mở rộng ít nhiều so với kiến thức đã học. Để trả lời câu hỏi dạng này học sinh không chỉ dùng trí nhớ kiểu thuộc lòng mà chủ yếu dùng trí nhớ lôgíc, biết phân tích, lý giải và có thể khái quát (ở mức độ đơn giản) để tự rút ra kết luận trả lời câu hỏi trắc nghiệm hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích, biết dùng ngôn ngữ riêng để diễn đạt,... trong câu tự luận.
- Mức độ vận dụng : Là mức độ yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học để có thể liên hệ, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong 1 tình huống cụ thể.
5.1.1. Câu hỏi tự luận
a/ Câu hỏi tự luận nhận biết : Là loại câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại nội dung đã học để trình bày lại giống như vậy.
b/ Câu hỏi tự luận thông hiểu : Là câu hỏi yêu cầu học sinh dùng ngôn ngữ riêng để trình bày lại kiến thức đã học, tự rút ra kết luận hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích,... về một vấn đề nào đó.
c/ Câu hỏi tự luận vận dụng : Loại câu hỏi này yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học để có thể liên hệ, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một tình huống cụ thể.
* Ưu điểm và nhược điểm của câu hỏi tự luận
- Ưu điểm
+ Người ra đề mất ít thời gian ra đề và dễ dàng đưa ra câu hỏi.
+ Nếu sử dụng một cách hợp lí, câu hỏi tự luận có thể đánh giá được các cấp độ tư duy ở mức độ cao và khả năng viết của học sinh.
+ Câu hỏi tự luận còn giúp giáo viên dễ dàng nhận thấy những nhược điểm, hạn chế trong nhận thức, thái độ cũng như trong tư duy của học sinh để kịp thời điều chỉnh việc dạy và học.
- Nhược điểm :
+ Câu hỏi tự luận thường chỉ chỉ kiá
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRUNG HỌC CƠ SỞ
Quảng Nam, Hè 2009
KHỞI ĐỘNG
CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN SẼ DÀNH CHO CÁC ANH CHỊ 20 PHÚT ĐỂ:
KHỞI ĐỘNG, LÀM QUEN VÀ HÌNH THÀNH CƠ CẤU TỔ CHỨC ĐIỀU HÀNH LỚP TRONG SUỐT KHOÁ HỌC
Xin mời !
Hãy cùng bắt đầu bằng một câu chuyện
Có một vị vua và một quân sư thông thái. Nhà thông thái luôn tháp tùng nhà vua đi khắp nơi và lời khuyên của nhà thông thái luôn là “Mọi chuyện xảy ra đều có lý do của nó”
Vào một ngày nhà vua đi săn và bị tai nạn. Nhà vua đã vô tính bắn trượt con mồi và mũi tên đã cắm vào chân mình.
Khi nhà vua hỏi vị quân sư nghĩ gì về tai nạn này, vị quân sự đã trả lời “Mọi chuyện xảy ra đều có lý do của nó”
Nhà vua vô cùng tức giận và đã ra lệnh bỏ tù vị quân sư thông thái. Sau đó nhà vua lại hỏi “Bây giờ ông nghĩ sao?”. Vị quân sư vẫn trả lời “Mọi chuyện xảy ra đều có lý do của nó”. Và ông đã bị biệt giam trong ngục tối.
Lần sau, nhà vua đi săn cùng đoàn tùy tùng và tất nhiên là không có vị quân sư đi theo. Không may đoàn đi săn bị lạc vào lãnh địa của 1bộ tộc ăn thịt người và bị bắt.
Bộ tộc ăn thịt người quyết định sẽ ăn thịt cả đoàn tùy tùng. Lần lượt từng người một bị kiểm tra trước khi cho vào nồi nấu.
Bộ tộc này đã phát hiện ra vết thương ở chân nhà vua và đã quyết định thả ông. Vì theo phong tục, họ sẽ không ăn những gì không còn nguyên vẹn. Và nhà vua đã thoát chết.
Nhà vua chợt nhận ra những gì vị quân sư nói là đúng. Vị quân sư đã thoát chết vì ông đang bị giam trong ngục. Và nếu vị vua không bị vết thương ở chân thì chắc chắn ông đã không có đường quay trở về với ngai vàng của mình.
Mọi điều trên thế giới xảy ra đều có lý do của nó!
Vậy lý do chúng ta có mặt tại đây là gì?
