Bài 7: Thế giới cổ tích - Viết: Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 21h:24' 26-02-2024
Dung lượng: 42.3 MB
Số lượt tải: 601
Nguồn:
Người gửi: MAI VĂN NĂM
Ngày gửi: 21h:24' 26-02-2024
Dung lượng: 42.3 MB
Số lượt tải: 601
Số lượt thích:
0 người
- ? Em hãy kể tên những truyện cổ tích mà em yêu thích. Vì sao
em yêu thích những câu chuyện đó?
THẠCH SANH
TẤM CÁM
SỌ DỪA
ÔNG LÃO ĐÁNH CÁ VÀ
CON CÁ VÀNG
EM BÉ THÔNG MINH
CÂY BÚT THẦN
CÂY KHẾ
LỌ LEM
Cô bé quàng khăn đỏ
Câu chuyện bó đũa
? Các truyện cổ tích được kể từ ngôi thứ mấy.
? Em thử hình dung, nếu em đóng vai một nhân vật để kể lại câu
chuyện thì điều gì sẽ xảy ra?
Một câu chuyện có thể được nhiều người chứng kiến, đánh giá và
kể lại theo những cách khác nhau. Hãy hình dung xem những
truyện cổ tích mà em đã đọc có thể được kể lại như thế nào.
Đóng vai một nhân vật trong câu chuyện là một trong những
cách làm cho truyện kể trở nên khác lạ, thú vị và tạo ra hiệu quả
bất ngờ. Em có muốn trải nghiệm những điều khác lạ, thú vị và
bất ngờ như vậy không?
VIẾT BÀI VĂN ĐÓNG VAI NHÂN VẬT
KỂ LẠI MỘT TRUYỆN CỔ TÍCH
I. YÊU CẦU ĐỐI VỚI BÀI VĂN ĐÓNG VAI NHÂN VẬT
KỂ LẠI MỘT TRUYỆN CỔ TÍCH
? Bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích cần đáp ứng
những yêu cầu gì.
Được kể từ
người kể
chuyện ngôi
thứ nhất.
Người kể
chuyện đóng
vai một nhân
vật trong
truyện.
Khi kể có
tưởng tượng,
sáng tạo thêm
nhưng không
thoát li truyện
gốc; tránh làm
thay đổi, biến
dạng các yếu
tố cơ bản của
cốt truyện ở
truyện gốc.
Cần có sự sắp
xếp hợp lý các
chi tiết và bảo
đảm có sự kết
nối giữa các
phần. Nên
nhấn mạnh
khai thác nhiều
hơn các chi tiết
tưởng tượng,
hư cấu, kì ảo.
Có thể bổ
sung các yếu
tố miêu tả,
biểu cảm để tả
người, tả vật
hay thể hiện
cảm xúc của
nhân vật.
II. PHÂN TÍCH BÀI VIẾT THAM KHẢO
Văn bản: Đóng vai nhân vật kể lại một phần truyện “Thạch
Sanh”
- Bài viết tham khảo là bài văn đóng vai nhân vật Thạch Sanh để
kể lại một phần truyện (từ xuất thân của Thạch Sanh đến đoạn
đánh bại đại bàng). Bài viết vừa trung thành với truyện gốc vừa
có một số sáng tạo (thêm chi tiết, đặc biệt là diễn biến trận đấu
với đại bang; cách nhấn lướt các chi tiết, sự kiện; thêm vào các
đánh giá cá nhân của nhân vật;…).
- HS đọc văn bản.
1. Bài văn kể lại câu chuyện theo ngôi
thứ mấy? Vì sao Thạch Sanh lại xưng
“ta” mà không xưng “tôi” hay “mình”?
2. Đoạn nào của bài viết có tác dụng
như mở bài? Cách vào bài bằng lời
chào, cách đặt câu hỏi, hứa hẹn, ... có
thu hút người đọc không?
-Kể lại câu chuyện theo ngôi thứ nhất, xưng “ta”.
- Vì lúc này, Thạch Sanh đang trong vai nhà vua.
3. Bài viết kể theo trình tự nào? Diễn
biến chính có phù hợp với truyện gốc
không?
-Các chi tiết được sắp xếp theo trình tự thời gian, tập
trung vào các chi tiết kì ảo.
-Diễn biến chính phù hợp với cốt truyện gốc.
4. Những chi tiết, sự kiện nào được
người viết thêm vào?
5. Nhận xét về cách kết thúc của bài
viết?
-Đoạn 1.
-Cách vào bài bằng lời chào, cách đặt câu hỏi, hứa
hẹn,… thu hút người đọc.
- Đoạn phát hiện và đánh nhau với đại bàng; - Các
bình luận, đánh giá của nhân vật (người kể chuyện);
- Lời kết.
Phần kết thúc bài: Nêu lí do kết thúc, tóm lược các
sự kiện tiếp theo, nêu bài học tâm đắc.
III. THỰC HÀNH VIẾT THEO CÁC BƯỚC
1. Trước khi viết
Trước khi viết, em cần chuẩn bị những gì ?
Câu chuyện định kể là câu chuyện nào? Em sẽ đóng vai nhân
vật nào để kể?
