Tìm kiếm Bài giảng
thu phap

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Lệ Thơ
Ngày gửi: 16h:26' 27-03-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Lệ Thơ
Ngày gửi: 16h:26' 27-03-2025
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
HUYEÄN CHAÂU THAØNH
Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người
dân hay đến nhà những « Thầy Ðồ » hay những
người « hay chữ » để xin chữ về treo như một
bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng
vừa là món ăn tinh thần. Thầy đồ hay người hay
chữ cho chữ bằng cách viết một hay nhiều chữ
trên một tờ giấy lớn, với nội dung mang tính
cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ thường
được khen là đẹp như rồng bay phượng múa.
Lối viết như vậy được gọi là Thư Pháp.
Mới nhìn qua, chúng ta có thể nghĩ là bộ môn nầy khá dễ, muốn viết
sao cũng được, miễn cho đẹp thì thôi ! Thật ra môn Thư pháp cũng có
nhiều qui tắc, sau đây là vài nguyên tắc chánh.
Chương pháp: tức là nguyên cứu phương pháp
phân bố chữ với chữ, hàng với hàng, và các
hàng với toàn bộ bức thư pháp. Một bức thư
pháp thành công hay không là do ở chương
pháp.
-Ðầu câu không thụt vô.
-Các hàng đều và dài bằng nhau
-Một chữ lẻ loi không đứng thành một hàng
-Khoảng trống ở hàng cuối không dài hơn phân
nửa chiều dài của hàng
-Không dùng dấu chấm câu.
Hình dạng bức thư pháp: Có bốn hình dạng chánh
-Hình chữ nhật đứng (Trung đường)
-Hình chữ nhật ngang (Hoành phi)
-Hình vuông (Ðấu phương)
-Hình mặt quạt (Phiến diện)
Ấn chương (hay con dấu, con triện) là một nét văn hoá rất
độc đáo của người Trung Quốc.
Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp
hay một bức họa. Ðặt đúng vị trí, ấn chương tăng thêm gía
trị của tác phẩm, ngược lại sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỷ
ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là
chính bản hay ngụy tạo.
Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi :
-Khắc chìm khi in ra có nét chữ trắng trên nền đậm.
-Khắc nổi, khi in ra có nét chữ đậm trên nền lợt.
-Loại nữa chìm nữa nổi
Vị trí đặt con dấu
Trong các thư tác của người Trung
Hoa xưa có nhiều vị trí được qui
ước để đóng dấu như :
-Ðóng ở bên phải, phía trên thư tác
gọi là Nhân chương
-Ðóng ở thắc lưng thư tác gọi là Yêu
chương
-Ðóng ở phía dưới, bên trái thư tác
gọi là Danh chương
Tùy theo thư tác có khổ lớn hay nhỏ,
dài hay ngắn mà có thể đóng một,
hai, hoặc ba dấu triện. Vị trí các
dấu triện đều có ý nghĩa riêng của
nó.
Thư pháp Việt ngữ không hoàn toàn theo qui ước đóng dấu của
người Trung Hoa mà theo cách thực hành sau đây :
-Khi tác giả vừa là tác giả nội dung (Ý) vừa là tác giả hình thức
(Hình) ; hoặc tác giả Hình nhưng Ý là các câu văn thơ cổ (hết
bản quyền) thì con dấu ở vị trí dưới, phải. Hoặc có thể thêm
một dấu ở trên, trái như dấu treo. Như vậy được gọi là Toàn
triện.
-Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ...) nhưng chưa
có sự đồng ý của tác giả đó thì con dấu của tác giả Hình đặt
bên dưới, phải, còn bên trái ghi tên tác giả Ý và người viết phải
ghi « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Bán triện
-Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ...) có sự đồng ý
của tác giả Ý thì được quyền đóng dấu ở dưới, bên phải nhưng
phải đề tên tác giả Ý phía trên cao, bên trái ; và người viết phải
ghi chữ « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Ðồng
triện.
-Trường hợp ngoại lệ : vì lý do bố cục mà người viết không thể
sắp xếp được vị trí nơi đóng dấu thì được đặt dấu ở vị trí khác
nhưng phải ghi rõ tác giả về Ý. Vị trí nầy tạm gọi là Ngoại triện.
Các kiểu chữ trong Thư pháp
• Trong thư pháp việt ngữ hiện nay xuất hiện 5 kiểu chữ chánh:
Chữ Chân Phương, tạm gọi là Chân Tự, là cách viết rõ ràng dễ đọc,
rất giống chữ thường.
• Chữ Cách Điệu, tạm gọi là Biến Tự, là cách viết biến đổi từ chữ Chân
Phương mà ra nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để
tạo ra cái lối viết riêng của mình.
• Chữ Cá Biệt, tạm gọi là Cuồng Thảo, là lối viết Thư Pháp mà người
phóng bút « nhiếp tâm » giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết chữ nầy
thể hiện cá tính của người viết, nhìn vào kiểu chữ nầy, người xem dễ
biết tác giả mà không cần phải xem bút ký. Kiểu chữ nầy thường viết
liền lạc trong một nét nên khó đọc.
• Chữ Mô Phỏng là lối viết mô phỏng dựa theo kiểu chữ của nước
ngoài. Có người viết chữ Việt nhìn vào ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập,
chữ Miên, v.v...
• Chữ Mộc bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như
kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp
đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Nhìn vào chữ có dạng
Hán-Nôm nhưng đó lại là chữ Việt viết ngược.