HOẠT ĐỘNG THƯỜNG NIÊN, ĐẦU MÕI NĂM HỌC ĐỀU CÓ NHỮNG BUỔI GẶP GỠ ĐỂ CÙNG NHAU TRAO ĐỔI CHUYÊN MÔN CHUẨN BỊ CHO NĂM HỌC MỚI
NĂM HỌC NÀY BỘ CHỦ TRƯƠNG CHUYÊN SÂU CHO 3 MÔN: GDCD, HOẠT ĐỘNG GD NGLL VÀ ĐỊA LÍ VỚI NHỮNG LÍ DO SAU:
Sau 8 năm thực hiện chương trình và SGK mới, Bộ nhận định chúng ta đã đạt được khá nhiều thành công trong đổi mới giáo dục phổ thông. Tuy nhiên cũng thẳng thắn đánh giá là kết quả GDPT mà đặc biệt là cấp THCS còn thấp chưa tương xứng với yêu cầu và mục tiêu phát triển chung.
Giáo dục vẫn còn nặng về kiến thức chưa chú ý đúng mức đến việc giáo dục kĩ năng sống và thái độ cho HS.
Năm học 2009-2010 là năm học đổi mới quản lí, nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện.
Hướng đến giáo dục kĩ năng sống là mục tiêu quan trong của chương trình.
Mục tiêu chung GD
Con người mới
phát triển toàn diện
THÁI ĐỘ
TÀI
ĐỨC
Mục tiêu D-H
KIẾN THỨC
KĨ NĂNG
KIẾN THỨC
KĨ NĂNG
KĨ NĂNG
THÁI ĐỘ
HÌNH THÀNH KĨ NĂNG SỐNG LÀ ĐÍCH HƯỚNG ĐẾN CỦA GIÁO DỤC HIỆN ĐẠI
PHẦN THỨ NHẤT
GIỚI THIỆU CHUNG
VỀ CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN
Hoạt động cá nhân
Anh, chị vui lòng điền vào phiếu thăm dò (còn trống) một cách ngắn gọn một nội dung mà anh, chị mong muốn khi về tham gia lớp tập huấn này.
1. Yêu cầu về kiến thức
Củng cố, bổ sung để nắm chắc một số kiến thức cơ bản về:
Đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân (GDCD) ở trường Trung học cơ sở (THCS).
Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD của học sinh (HS) THCS.
Cùng xác định mục tiêu
2. Yêu cầu về kĩ năng
- Thực hiện được việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD THCS ở trường, lớp mình phụ trách.
- Có kĩ năng ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS.
- Tổ chức được các hoạt động phối hợp trong giáo dục đạo đức cũng như đánh giá kết quả giáo dục đạo đức ở trường mình.
3. Yêu cầu về thái độ
- Luôn luôn có ý thức đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD và vận dụng một cách thường xuyên liên tục vào qúa trình giảng dạy và giáo dục tại đơn vị.
- Xem việc đổi mới đánh giá kết quả học tập bộ môn của HS là một hoạt động song song không thể tách rời với đổi mới PPDH.
II. Nội dung tập huấn
1. Đặc trưng môn GDCD ở THCS
2. Đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở THCS
Một số thuật ngữ: Phương pháp dạy học (PPDH), Đổi mới PPDH
Cơ sở của việc đổi mới PPDH môn GDCD ở THCS
Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD ở THCS
3. Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS THCS
Một số thuật ngữ: Đánh giá, đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học, đánh giá kết quả học tập của HS
Mục đích của việc đánh giá kết quả học tập của HS
Các hình thức đánh giá kết quả học tập môn GDCD của HS
Lực lượng tham gia đánh giá kết quả học tập môn GDCD
Hướng dẫn cách ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn GDCD
III. Phương pháp tập huấn
Lớp tập huấn sẽ được tiến hành theo phương pháp cùng tham gia
Một số phương pháp tập huấn cụ thể :
- Động não
- Nghiên cứu tài liệu
- Thảo luận nhóm, thảo luận lớp
- Thuyết trình
- Thực hành
- Trò chơi
IV. Chương trình tập huấn
Xem trong Kế hoạch và Chương trình tập huấn đã ban hành.
Chương trình tập huấn
Câu chuyện minh hoạ
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG TẬP HUẤN
Đặc trưng của môn học
Giáo dục công dân
ở trường THCS
Hoạt động theo nhóm
Các nhóm thảo luận để trình bày ra bảng nhóm:
Anh,chị hãy nhớ lại những kiến thức về đặc trưng của môn GDCD ở trường THCS và trình bày theo cấu trúc:
Đặc trưng về mục tiêu bộ môn (KT,KN,TĐ)
Về tính thực tiễn của bộ môn
Về cấu trúc chương trình
Về vị trí và ý nghĩa của bộ môn trong chương trình GD chung.