Chọn ngôi kể thứ mấy và đại từ xưng hô cần tương ứng với
điều gì?
Chọn lời kể phù hợp với ai, với những gì?
Nội dụng chính của câu chuyện cần ghi lại như thế nào?Dự
kiến những chi tiết cần sáng tạo thêm?
a. Chọn ngôi kể và đại từ tương ứng:
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất.
- Đại từ xưng hô: ta, tôi, mình… phù hợp với địa vị, giới tính...
của nhân vật em đóng vai cũng như bối cảnh kể.
b. Chọn lời kể phù hợp:
- Đóng vai một nhân vật cụ thể: giới tính, tuổi tác, địa chỉ... của
nhân vật để lựa chọn lời kể phù hợp.
- Tính chất lời kể: vui, buồn, thân mật, nghiêm trang... phải phù
hợp với nội dung và bối cảnh kể.
c. Ghi những nội dung chính của câu chuyện
- Cần ghi nhớ và tôn trọng những chi tiết đã biết về nhân vật
cũng như cốt truyện gốc.
- Dự kiến những yếu tố, chi tiết sẽ được sáng tạo thêm.
- Có thể lập một bản tóm tắt các sự kiện, tình tiết theo thứ tự
trước sau để dễ dàng ghi nhớ và kể lại.
d. Lập dàn ý
* Mở bài: Đóng vai nhân vật để giới thiệu sơ lược về mình và câu
chuyện định kể.
* Thân bài: Kể diễn biến câu chuyện.
- Xuất thân của các nhân vật.
- Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.
- Diễn biến chính:
+ Sự việc 1
+ Sự việc 2
+ Sự việc 3
* Kết bài: Kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện.
PHIẾU TÌM Ý
Họ và tên HS: ………………………….
Nhiệm vụ: Tìm ý cho bài văn đóng vai một nhân vật để kể lại một truyện cổ tích
mà em yêu thích
1. Câu chuyện cổ tích được chọn kể là: ............................................................
2. Đóng vai nhân vật ..............để kể về hoàn cảnh, câu chuyện của mình.
3. Ngôi kể và đại từ xưng hô................................................................................
4. Kể về xuất thân của nhân vật...........................................................................
5. Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện..........................................................................
6. Liệt kê các sự việc chính...................................................................................
7. Những sáng tạo em sẽ đưa vào chuyện............................................................
8. Câu chuyện kết thúc.......................................................................................
2. Viết bài
Khi viết bài, cần lưu ý:
- Nhất quán về ngôi kể.
- Kể lại câu chuyện:
+ Dựa vào truyện gốc: nhân vật, sự kiện, ngôn ngữ...
+ Có thể sáng tạo: chi tiết hoá những chi tiết còn chung chung; gia tăng
yếu tố kì ảo, tưởng tượng; tăng cường bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, đánh
giá của người kể chuyện; tăng thêm miêu tả, bình luận, liên tưởng...
3. Chỉnh sửa bài viết
Yêu cầu
Được kể từ người kể chuyện ngôi thứ nhất. Người kể
chuyện đóng vai một nhân vật trong truyện.
Có sự tưởng tượng, sáng tạo thêm nhưng không thoát li
truyện gốc; tránh làm thay đổi, biến dạng các yếu tố cơ bản
của cốt truyện ở truyện gốc.
Cần có sự sắp xếp hợp lí các chi tiết và bảo đảm có sự kết
nối giữa các phần.
Cần bổ sung các yếu tố miêu tả, biểu cảm để tả người, tả
vật hay thể hiện cảm xúc của nhân vật.
Bảo đảm yêu cầu về chính tả và diễn đạt.
Đạt
Không đạt
IV. VÂN DỤNG
Chọn một trong các đề sau:
1. Hãy đóng vai nhân vật người em kể lại truyện cổ tích “Cây
khế”.
2. Hãy đóng vai nhân vật người con (cô bé) kể lại truyện cổ tích
“Sự tích hoa cúc trắng”.
3. Hãy đóng vai nhân vật cậu bé Aưm kể lại truyện cổ tích “Sự
tích cây ngô”.
Hãy đóng vai nhân vật người em kể lại truyện cổ tích “Cây khế”.
1. Trước khi viết
a. Chọn ngôi kể và đại từ tương ứng
- Ngôi kể sẽ là ngôi thứ nhất: tôi.
b. Chọn lời kể phù hợp
- Hoàn cảnh nhân vật: Người em đã có cuộc sống khá giả, người anh đã
mất.
- Tính chất lời kể buồn, ngậm ngùi, thương xót.
c. Ghi những nội dung chính của câu chuyện
- Giới thiệu thân phận: Gia cảnh, cuộc sống vất vả, chịu ơn giúp đỡ của
chim thần.
- Kể lại câu chuyện phân chia tài sản.
- Kể lại chuyện chim đại bàng đến ăn khế trả vàng.
- Kể lại câu chuyện của người anh.
- Đưa ra ý nghĩa câu chuyện.
d. Lập dàn ý
- Mở bài: Đóng vai nhân vật để tự giới thiệu sơ lược về mình và câu
chuyện định kể.
- Thân bài: Kể lại diễn biến của câu chuyện.
+ Xuất thân của các nhân vật.
+ Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.
+ Diễn biến chính:
- Sự việc 1.
- Sự việc 2.
- Sự việc 3.
...
- Kết bài: Kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện.
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân. Vì chăm chỉ làm
lụng nên bố mẹ tội cũng có bát ăn bát để, hi vọng sau này cho
anh em tôi làm vốn sinh nhai. Nhưng rồi cha mẹ tôi mất đột ngột.
Anh trai tôi đã không làm như lời cha mẹ dặn trước lúc lâm
chung là chia đều tài sản cho hai anh em mà chiếm hết gia tài, chỉ
để lại cho tôi một túp lều nhỏ và cây khế còi cọc ở góc vườn.
Tôi chấp nhận mà không hề kêu ca, than phiền gì. Hằng ngày, tôi phải mò
cua bắt ốc, cày thuê, cuốc mướn để sống. Cây khế trở thành tài sản quý giá
nhất và là người bạn thân thiết của tôi. Tôi chăm sóc nó chu đáo, tận tình như
người bạn. Vì vậy mà cây khế lớn rất nhanh và chẳng bao lâu đã ra hoa kết
quả. Đến mùa khế chín, những chùm khế chín vàng óng, thơm lừng báo hiệu
một mùa khế bội thu. Không thể nào nói hết được niềm hạnh phúc của mọi
người trong gia đình tôi. Tôi đã đan những chiếc sọt để ngày mai đem khế ra
chợ đổi lấy gạo. Sáng hôm đó, khi vừa thức dậy, tôi đã nhìn thấy trên cây khế
có một con chim to với bộ lông sặc sỡ đang ăn những quả khế chín. Lòng tôi
đau như cắt. Tôi chạy đến dưới gốc cây và nói: “Chim ơi! Ngươi ăn khế của ta
thì gia đình ta biết lấy gì để sống?”. Chim bỗng ngừng ăn và cất tiếng trả lời:
“Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi và đựng”.
Nói rồi chim bay đi. Tôi không tin lắm vào chuyện lạ lùng đó nhưng
vẫn bảo vợ may cho mình một chiếc túi ba gang. Sáng hôm sau, chim đến
từ sớm và đưa tôi ra một hòn đảo nhỏ giữa biển. Tôi không thể tin vào
những gì hiện ra trước mắt. Cả hòn đảo toàn vàng bạc châu báu chất đống.
Cả hòn đảo ánh lên màu vàng làm tôi bị lóa mắt. Không hề có một bóng
người. Tôi cảm thấy lo sợ, cứ đứng yên một chỗ. Nhưng rồi chim vỗ cánh
và giục giã: “Anh hãy lấy vàng bạc, châu báu vào túi, rồi tôi đưa về.”. Lúc
đó tôi mới dám nhặt vàng cho vào đầy túi ba gang rồi lên lưng chim để trở
về đất liền.
Từ đó, gia đình tôi không còn phải ăn đói mặc rách nữa. Tôi dựng
một căn nhà khang trang ngay trong khu vườn, nhưng vẫn giữ lại túp lều và
cây khế.
Tôi dùng số của cải đó chia cho những người dân nghèo khổ
trong làng. Cũng không hiểu sao từ bữa đó, chim không còn đến
ăn khế nữa. Cây khế bây giờ đã to lớn, toả bóng mát xuống cả
một góc vườn. Mùa khế nào tôi cũng chờ chim thần đến để bày
tỏ lòng biết ơn.
Tiếng lành đồn xa, câu chuyện lan đến tai người anh trai tôi.
Một sáng, anh đến nhà tôi rất sớm. Đây là lần đầu tiên anh tới
thăm tôi kể từ ngày bố mẹ mất. Anh đòi tôi đổi toàn bộ gia sản
của anh lấy túp lều và cây khế. Tôi rất buồn khi phải chia tay với
căn nhà và cây khế.
Nhưng trước lời cầu khẩn của anh, tôi đành bằng lòng. Cả gia đình anh
chuyển về túp lều cũ của tôi. Ngày nào anh cũng ra dưới gốc khế chờ chim thần
đến. Mùa khế chín, chim cũng trở về ăn khế. Vừa thấy chim, anh tôi đã khóc lóc,
kêu gào thảm thiết và đòi chim phải trả vàng. Chim cũng hứa sáng mai sẽ đưa
anh tôi ra đảo vàng và dặn may túi ba gang. Tối hôm đó, anh tôi thức cả đêm để
may túi chín gang ngày mai đi lấy vàng. Sáng hôm sau, vừa ra tới đảo vàng, anh
tôi đã hoa mắt bởi vàng bạc châu báu của hòn đảo. Anh tôi vội nhét vàng vào đầy
túi chín gang, vào túi quần, túi áo và mồm cũng ngậm vàng nữa. Trên đường trở
về nhà, chim nặng quá, kêu anh tôi vứt bớt vàng xuống biển cho đỡ nặng. Vốn
tính tham lam, anh không những không vứt bớt xuống mà còn bắt chim bay
nhanh hơn. Nặng quá, chim càng lúc càng mệt. Đôi cánh trở nên quá sức, yếu
dần. Cuối cùng, không còn gắng được nữa, chim chao đảo rồi hất luôn người anh
xuống biển cùng với số vàng.