Chân
dung
Lê nin
tạo từ
hai chữ
Lê nin
Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người
dân hay đến nhà những « Thầy Ðồ » hay những
người « hay chữ » để xin chữ về treo như một
bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng
vừa là món ăn tinh thần. Thầy đồ hay người hay
chữ cho chữ bằng cách viết một hay nhiều chữ
trên một tờ giấy lớn, với nội dung mang tính
cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ thường
được khen là đẹp như rồng bay phượng múa.
Lối viết như vậy được gọi là Thư Pháp.
Mới nhìn qua, chúng ta có thể nghĩ là bộ môn nầy khá dễ, muốn viết
sao cũng được, miễn cho đẹp thì thôi ! Thật ra môn Thư pháp cũng có
nhiều qui tắc, sau đây là vài nguyên tắc chánh.
Chương pháp: tức là nguyên cứu phương pháp
phân bố chữ với chữ, hàng với hàng, và các
hàng với toàn bộ bức thư pháp. Một bức thư
pháp thành công hay không là do ở chương
pháp.
-Ðầu câu không thụt vô.
-Các hàng đều và dài bằng nhau
-Một chữ lẻ loi không đứng thành một hàng
-Khoảng trống ở hàng cuối không dài hơn phân
nửa chiều dài của hàng
-Không dùng dấu chấm câu.
Hình dạng bức thư pháp: Có bốn hình dạng chánh
-Hình chữ nhật đứng (Trung đường)
-Hình chữ nhật ngang (Hoành phi)
-Hình vuông (Ðấu phương)
-Hình mặt quạt (Phiến diện)
Ấn chương (hay con dấu, con triện) là một nét văn hoá rất
độc đáo của người Trung Quốc.
Ấn chương là một yếu tố quan trọng của một bức thư pháp
hay một bức họa. Ðặt đúng vị trí, ấn chương tăng thêm gía
trị của tác phẩm, ngược lại sẽ làm hỏng nó. Nghiên cứu kỷ
ấn chương, người ta có thể giám định một bức thư họa là
chính bản hay ngụy tạo.
Nguyên tắc khắc ấn triện là khắc chìm hoặc khắc nổi :
-Khắc chìm khi in ra có nét chữ trắng trên nền đậm.
-Khắc nổi, khi in ra có nét chữ đậm trên nền lợt.
-Loại nữa chìm nữa nổi
Vị trí đặt con dấu
Trong các thư tác của người Trung
Hoa xưa có nhiều vị trí được qui
ước để đóng dấu như :
-Ðóng ở bên phải, phía trên thư tác
gọi là Nhân chương
-Ðóng ở thắc lưng thư tác gọi là Yêu
chương
-Ðóng ở phía dưới, bên trái thư tác
gọi là Danh chương
Tùy theo thư tác có khổ lớn hay nhỏ,
dài hay ngắn mà có thể đóng một,
hai, hoặc ba dấu triện. Vị trí các
dấu triện đều có ý nghĩa riêng của
nó.
Thư pháp Việt ngữ không hoàn toàn theo qui ước đóng dấu của
người Trung Hoa mà theo cách thực hành sau đây :
-Khi tác giả vừa là tác giả nội dung (Ý) vừa là tác giả hình thức
(Hình) ; hoặc tác giả Hình nhưng Ý là các câu văn thơ cổ (hết
bản quyền) thì con dấu ở vị trí dưới, phải. Hoặc có thể thêm
một dấu ở trên, trái như dấu treo. Như vậy được gọi là Toàn
triện.
-Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ...) nhưng chưa
có sự đồng ý của tác giả đó thì con dấu của tác giả Hình đặt
bên dưới, phải, còn bên trái ghi tên tác giả Ý và người viết phải
ghi « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Bán triện
-Khi tác giả Hình viết Ý của tác giả khác (văn, thơ...) có sự đồng ý
của tác giả Ý thì được quyền đóng dấu ở dưới, bên phải nhưng
phải đề tên tác giả Ý phía trên cao, bên trái ; và người viết phải
ghi chữ « thủ bút » hoặc « viết ». Vị trí nầy tạm gọi là Ðồng
triện.
-Trường hợp ngoại lệ : vì lý do bố cục mà người viết không thể
sắp xếp được vị trí nơi đóng dấu thì được đặt dấu ở vị trí khác
nhưng phải ghi rõ tác giả về Ý. Vị trí nầy tạm gọi là Ngoại triện.
Các kiểu chữ trong Thư pháp
• Trong thư pháp việt ngữ hiện nay xuất hiện 5 kiểu chữ chánh:
Chữ Chân Phương, tạm gọi là Chân Tự, là cách viết rõ ràng dễ đọc,
rất giống chữ thường.
• Chữ Cách Điệu, tạm gọi là Biến Tự, là cách viết biến đổi từ chữ Chân
Phương mà ra nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để
tạo ra cái lối viết riêng của mình.
• Chữ Cá Biệt, tạm gọi là Cuồng Thảo, là lối viết Thư Pháp mà người
phóng bút « nhiếp tâm » giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết chữ nầy
thể hiện cá tính của người viết, nhìn vào kiểu chữ nầy, người xem dễ
biết tác giả mà không cần phải xem bút ký. Kiểu chữ nầy thường viết
liền lạc trong một nét nên khó đọc.
• Chữ Mô Phỏng là lối viết mô phỏng dựa theo kiểu chữ của nước
ngoài. Có người viết chữ Việt nhìn vào ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập,
chữ Miên, v.v...
• Chữ Mộc bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như
kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp
đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Nhìn vào chữ có dạng
Hán-Nôm nhưng đó lại là chữ Việt viết ngược.
Chân
dung
Lê nin
tạo từ
hai chữ
Lê nin
 








Các ý kiến mới nhất