1.1. Mục tiêu của môn GDCD ở THCS được xác định trong chương trình là :
a) Về kiến thức :
b) Về kĩ năng :
c) Về thái độ :
1.1. Đặc trưng về mục tiêu của môn GDCD ở THCS
KIẾN THỨC
KĨ NĂNG
THÁI ĐỘ
MÔN GDCD CÁC MÔN KHÁC
Quá trình hình thành kĩ năng sống
TRI THỨC
THÓI QUEN
HÀNH VI
HÀNH VI CÓ HIỆU QUẢ
KĨ NĂNG SỐNG
Nhiệm vụ của bộ môn GDCD
Về hình thành thái độ
KỈ LUẬT TIÊU CỰC
QUYỀN UY &
SỰ SỢ HÃI
KỈ LUẬT TÍCH CỰC
SỰ CỞI MỞ & TỰ GIÁC
Nhiệm vụ của bộ môn GDCD
Đặc trưng của môi trường GD thân thiện
Xu hướng của giáo dục hiện nay
XÂY DỰNG TRƯỜNG CHẤT LƯỢNG CAO
CSVC-THIẾT BỊ HIỆN ĐẠI
GIÁO VIÊN GIỎI, QUẢN LÍ TỐT
Ví dụ: - Mô hình Hệ thống giáo dục VIP ở Hà Nội
- Trường PTCS-PTTH Alfred Nobel
- Các trường quốc tế ở TP HCM
Trọng tâm của môn GDCD là phát triển ở học sinh hệ thống thái độ, xúc cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức ; hình thành ý thức tự giác tuân thủ pháp luật, tích cực tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm, quyền hạn của công dân; hình thành hành vi, thói quen theo các chuẩn mực đạo đức xã hội, những qui định của pháp luật và cộng đồng.
Cùng thống nhất
1.2. Về tính thực tiễn của môn GDCD
- Các chủ đề trong chương trình GDCD ở THCS gắn bó chặt chẽ với cuộc sống thực tiễn của học sinh trong các mối quan hệ
- Nội dung cụ thể của từng bài học GDCD ở THCS là những yêu cầu thiết thực của xã hội hiện đại đối với người công dân
- Việc lĩnh hội các giá trị đạo đức, pháp luật diễn ra trong chính các hoạt động thực tiễn của học sinh: học tập, lao động, vui chơi, giải trí...
1.3. Đặc điểm về cấu trúc nội dung môn GDCD
Môn Đạo đức ở tiểu học và GDCD ở THCS, THPT được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm phát triển các giá trị của con người Việt Nam thời kì CNH, HĐH.
- Cấu trúc nội dung từ lớp 6 đến lớp 9 gồm 2 phần và có mối quan hệ với nhau.
Phần các chuẩn mực đạo đức gồm 8 chủ đề:
1) Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư
2) Sống tự trọng và tôn trọng người khác
3) Sống có kỉ luật
4) Sống nhân ái vị tha
5) Sống hội nhập
6) Sống có văn hóa
7) Sống chủ động, sáng tạo
8) Sống có mục đích
Phần các chuẩn mực pháp luật gồm 5 chủ đề:
1) Quyền trẻ em và quyền, nghĩa vụ công dân trong gia đình
2) Quyền và nghĩa vụ công dân về giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
3) Quyền và nghĩa vụ công dân về văn hóa, giáo dục và kinh tế
4) Các quyền tự do cơ bản của công dân
5) Nhà nước XHCN Việt Nam - Quyền và nghĩa vụ công dân trong quản lí nhà nước.
Ở mỗi chủ đề (Đạo đức và Pháp luật) được lựa chọn sắp xếp một số bài từ dễ đến khó dần, từ cụ thể đến trừu tượng, từ quan hệ môi trường vi mô đến vĩ mô…
Quy trình xây dựng chương trình môn đạo đức, GDCD
Xem trong tài liệu
Tài liệu
Cấu trúc của chương trình theo chủ đề Đạo đức và Pháp luật
Xem trong tài liệu
Chương trình môn GDCD được xây dựng dựa trên cơ sở các môn khoa học cơ bản như: Đạo đức học, Luật học và một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Môn GDCD là môn học tích hợp nhiều nội dung giáo dục xã hội cần thiết cho công dân trẻ tuổi như: giáo dục kĩ năng sống, giáo dục môi trường, giáo dục văn hóa hòa bình, giáo dục giới tính - sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục phòng tránh HIV/AIDS,... Vì vậy đòi hỏi thầy cô giáo có kiến thức rộng nhiều lĩnh vực, đặc biệt cần có kiến thức xã hội, có nghệ thuật dạy học - giáo dục và có tâm hồn trong sáng.
1.3. Về vị trí và ý nghĩa của môn GDCD ở trường THCS
- Đặc điểm về vị trí môn học có thể mô hình hoá như sau:
+ Trước hết GDCD là một môn học, chương trình nội dung các bài được sắp xếp theo một cấu trúc lôgic chặt chẽ, được thực hiện theo quy trình tổ chức của quá trình dạy học.