Tôi trở lại sống ở nhà cũ, cùng túp lều và cây khế. Nhưng
chim thần không bao giờ còn quay trở lại nữa… Anh trai tôi đã
không thể quay trở về chỉ vì lòng tham vô đáy. Một nỗi buồn
man mác dâng lên trong lòng tôi.
SỰ TÍCH HOA CÚC TRẮNG
Chuyện kể rằng ở một ngôi làng nọ có hai mẹ con nghèo sinh sống
với nhau trong một ngôi nhà nhỏ. Người mẹ ngày ngày tần tảo làm việc
để nuôi con, người con tuy còn nhỏ nhưng đã biết yêu thương, có hiếu với
mẹ.
Cuộc sống của hai mẹ con cứ thế bình lặng trôi qua thì bỗng đến một
ngày người mẹ chợt lâm bệnh nặng. Dù đã đi đến chữa trị ở rất nhiều thầy
lang giỏi trong làng nhưng tình hình bệnh của người mẹ không hề đỡ chút
nào, sức khỏe mỗi ngày một yếu đi.
Nhà nghèo không có tiền chữa trị, nhưng thương mẹ người
con vẫn quyết tâm đi tìm thầy ở các nơi để chữa bệnh cho mẹ.
Người con cứ đi từ làng này qua làng khác, vượt bao làng mạc,
núi sông, vừa đói vừa rách nhưng không hề nản lòng. Rồi em đi
qua một ngôi chùa, em đã xin phép trụ trì của ngôi chùa cầu phúc
cho mẹ em mau chóng qua bệnh để hai mẹ con lại trở về cuộc
sống như xưa. Lòng hiếu thảo của em đã động đến trời xanh, Đức
Phật cũng phải động lòng trắc ẩn nên ngài đã biến thành một nhà
sư và tặng cho em một bông hoa có năm cánh. Số cánh hoa
tượng trưng cho số năm mà mẹ em sống thêm được.
Em nhìn bông hoa vừa vui sướng vì đã có phép màu cứu được mẹ
nhưng cũng không khỏi lo lắng vì chỉ có năm cánh hoa, tức mẹ em chỉ
còn sống được năm năm. Vì vậy sau một hồi suy nghĩ em đã xé nhỏ
các cánh hoa cho tới khi không còn xé nhỏ được nữa, và cũng không
còn đếm được bông hoa có bao nhiêu cánh hoa. Nhờ vậy mà người mẹ
đã sống rất lâu bên đứa con ngoan hiếu thảo của mình.
Bông hoa có vô số cánh hoa biểu tượng cho sự sống, cho ước mơ
trường tồn của con người, cho khát vọng chữa lành mọi bệnh tật, sau
này người ta gọi đó là hoa Cúc. Sự tích hoa cúc trắng cũng từ đó mà ra.
( Trích “ Truyện cổ tích Việt Nam”, NXB Mĩ thuật 2018)
SỰ TÍCH CÂY NGÔ
Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát.
Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm
đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái
tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng Aưm đã trở thành chỗ dựa của mẹ. Hằng ngày, cậu dậy
sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ. Nhưng trời ngày càng hạn
hán hơn. Có những lần cậu đi cả ngày mà vẫn không tìm được thứ gì để ăn. Một hôm,
vừa đói vừa mệt cậu thiếp đi bên bờ suối. Trong mơ, cậu nhìn thấy một con chim cắp quả
gì to bằng bắp tay, phía trên có chùm râu vàng như mái tóc của cậu. Con chim đặt quả lạ
vào tay Aưm rồi vỗ cánh bay đi. Tỉnh dậy Aưm thấy quả lạ vẫn ở trên tay. Ngạc nhiên,
Aưm lần bóc các lớp vỏ thì thấy phía trong hiện ra những hạt màu vàng nhạt, xếp thành
hàng đều tăm tắp. Aưm tỉa một hạt bỏ vào miệng nhai thử thì thấy có vị ngọt, bùi. Mừng
quá, Aưm cầm quả lạ chạy một mạch về nhà.
Mẹ của cậu vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Thương mẹ mấy ngày nay đã đói
lả, Aưm vội tỉa những hạt lạ đó mang giã và nấu lên mời mẹ ăn. Người mẹ dần dần
tỉnh lại, âu yếm nhìn đứa con hiếu thảo. Còn lại ít hạt, Aưm đem gieo vào mảnh
đất trước sân nhà. Hằng ngày, cậu ra sức chăm bón cho cây lạ. Nhiều hôm phải đi
cả ngày mới tìm được nước uống nhưng Aưm vẫn dành một gáo nước để tưới cho
cây. Được chăm sóc tốt nên cây lớn rất nhanh, vươn những lá dài xanh mướt.
Chẳng bao lâu, cây đã trổ hoa, kết quả.
Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ. Aưm hái những quả lạ có râu
vàng hoe như mái tóc của cậu biếu bà con để làm hạt giống. Quý tấm lòng thơm
thảo của Aưm, dân bản lấy tên câu bé đặt tên cho cây có quả lạ đó là cây Aưm, hay
còn gọi là cây ngô. Nhờ có cây ngô mà từ đó, những người dân Pako không còn lo
thiếu đói nữa.
(Truyện cổ tích Việt Nam – Nguồn truyencotich.vn)
em yêu thích những câu chuyện đó?
THẠCH SANH
TẤM CÁM
SỌ DỪA
ÔNG LÃO ĐÁNH CÁ VÀ
CON CÁ VÀNG
EM BÉ THÔNG MINH
CÂY BÚT THẦN
CÂY KHẾ
LỌ LEM
Cô bé quàng khăn đỏ
Câu chuyện bó đũa
? Các truyện cổ tích được kể từ ngôi thứ mấy.
? Em thử hình dung, nếu em đóng vai một nhân vật để kể lại câu
chuyện thì điều gì sẽ xảy ra?
Một câu chuyện có thể được nhiều người chứng kiến, đánh giá và
kể lại theo những cách khác nhau. Hãy hình dung xem những
truyện cổ tích mà em đã đọc có thể được kể lại như thế nào.
Đóng vai một nhân vật trong câu chuyện là một trong những
cách làm cho truyện kể trở nên khác lạ, thú vị và tạo ra hiệu quả
bất ngờ. Em có muốn trải nghiệm những điều khác lạ, thú vị và
bất ngờ như vậy không?
VIẾT BÀI VĂN ĐÓNG VAI NHÂN VẬT
KỂ LẠI MỘT TRUYỆN CỔ TÍCH
I. YÊU CẦU ĐỐI VỚI BÀI VĂN ĐÓNG VAI NHÂN VẬT
KỂ LẠI MỘT TRUYỆN CỔ TÍCH
? Bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích cần đáp ứng
những yêu cầu gì.
Được kể từ
người kể
chuyện ngôi
thứ nhất.
Người kể
chuyện đóng
vai một nhân
vật trong
truyện.
Khi kể có
tưởng tượng,
sáng tạo thêm
nhưng không
thoát li truyện
gốc; tránh làm
thay đổi, biến
dạng các yếu
tố cơ bản của
cốt truyện ở
truyện gốc.
Cần có sự sắp
xếp hợp lý các
chi tiết và bảo
đảm có sự kết
nối giữa các
phần. Nên
nhấn mạnh
khai thác nhiều
hơn các chi tiết
tưởng tượng,
hư cấu, kì ảo.
Có thể bổ
sung các yếu
tố miêu tả,
biểu cảm để tả
người, tả vật
hay thể hiện
cảm xúc của
nhân vật.
II. PHÂN TÍCH BÀI VIẾT THAM KHẢO
Văn bản: Đóng vai nhân vật kể lại một phần truyện “Thạch
Sanh”
- Bài viết tham khảo là bài văn đóng vai nhân vật Thạch Sanh để
kể lại một phần truyện (từ xuất thân của Thạch Sanh đến đoạn
đánh bại đại bàng). Bài viết vừa trung thành với truyện gốc vừa
có một số sáng tạo (thêm chi tiết, đặc biệt là diễn biến trận đấu
với đại bang; cách nhấn lướt các chi tiết, sự kiện; thêm vào các
đánh giá cá nhân của nhân vật;…).
- HS đọc văn bản.
1. Bài văn kể lại câu chuyện theo ngôi
thứ mấy? Vì sao Thạch Sanh lại xưng
“ta” mà không xưng “tôi” hay “mình”?
2. Đoạn nào của bài viết có tác dụng
như mở bài? Cách vào bài bằng lời
chào, cách đặt câu hỏi, hứa hẹn, ... có
thu hút người đọc không?
-Kể lại câu chuyện theo ngôi thứ nhất, xưng “ta”.
- Vì lúc này, Thạch Sanh đang trong vai nhà vua.
3. Bài viết kể theo trình tự nào? Diễn
biến chính có phù hợp với truyện gốc
không?
-Các chi tiết được sắp xếp theo trình tự thời gian, tập
trung vào các chi tiết kì ảo.
-Diễn biến chính phù hợp với cốt truyện gốc.
4. Những chi tiết, sự kiện nào được
người viết thêm vào?
5. Nhận xét về cách kết thúc của bài
viết?
-Đoạn 1.
-Cách vào bài bằng lời chào, cách đặt câu hỏi, hứa
hẹn,… thu hút người đọc.
- Đoạn phát hiện và đánh nhau với đại bàng; - Các
bình luận, đánh giá của nhân vật (người kể chuyện);
- Lời kết.
Phần kết thúc bài: Nêu lí do kết thúc, tóm lược các
sự kiện tiếp theo, nêu bài học tâm đắc.
III. THỰC HÀNH VIẾT THEO CÁC BƯỚC
1. Trước khi viết
Trước khi viết, em cần chuẩn bị những gì ?
Câu chuyện định kể là câu chuyện nào? Em sẽ đóng vai nhân
vật nào để kể?
Chọn ngôi kể thứ mấy và đại từ xưng hô cần tương ứng với
điều gì?
Chọn lời kể phù hợp với ai, với những gì?
Nội dụng chính của câu chuyện cần ghi lại như thế nào?Dự
kiến những chi tiết cần sáng tạo thêm?
a. Chọn ngôi kể và đại từ tương ứng:
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất.