+ GDCD là một môn học đặc biệt, là một bộ phận của quá trình giáo dục các giá trị nhân cách (đạo đức, pháp luật, lối sống…) vì mục tiêu của môn học chính là thực hiện mục tiêu của quá trình giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh. Đó là vị trí đặc biệt của môn GDCD và môn Đạo đức ở tiểu học so với các môn học khác ở phổ thông.
- Chính vì vị trí của nó, mà môn GDCD có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển thái độ, tình cảm, niềm tin, nâng cao nhận thức xã hội ở học sinh, tạo ra động cơ đúng đắn giúp học sinh tự điều chỉnh hành vi, thói quen trong hoạt động và cuộc sống hàng ngày của các em.
II. Đổi mới PPDH môn
GDCD ở trường THCS
Lại bắt đầu bằng một câu chuyện khác
Ở bang Oregon của nước Mĩ, hằng năm đều tổ chức cuộc thi ai trồng được quả bí ngô to nhất thì được thưởng rất hậu.
Anh nông dân Ray-mon là một hiện tượng đặc biệt, năm nào anh cũng giành được chức vô địch với những quả bí to ngoại hạng.
Và đặc biệt hơn là sau mỗi cuộc thi anh đều bổ quả bí tại chỗ để phân phát hạt giống cho mọi người về trông. Nhưng ở những cuộc thi năm sau anh vẫn là ngươì có quả bí to nhất bang. Năm nay quả bí của anh nặng đến 700 kg.
Câu chuyện về quả bí ngô
Anh (chị) có suy nghĩ gì về câu chuyện trên ?
Cùng suy ngẫm
Đáng trân trọng là ở chỗ luôn luôn sẻ chia cùng mọi người
Nhưng quan trọng hơn là ở phương pháp
Cùng thống nhất
1.1 Phương pháp dạy học
PPDH được hiểu là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS, trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học.
PPDH có ba cấp độ:
- Cấp độ vĩ mô là quan điểm về PPDH. Ví dụ: Dạy học hướng vào người học, dạy học phát huy tính tích cực của HS,…
- Cấp độ trung gian là PPDH cụ thể. Ví dụ: đóng vai, kể chuyện, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, xử lí tình huống, trò chơi, …
- Cấp độ vi mô là Kĩ thuật dạy học . Ví dụ: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật phản hồi tích cực,...
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
1. Một số thuật ngữ cơ bản
Giờ học không có thảo luận nhóm là giờ học chưa đổi mới phương pháp.
Không sử dụng bài giảng điện tử sao gọi là đổi mới phương pháp dạy học được ?
Trong một giờ dạy học, ít nhất phải sử dụng từ 3 PPDH trở lên mới thành công.
Đổi mới PPDH là thay thế các PPDH truyền thống bằng các PPDH hiện đại.
Cùng suy ngẫm
1.2 Đổi mới PPDH
Theo một nghĩa chung nhất thì: Đổi mới PPDH là sử dụng các PPDH theo cách mới, trong những điều kiện mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Nói một cách cụ thể hơn thì: Đổi mới PPDH là sử dụng các PPDH một cách tích cực và hiệu quả, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm HS và đặc điểm của từng lớp học, môn học. Đổi mới PPDH không có nghĩa là phủ định hoàn toàn các PPDH truyền thống và tuyệt đối hóa các PPDH hiện đại. Trong đổi mới PPDH cần phải khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống; sử dụng chúng một cách hợp lí, có hiệu quả trong sự kết hợp hài hòa với các PPDH hiện đại.
Cùng thống nhất
Tại nơi anh chị đang giảng dạy, thời gian qua đã thực hiện đổi mới PPDH môn GDCD dựa trên những cơ sở nào? Hiệu quả được đánh giá ở mức độ nào?
Cùng hoạt động
2. Cơ sở của việc đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
2.1. Cơ sở pháp lí
- Về đổi mới phương pháp dạy học, nghị quyết 4 của Trung ương Đảng khoá VII
- Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII
- Nghị quyết số 40 năm 2000 của Quốc hội
- Định hướng đó đã được pháp chế hoá trong văn bản pháp luật. Luật Giáo dục năm 2005 Điều 28, khoản 2
Định hướng trên nhấn mạnh đến việc phát huy tính tích cực, khả năng tự học, phương pháp tư duy sáng tạo, khả năng vận dụng kiến thức, hứng thú học tập của học sinh.
2.2. Cơ sở tâm lí - giáo dục
- Sự bùng nổ thông tin
- Lí thuyết hoạt động
- Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi
- Yêu cầu của xã hội hiện đại :
+ Tự học suốt đời
+ Năng động sáng tạo
+ Tự lực giải quyết những vấn đề của cuộc sống.
2.3. Cơ sở kinh tế - xã hội
Đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có những con người lao động có chất lượng cao, năng động, sáng tạo, có đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn phát triển của đất nước. Vì vậy, có thể nói đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói riêng là một vấn đề cấp bách hiện nay để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu mới của đất nước.
KHỞI ĐỘNG ĐẦU BUỔI HỌC
Anh, chị hãy nêu thực trạng của việc đổi mới PPDH môn GDCD ở đơn vị mình. Thử phân tích nguyên nhân của những ưu điểm và tồn tại.
- Về phương pháp D-H của GV và HS
- Về CSVC, thiết bị dạy học
- Về sự quan tâm và quản lí, chỉ đạo của các cấp QLGD.
Hoạt động nhóm theo địa phương:
2.4. Thực trạng dạy học môn GDCD ở trường THCS hiện nay
* Nhận định như sau :
- Về phương pháp dạy học : Giáo viên dạy Giáo dục công dân đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, hiện tượng dạy học lệ thuộc vào sách giáo khoa và sách giáo viên còn phổ biến. Việc rèn luyện kĩ năng và giáo dục thái độ và hành vi của học sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân thực hiện chưa đạt được yêu cầu đề ra của chương trình.
- Về thiết bị dạy học : Nhiều nơi chủ yếu chỉ sử dụng các thiết bị dạy học môn học tối thiểu do Bộ quy định, chưa quan tâm đến việc tự làm thiết bị, đồ dùng dạy học. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục công dân đang được bước đầu thực hiện nhưng còn lúng túng, hiệu quả chưa cao.
- Về quản lí chỉ đạo : Nhiều cấp quản lí chưa thực sự quan tâm đến môn Giáo dục công dân, vẫn còn coi đó là môn phụ nên chưa tạo điều kiện về bố trí giáo viên và các điều kiện cần thiết khác để giáo viên giáo dục công dân nâng cao chất lượng dạy học.
* Nguyên nhân :
- Một số giáo viên ngại đổi mới vì không muốn mất nhiều thời gian, công sức đầu tư cho việc chuẩn bị giờ dạy.
- Nhận thức của đa số giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học là đúng nhưng chưa đầy đủ ; nhận thức của một số giáo viên còn chưa đúng. Ví dụ : Đồng nghĩa đổi mới phương pháp với đổi mới phương tiện, thiết bị dạy học, nên cho rằng phải có đầy đủ phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại thì mới đổi mới được phương pháp ; hoặc sử dụng các phương pháp dạy học một cách hình thức, lạm dụng phương pháp này hoặc phương pháp khác một cách tràn lan, kém hiệu quả…
Thực trạng dạy học nêu trên càng cho thấy cần phải nhanh chóng đẩy mạnh quá trình đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân trong nhà trường.
3. Định hướng đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
3.1. Một số quan điểm về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
a) Đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
b) Dạy học GDCD thông qua các hoạt động của HS
Các hoạt động dạy học môn GDCD ở THCS rất phong phú, đa dạng, bao gồm những hình thức hoạt động chủ yếu như :
- Thảo luận lớp, thảo luận nhóm.
- Đóng vai, diễn tiểu phẩm.
- Quan sát, phân tích các tranh ảnh, băng hình, tiểu phẩm.
- Xử lí tình huống.
- Nhận xét, phân tích, đánh giá các ý kiến, quan điểm, các hành vi, việc làm, các trường hợp điển hình, các thông tin, sự kiện, các hiện tượng trong đời sống thực tiễn có liên quan đến các chuẩn mực đạo đức và pháp luật đã học.
- Sưu tầm, tìm hiểu các tranh ảnh, bài báo, các tư liệu có liên quan đến nội dung bài học và trình bày, giới thiệu sản phẩm sưu tầm được.
- Xây dựng kế hoạch hành động của HS.
- Điều tra thực tiễn.
- Xây dựng và thực hiện các dự án thực tiễn.
- Chơi các trò chơi học tập.
c) Đổi mới PPDH GDCD theo quan điểm hợp tác
d) Dạy học GDCD phải gắn với thực tiễn cuộc sống của học sinh
e) Dạy học GDCD phải kết hợp giữa PPDH và phương pháp giáo dục đạo đức, giữa các PPDH hiện đại và PPDH truyền thống (xem phụ lục I)
g) Dạy học GDCD phải chú trọng sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học
h) Dạy học GDCD cần phải phối, kết hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm xây dựng môi trường dạy học, giáo dục lành mạnh, khép kín
3.2. Yêu cầu cụ thể đối với giáo viên
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.
- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội nội dung bài học; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của học sinh; bồi dưỡng hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh; giúp các em phát triển tối đa tiềm năng của bản thân.
- Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; hướng dẫn học sinh có kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn;..
- Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm và trình độ HS ; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương.
3.3. Yêu cầu cụ thể đối với học sinh
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn.