- Đại từ xưng hô: ta, tôi, mình… phù hợp với địa vị, giới tính...
của nhân vật em đóng vai cũng như bối cảnh kể.
b. Chọn lời kể phù hợp:
- Đóng vai một nhân vật cụ thể: giới tính, tuổi tác, địa chỉ... của
nhân vật để lựa chọn lời kể phù hợp.
- Tính chất lời kể: vui, buồn, thân mật, nghiêm trang... phải phù
hợp với nội dung và bối cảnh kể.
c. Ghi những nội dung chính của câu chuyện
- Cần ghi nhớ và tôn trọng những chi tiết đã biết về nhân vật
cũng như cốt truyện gốc.
- Dự kiến những yếu tố, chi tiết sẽ được sáng tạo thêm.
- Có thể lập một bản tóm tắt các sự kiện, tình tiết theo thứ tự
trước sau để dễ dàng ghi nhớ và kể lại.
d. Lập dàn ý
* Mở bài: Đóng vai nhân vật để giới thiệu sơ lược về mình và câu
chuyện định kể.
* Thân bài: Kể diễn biến câu chuyện.
- Xuất thân của các nhân vật.
- Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.
- Diễn biến chính:
+ Sự việc 1
+ Sự việc 2
+ Sự việc 3
* Kết bài: Kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện.
PHIẾU TÌM Ý
Họ và tên HS: ………………………….
Nhiệm vụ: Tìm ý cho bài văn đóng vai một nhân vật để kể lại một truyện cổ tích
mà em yêu thích
1. Câu chuyện cổ tích được chọn kể là: ............................................................
2. Đóng vai nhân vật ..............để kể về hoàn cảnh, câu chuyện của mình.
3. Ngôi kể và đại từ xưng hô................................................................................
4. Kể về xuất thân của nhân vật...........................................................................
5. Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện..........................................................................
6. Liệt kê các sự việc chính...................................................................................
7. Những sáng tạo em sẽ đưa vào chuyện............................................................
8. Câu chuyện kết thúc.......................................................................................
2. Viết bài
Khi viết bài, cần lưu ý:
- Nhất quán về ngôi kể.
- Kể lại câu chuyện:
+ Dựa vào truyện gốc: nhân vật, sự kiện, ngôn ngữ...
+ Có thể sáng tạo: chi tiết hoá những chi tiết còn chung chung; gia tăng
yếu tố kì ảo, tưởng tượng; tăng cường bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, đánh
giá của người kể chuyện; tăng thêm miêu tả, bình luận, liên tưởng...
3. Chỉnh sửa bài viết
Yêu cầu
Được kể từ người kể chuyện ngôi thứ nhất. Người kể
chuyện đóng vai một nhân vật trong truyện.
Có sự tưởng tượng, sáng tạo thêm nhưng không thoát li
truyện gốc; tránh làm thay đổi, biến dạng các yếu tố cơ bản
của cốt truyện ở truyện gốc.
Cần có sự sắp xếp hợp lí các chi tiết và bảo đảm có sự kết
nối giữa các phần.
Cần bổ sung các yếu tố miêu tả, biểu cảm để tả người, tả
vật hay thể hiện cảm xúc của nhân vật.
Bảo đảm yêu cầu về chính tả và diễn đạt.
Đạt
Không đạt
IV. VÂN DỤNG
Chọn một trong các đề sau:
1. Hãy đóng vai nhân vật người em kể lại truyện cổ tích “Cây
khế”.
2. Hãy đóng vai nhân vật người con (cô bé) kể lại truyện cổ tích
“Sự tích hoa cúc trắng”.
3. Hãy đóng vai nhân vật cậu bé Aưm kể lại truyện cổ tích “Sự
tích cây ngô”.
Hãy đóng vai nhân vật người em kể lại truyện cổ tích “Cây khế”.
1. Trước khi viết
a. Chọn ngôi kể và đại từ tương ứng
- Ngôi kể sẽ là ngôi thứ nhất: tôi.
b. Chọn lời kể phù hợp
- Hoàn cảnh nhân vật: Người em đã có cuộc sống khá giả, người anh đã
mất.
- Tính chất lời kể buồn, ngậm ngùi, thương xót.
c. Ghi những nội dung chính của câu chuyện
- Giới thiệu thân phận: Gia cảnh, cuộc sống vất vả, chịu ơn giúp đỡ của
chim thần.
- Kể lại câu chuyện phân chia tài sản.
- Kể lại chuyện chim đại bàng đến ăn khế trả vàng.
- Kể lại câu chuyện của người anh.
- Đưa ra ý nghĩa câu chuyện.
d. Lập dàn ý
- Mở bài: Đóng vai nhân vật để tự giới thiệu sơ lược về mình và câu
chuyện định kể.
- Thân bài: Kể lại diễn biến của câu chuyện.
+ Xuất thân của các nhân vật.
+ Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện.
+ Diễn biến chính:
- Sự việc 1.
- Sự việc 2.
- Sự việc 3.
...
- Kết bài: Kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện.
BÀI VIẾT THAM KHẢO
Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân. Vì chăm chỉ làm
lụng nên bố mẹ tội cũng có bát ăn bát để, hi vọng sau này cho
anh em tôi làm vốn sinh nhai. Nhưng rồi cha mẹ tôi mất đột ngột.