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảo luận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thày, cho bạn; biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè.
- Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập; thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế.
3.4. Yêu cầu cụ thể về chuẩn bị và thực hiện một giờ học theo định hướng đổi mới PPDH môn GDCD
1/ Thiết kế giáo án
Thiết kế giáo án là xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh nhằm giúp học sinh đạt được những mục tiêu của bài học.
a) Các bước thiết kế một giáo án
- Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình.
- Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để :
+ Hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học.
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở học sinh.
+ Xác định trình tự lôgic của bài học.
- Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh :
+ Xác định những kiến thức, kĩ năng mà học sinh đã có và cần có.
+ Dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.
- Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.
- Thiết kế giáo án : thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh.
b) Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung sau :
- Mục tiêu bài học :
+ Nêu rõ yêu cầu học sinh cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ.
+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được.
- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học
+ Giáo viên chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất...), các phương tiện và tài liệu dạy học cần thiết.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết).
- Tổ chức các hoạt động dạy học :
Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy - học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ :
+ Tên hoạt động.
+ Thời lượng để thực hiện hoạt động.
+ Mục tiêu của hoạt động.
+ Cách tiến hành hoạt động.
+ Kết luận của giáo viên (về những kiến thức, kĩ năng, thái độ học sinh cần có sau hoạt động ; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học để giải quyết ; những sai sót thường gặp ; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp ;...)
- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối : xác định những việc học sinh cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới.
2/ Thực hiện giờ dạy học
Một giờ dạy học nên được thực hiện theo các bước cơ bản sau :
a) Kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh
b) Tổ chức dạy và học bài mới
c) Luyện tập, củng cố
d) Đánh giá
e) Hướng dẫn học sinh học bài, làm việc ở nhà
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
1. Để đổi mới PPDH môn GDCD có hiệu quả trước hết người GV phải xác định đúng vị trí bộ môn và thật sự tâm huyết với vai trò, nhiệm vụ của mình trong chương trình giáo dục chung. Nên gạt ra ngoài suy nghĩ của mình những so sánh không có cơ sở về môn học, về những lợi ích vật chất kèm theo thì mới mong thành công ở những bước tiếp theo.
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
2. Luôn luôn tìm tòi, sưu tầm các tư liệu từ cuộc sống thực tế tại địa phương để làm chất liệu thiết kế nên các giờ dạy-học. Ngoài ra, nguồn tư liệu từ chính trong trường học nơi mình công tác cũng rất đáng quý, như tư liệu từ sách giáo khoa, sách tham khảo của các môn khác cùng khối mà các em đang học (đặc biệt là các môn KHXH như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Âm nhạc, Mĩ thuật...)
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
3. Luôn luôn xem học sinh là trung tâm của hoạt động dạy-học nhưng không tuyệt đối hoá vai trò của học sinh bằng cách khoán trắng cho một số em nòng cốt của lớp. Bởi vì sự định hướng là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động học, mà vai trò định hướng là của người thầy. Dạy học tốt nhất là thông qua hoạt động của học sinh, giáo viên là người định hướng, điều chỉnh và can thiệp đúng lúc, đúng phương pháp. Và nên nhớ là tất cả học sinh trong lớp đều được tham gia hoạt động.
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
4. Đừng quá tham lam vận dụng các PPDH hiện đại trong cùng một tiết học. Vì nó sẽ làm cho lớp học rối lên, kiến thức được lĩnh hội một cách hời hợt và chắp vá. Cuối cùng chẳng đọng lại được gì cho người học qua 45 phút hoạt động mệt nhọc. Vấn đề là ở chỗ phải biết lựa chọn PP nào cho phù hợp với chủ đề, nội dung bài học; phù hợp với điều kiện CSVC, trang thiết bị dạy học của trường; phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí của lứa tuổi; phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội, với đặc trưng văn hoá vùng miền...
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
5. PPDH dù truyền thống hay hiện đại đều ưu việt như nhau nếu biết vận dụng một cách linh hoạt và thích hợp. Người giáo viên càng nắm chắc nhiều PP thì càng có lợi thê trong dạy học. Cho nên, thường xuyên học hỏi để nâng cao kĩ năng tổ chức hoạt động và các kĩ thuật dạy học là yếu tố cần thiết đối với người GV trong giai đoạn hiện nay. Đã có kĩ năng thuyết giảng hay thì cần học thêm kĩ thuật tin học và ngược lại. Tất cả đều rất cần thiết và hữu ích khi thiết kế các hoạt động dạy học và thể hiện nó trên lớp.
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
6. Sử dụng các thiết bị hỗ trợ và đồ dùng dạy học cũng là một vấn đề cần lưu ý. Tất nhiên là phải được hình dung và tính toán trước từ khâu thiết kế các hoạt động dạy học nhưng phải chú ý tính phù hợp giữa tính năng của thiết bị với nội dung, chủ đề cần chuyển tải. Không nhất thiết là tiết học nào cũng sử dụng các thiết bị hiện đại, vấn đề là ở chỗ biết thay đổi hình thức tổ chức các tiết học để tránh sự nhàm chán và luôn luôn tạo ra sự bất ngờ cho các em, đặc biệt là cách vào đê, các hoạt động khởi động tạo ấn tượng mới lạ cho tiết học. Một tiết học có phần vào đề hay và ấn tượng cũng có nghĩa là tiết học đó đã thành công gần 50% dự tính.
4. Những thống nhất chung về đổi mới PPDH môn GDCD trường THCS
7. Cuối cùng, đổi mới PPDH môn GDCD là hướng đến nâng cao hiệu quả dạy học và giáo dục làm người. Kết quả này mang tính đặc trưng nên việc đánh giá thể hiện rõ nhất là qua dư luận xã hội. Học sinh của trường nào được xã hội khen thì người thầy đó, nhà trường đó đã làm tốt công tác đổi mới PPDH, đổi mới PPGD.
Và cũng như câu chuyện về quả bí ngô, các anh chị hãy chia sẻ những kinh nghiệm của mình đã có được với mọi người để cùng nhân lên niềm vui trong chiêm nghiệm kết quả dạy-học.
Cùng chiêm nghiệm
2
8
Quả bí ngô
SKKN trong D-H
KHỞI ĐỘNG ĐẦU BUỔI HỌC
III. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDCD ở THCS
Anh chị hãy cho biết ý kiến của mình về các vấn đề sau:
Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Theo anh chị, trong các hình thức đề kiểm tra thì loại đề nào là phù hợp nhất đối với môn GDCD. Tại đơn vị anh chị đang sử dụng phổ biến nhất là loại hình nào.
Anh chị có suy nghĩ gì về loại đề tự luận mở mà hiện nay đang được khuyến khích sử dụng.
Làm thế nào để kết hợp giữa kết quả học tập môn GDCD với đánh giá hạnh kiểm học sinh.
Cùng hoạt động theo nhóm
1.1. Kiểm tra
Kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá. Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá. Trong dạy học có 4 loại kiểm tra là : Kiểm tra thăm dò ; kiểm tra kết quả ; kiểm tra xếp thứ bậc và kiểm tra năng lực tổng thể có định hướng. Thi cũng là kiểm tra nhưng có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt.
1. Một số thuật ngữ
1.2. Đánh giá
Trong giáo dục đánh giá được hiểu là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học (mục tiêu đào tạo) làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo.
1.3. Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học
Đánh giá chất lượng và hiệu quả dạy học là quá trình thu thập và xử lí thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học, về những hoạt động khác có liên quan của nhà trường và ngành Giáo dục.
1.4. Đánh giá kết quả học tập
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày một tiến bộ hơn.
Như vậy, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một kế hoạch tổng thể gồm 3 công đoạn chủ yếu:
a) Thu thập thông tin.
b) Phân tích thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của kết quả học tập.
c) Ra quyết định sư phạm.
Căn cứ vào mục đích đánh giá mà người ta phân thành 3 loại hình khác nhau:
- Đánh giá chẩn đoán: được tiến hành trước một giai đoạn giáo dục nhất định nhằm đưa ra các chứng cứ để có thể dự kiến kết quả học tập cho giai đoạn đó.
- Đánh giá quá trình: được tiến hành trong quá trình giáo dục nhằm cung cấp thông tin về những gì HS đã học được, vạch ra hành động tiếp theo (nội dung nào nên dạy và cách tiếp cận nào nên sử dụng,…) của quá trình dạy học đó.
- Đánh giá tổng kết: được tiến hành tại cuối mỗi giai đoạn học tập, nhằm tổng kết thành tích học tập của học sinh một cách có hệ thống.
2. Mục đích kiểm tra đánh giá kết quả học tập
- Xác định thực trạng mức độ đạt được về kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh so với mục tiêu và chuẩn chương trình.
- Giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ cũng như tồn tại của mình, khuyến khích, thúc đẩy việc học tập của HS.
- Tìm ra nguyên nhân của mức độ chất lượng mà học sinh đạt được ; phán đoán những khả năng phát triển về kiến thức và các kĩ năng mà học sinh có thể đạt được trong giai đoạn tiếp theo.(cá thể hoá qúa trình rèn luyện của HS)
- Giúp giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục các cấp điều chinh việc tổ chức hoạt động dạy và học cho phù hợp, tìm những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy và học. (rút ra phương hướng phối hợp GD cụ thể)
3. Các hình thức và loại bài kiểm tra trong dạy học môn Giáo dục công dân trường Trung học cơ sở
3.1. Các hình thức kiểm tra
a/ Kiểm tra thường xuyên :
b/ Kiểm tra định kì :
c/ Kiểm tra tổng kết :
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với môn Giáo dục công dân có 2 hình thức kiểm tra là kiểm tra thường xuyên và định kì.