Anh trai tôi đã không làm như lời cha mẹ dặn trước lúc lâm
chung là chia đều tài sản cho hai anh em mà chiếm hết gia tài, chỉ
để lại cho tôi một túp lều nhỏ và cây khế còi cọc ở góc vườn.
Tôi chấp nhận mà không hề kêu ca, than phiền gì. Hằng ngày, tôi phải mò
cua bắt ốc, cày thuê, cuốc mướn để sống. Cây khế trở thành tài sản quý giá
nhất và là người bạn thân thiết của tôi. Tôi chăm sóc nó chu đáo, tận tình như
người bạn. Vì vậy mà cây khế lớn rất nhanh và chẳng bao lâu đã ra hoa kết
quả. Đến mùa khế chín, những chùm khế chín vàng óng, thơm lừng báo hiệu
một mùa khế bội thu. Không thể nào nói hết được niềm hạnh phúc của mọi
người trong gia đình tôi. Tôi đã đan những chiếc sọt để ngày mai đem khế ra
chợ đổi lấy gạo. Sáng hôm đó, khi vừa thức dậy, tôi đã nhìn thấy trên cây khế
có một con chim to với bộ lông sặc sỡ đang ăn những quả khế chín. Lòng tôi
đau như cắt. Tôi chạy đến dưới gốc cây và nói: “Chim ơi! Ngươi ăn khế của ta
thì gia đình ta biết lấy gì để sống?”. Chim bỗng ngừng ăn và cất tiếng trả lời:
“Ăn một quả trả một cục vàng, may túi ba gang mang đi và đựng”.
Nói rồi chim bay đi. Tôi không tin lắm vào chuyện lạ lùng đó nhưng
vẫn bảo vợ may cho mình một chiếc túi ba gang. Sáng hôm sau, chim đến
từ sớm và đưa tôi ra một hòn đảo nhỏ giữa biển. Tôi không thể tin vào
những gì hiện ra trước mắt. Cả hòn đảo toàn vàng bạc châu báu chất đống.
Cả hòn đảo ánh lên màu vàng làm tôi bị lóa mắt. Không hề có một bóng
người. Tôi cảm thấy lo sợ, cứ đứng yên một chỗ. Nhưng rồi chim vỗ cánh
và giục giã: “Anh hãy lấy vàng bạc, châu báu vào túi, rồi tôi đưa về.”. Lúc
đó tôi mới dám nhặt vàng cho vào đầy túi ba gang rồi lên lưng chim để trở
về đất liền.
Từ đó, gia đình tôi không còn phải ăn đói mặc rách nữa. Tôi dựng
một căn nhà khang trang ngay trong khu vườn, nhưng vẫn giữ lại túp lều và
cây khế.
Tôi dùng số của cải đó chia cho những người dân nghèo khổ
trong làng. Cũng không hiểu sao từ bữa đó, chim không còn đến
ăn khế nữa. Cây khế bây giờ đã to lớn, toả bóng mát xuống cả
một góc vườn. Mùa khế nào tôi cũng chờ chim thần đến để bày
tỏ lòng biết ơn.
Tiếng lành đồn xa, câu chuyện lan đến tai người anh trai tôi.
Một sáng, anh đến nhà tôi rất sớm. Đây là lần đầu tiên anh tới
thăm tôi kể từ ngày bố mẹ mất. Anh đòi tôi đổi toàn bộ gia sản
của anh lấy túp lều và cây khế. Tôi rất buồn khi phải chia tay với
căn nhà và cây khế.
Nhưng trước lời cầu khẩn của anh, tôi đành bằng lòng. Cả gia đình anh
chuyển về túp lều cũ của tôi. Ngày nào anh cũng ra dưới gốc khế chờ chim thần
đến. Mùa khế chín, chim cũng trở về ăn khế. Vừa thấy chim, anh tôi đã khóc lóc,
kêu gào thảm thiết và đòi chim phải trả vàng. Chim cũng hứa sáng mai sẽ đưa
anh tôi ra đảo vàng và dặn may túi ba gang. Tối hôm đó, anh tôi thức cả đêm để
may túi chín gang ngày mai đi lấy vàng. Sáng hôm sau, vừa ra tới đảo vàng, anh
tôi đã hoa mắt bởi vàng bạc châu báu của hòn đảo. Anh tôi vội nhét vàng vào đầy
túi chín gang, vào túi quần, túi áo và mồm cũng ngậm vàng nữa. Trên đường trở
về nhà, chim nặng quá, kêu anh tôi vứt bớt vàng xuống biển cho đỡ nặng. Vốn
tính tham lam, anh không những không vứt bớt xuống mà còn bắt chim bay
nhanh hơn. Nặng quá, chim càng lúc càng mệt. Đôi cánh trở nên quá sức, yếu
dần. Cuối cùng, không còn gắng được nữa, chim chao đảo rồi hất luôn người anh
xuống biển cùng với số vàng.
Tôi trở lại sống ở nhà cũ, cùng túp lều và cây khế. Nhưng
chim thần không bao giờ còn quay trở lại nữa… Anh trai tôi đã
không thể quay trở về chỉ vì lòng tham vô đáy. Một nỗi buồn
man mác dâng lên trong lòng tôi.
SỰ TÍCH HOA CÚC TRẮNG
Chuyện kể rằng ở một ngôi làng nọ có hai mẹ con nghèo sinh sống
với nhau trong một ngôi nhà nhỏ. Người mẹ ngày ngày tần tảo làm việc
để nuôi con, người con tuy còn nhỏ nhưng đã biết yêu thương, có hiếu với
mẹ.
Cuộc sống của hai mẹ con cứ thế bình lặng trôi qua thì bỗng đến một
ngày người mẹ chợt lâm bệnh nặng. Dù đã đi đến chữa trị ở rất nhiều thầy
lang giỏi trong làng nhưng tình hình bệnh của người mẹ không hề đỡ chút
nào, sức khỏe mỗi ngày một yếu đi.
Nhà nghèo không có tiền chữa trị, nhưng thương mẹ người
con vẫn quyết tâm đi tìm thầy ở các nơi để chữa bệnh cho mẹ.
Người con cứ đi từ làng này qua làng khác, vượt bao làng mạc,
núi sông, vừa đói vừa rách nhưng không hề nản lòng. Rồi em đi
qua một ngôi chùa, em đã xin phép trụ trì của ngôi chùa cầu phúc
cho mẹ em mau chóng qua bệnh để hai mẹ con lại trở về cuộc
sống như xưa. Lòng hiếu thảo của em đã động đến trời xanh, Đức
Phật cũng phải động lòng trắc ẩn nên ngài đã biến thành một nhà
sư và tặng cho em một bông hoa có năm cánh. Số cánh hoa
tượng trưng cho số năm mà mẹ em sống thêm được.
Em nhìn bông hoa vừa vui sướng vì đã có phép màu cứu được mẹ
nhưng cũng không khỏi lo lắng vì chỉ có năm cánh hoa, tức mẹ em chỉ
còn sống được năm năm. Vì vậy sau một hồi suy nghĩ em đã xé nhỏ
các cánh hoa cho tới khi không còn xé nhỏ được nữa, và cũng không
còn đếm được bông hoa có bao nhiêu cánh hoa. Nhờ vậy mà người mẹ
đã sống rất lâu bên đứa con ngoan hiếu thảo của mình.
Bông hoa có vô số cánh hoa biểu tượng cho sự sống, cho ước mơ
trường tồn của con người, cho khát vọng chữa lành mọi bệnh tật, sau
này người ta gọi đó là hoa Cúc. Sự tích hoa cúc trắng cũng từ đó mà ra.
( Trích “ Truyện cổ tích Việt Nam”, NXB Mĩ thuật 2018)
SỰ TÍCH CÂY NGÔ
Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát.
Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm
đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái
tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng Aưm đã trở thành chỗ dựa của mẹ. Hằng ngày, cậu dậy
sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ. Nhưng trời ngày càng hạn
hán hơn. Có những lần cậu đi cả ngày mà vẫn không tìm được thứ gì để ăn. Một hôm,
vừa đói vừa mệt cậu thiếp đi bên bờ suối. Trong mơ, cậu nhìn thấy một con chim cắp quả
gì to bằng bắp tay, phía trên có chùm râu vàng như mái tóc của cậu. Con chim đặt quả lạ
vào tay Aưm rồi vỗ cánh bay đi. Tỉnh dậy Aưm thấy quả lạ vẫn ở trên tay. Ngạc nhiên,
Aưm lần bóc các lớp vỏ thì thấy phía trong hiện ra những hạt màu vàng nhạt, xếp thành
hàng đều tăm tắp. Aưm tỉa một hạt bỏ vào miệng nhai thử thì thấy có vị ngọt, bùi. Mừng
quá, Aưm cầm quả lạ chạy một mạch về nhà.
Mẹ của cậu vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Thương mẹ mấy ngày nay đã đói
lả, Aưm vội tỉa những hạt lạ đó mang giã và nấu lên mời mẹ ăn. Người mẹ dần dần
tỉnh lại, âu yếm nhìn đứa con hiếu thảo. Còn lại ít hạt, Aưm đem gieo vào mảnh
đất trước sân nhà. Hằng ngày, cậu ra sức chăm bón cho cây lạ. Nhiều hôm phải đi
cả ngày mới tìm được nước uống nhưng Aưm vẫn dành một gáo nước để tưới cho
cây. Được chăm sóc tốt nên cây lớn rất nhanh, vươn những lá dài xanh mướt.
Chẳng bao lâu, cây đã trổ hoa, kết quả.
Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ. Aưm hái những quả lạ có râu
vàng hoe như mái tóc của cậu biếu bà con để làm hạt giống. Quý tấm lòng thơm
thảo của Aưm, dân bản lấy tên câu bé đặt tên cho cây có quả lạ đó là cây Aưm, hay
còn gọi là cây ngô. Nhờ có cây ngô mà từ đó, những người dân Pako không còn lo
thiếu đói nữa.
(Truyện cổ tích Việt Nam – Nguồn truyencotich.vn)
 







Các ý kiến mới nhất