3.2. Các loại bài kiểm tra môn Giáo dục công dân trường THCS
a/ Kiểm tra miệng :
b/ Kiểm tra viết 15 phút :
c/ Kiểm tra viết 1 tiết giữa học kì :
Thời điểm kiểm tra : Giữa học kì I và giữa học kì II của năm học.
Phạm vi kiểm tra : Nội dung các bài đã học từ đầu học kì đến bài trước khi kiểm tra.
d/ Kiểm tra viết 1 tiết cuối học kì :
Thời điểm kiểm tra : Cuối học kì I và cuối học kì II của năm học.
Phạm vi kiểm tra : Nội dung các bài đã học từ đầu mỗi học kì đến bài cuối mỗi học kì.
e/ Kiểm tra thực hành :
4. Một số yêu cầu cơ bản của việc đổi mới kiểm tra môn Giáo dục công dân trường Trung học cơ sở
4.1. Việc kiểm tra phải góp phần quan trọng vào việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS.
4.2. Việc kiểm tra phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực.
4.3. Phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của môn học để xây dựng đề kiểm tra, từ đó mới xác định được mức độ đạt yêu cầu của chuẩn.
4.4. Phái có sự phân hoá mức độ cho các loại đối tượng học sinh khác nhau nhằm khuyến khích HS phấn đấu vươn lên.
4.5. Đổi mới công cụ kiểm tra, cụ thể là đổi mới các hình thức đề kiểm tra, kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và hình thức quan sát động, nghiên cứu sản phẩm hoạt động của học sinh.
4.6. Phối hợp các lực lượng trong việc kiểm tra, đánh giá
- Tự kiểm tra, đánh giá và kiểm tra, đánh giá của học sinh và tập thể học sinh.
- Kiểm tra, đánh giá của các lực lượng giáo dục trong nhà trường như giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên bộ môn khác, cán bộ Đoàn, Đội.
- Kiểm tra, đánh giá của gia đình và cộng đồng.
5. Hướng dẫn kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn GDCD
5.1. Kĩ thuật thiết kế câu hỏi kiểm tra
Hiện nay, ở cấp THCS đề kiểm tra được xây dựng theo ba mức độ của tư duy là: nhận biết, thông hiểu, vận dụng.
- Mức độ nhận biết : Là mức độ chỉ yêu cầu học sinh nhận ra, nhớ lại nội dung đã học.
- Mức độ thông hiểu : Mức độ này, yêu cầu học sinh nhận biết được các kiến thức cơ bản đã được thay đổi hoặc mở rộng ít nhiều so với kiến thức đã học. Để trả lời câu hỏi dạng này học sinh không chỉ dùng trí nhớ kiểu thuộc lòng mà chủ yếu dùng trí nhớ lôgíc, biết phân tích, lý giải và có thể khái quát (ở mức độ đơn giản) để tự rút ra kết luận trả lời câu hỏi trắc nghiệm hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích, biết dùng ngôn ngữ riêng để diễn đạt,... trong câu tự luận.
- Mức độ vận dụng : Là mức độ yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học để có thể liên hệ, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong 1 tình huống cụ thể.
5.1.1. Câu hỏi tự luận
a/ Câu hỏi tự luận nhận biết : Là loại câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại nội dung đã học để trình bày lại giống như vậy.
b/ Câu hỏi tự luận thông hiểu : Là câu hỏi yêu cầu học sinh dùng ngôn ngữ riêng để trình bày lại kiến thức đã học, tự rút ra kết luận hoặc nhận xét, đánh giá, giải thích,... về một vấn đề nào đó.
c/ Câu hỏi tự luận vận dụng : Loại câu hỏi này yêu cầu học sinh hiểu rõ nội dung đã học để có thể liên hệ, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một tình huống cụ thể.
* Ưu điểm và nhược điểm của câu hỏi tự luận
- Ưu điểm
+ Người ra đề mất ít thời gian ra đề và dễ dàng đưa ra câu hỏi.
+ Nếu sử dụng một cách hợp lí, câu hỏi tự luận có thể đánh giá được các cấp độ tư duy ở mức độ cao và khả năng viết của học sinh.
+ Câu hỏi tự luận còn giúp giáo viên dễ dàng nhận thấy những nhược điểm, hạn chế trong nhận thức, thái độ cũng như trong tư duy của học sinh để kịp thời điều chỉnh việc dạy và học.
- Nhược điểm :
+ Câu hỏi tự luận thường chỉ chỉ kiá
 







Các ý kiến mới nhất