Van hoa Bac Ninh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Hoàng Tuấn
Ngày gửi: 14h:59' 26-04-2009
Dung lượng: 16.5 MB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Hoàng Tuấn
Ngày gửi: 14h:59' 26-04-2009
Dung lượng: 16.5 MB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
Trường THCS CHU VĂN AN Q1
Lớp: 8A4
Ha?t
Quan họ
Lễ hội
Kiến trúc
đình chu`a
Trường THCS CHU VĂN AN Q1
8A4
I. Giới thiệu chung
II. Quan họ truyền thống
III. Quan họ mới
IV. Trang phục
V. Làn điệu
VI. Trò chơi ô chữ
Hát Quan họ Bắc Ninh là đặc sản dân ca người Việt tỉnh Bắc Ninh. Nó bắt nguồn từ những lối hát đối đáp nam nữ cổ đã có từ rất lâu đời.
Quan họ là hình thức ca hát dân gian đặc sắc trong kho tàng âm nhạc cổ truyền Việt Nam, gắn liền đời sống tinh thần người dân Kinh Bắc. Nó bao gồm nhiều yếu tố: nhạc, thơ, trang phục, lễ hội, nếp sống truyền thống.
Quan họ không chỉ là lối hát giao duyên (hát đối) giữa "liền anh"(người nam hát quan họ) và "liền chị"(người nữ hát quan họ) mà còn là hình thức trao đổi tình cảm giữa "liền anh, liền chị" với khán giả.
? Hát quan họ
Quan họ truyền thống tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh Bắc, là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc, qui định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ.
Quan họ truyền thống không có nhạc đệm, chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê.
Đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị gọi là hát bội, hát canh ; cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị gọi là hát chúc, hát mừng, hát thờ.
? Lối hát truyền thống
Hát bội
Hát chúc
?Quan họ mới còn được gọi là "hát quan họ", là hình thức biểu diễn quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch.
? Quan họ mới luôn có thính giả, người hát trao đổi tình cảm với thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau.
? Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa minh họa.
? Lối hát quan họ mới
Đầu đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp.
Mặc áo dài năm thân, cổ đứng, lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối.
Bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài.
Chất liệu áo cánh thường là phin, sồi, lụa, diềm bâu, cát bá, trúc bâu,. Áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the,.
Quần dài trắng, ống rộng, may kiểu chân quêø dài tới mắt cá chân.
Chất liệu là diềm bâu, phin, trúc bâu, có thắc lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần.
Mặc" áo mớ ba mớ bảy" nghĩa là có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau hoặc bảy áo dài mặc lồng vào nhau.
Trong cùng là một chiếc yếm có màu rực rỡ thường làm bằng lụa truội nhuộm
Bên ngoài là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà là những màu nhẹ nhàng.
Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng như ở trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn.
Áo dài năm thân nữ có cài khuy.
Chất liệu để may áo đẹp nhất thời trước là the, lụa.
Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi bài hát đều có giai điệu riêng. Cho đến nay, có ít nhất ba trăm bài (giai điệu) quan họ đã được kí âm (ghi âm bằng kí hiệu âm nhạc trên giấy).
TRÒ CHƠI Ô CHỮ
1
2
3
4
5
6
7
Quan họ truyền thống tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ ?
Trang phục của người nữ hát quan họ là "Áo . "?
Cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị gọi là ?
... là hình thức trao đổi tình cảm giữa "liền anh, liền chị"
Người nam hát quan họ là ?
Đặc điểm khác nhau của quan họ mới mà quan họ truyền thống không có?
Chất liệu để may áo dài người nam hát quan họ là ?
Đền Đô
Nhóm 2
Lớp 8a4
1. Hội Lim
2. Hội Đền Đô
3. Hội Gióng
Hội Lim được mở từ ngày 12 đến 14 tháng giêng Âm lịch hàng năm.
Ngày 13 là chính hội, thường được kéo dài trong khoảng thời gian 3-5 ngày (11/1 - 15/1 Âm lịch).
1. Hội Lim
Các đôi liền anh, liền chị hát đối quan họ
Thu hút nhiều thành phần, lứa tuổi từ khắp nơi về trẩy hội vui xuân.
Hát Quan họ trên đồi, trên thuyền, tại nhà.
Với nam thanh nữ tú thì hội là dịp tìm bạn, tìm duyêncòn riêng với người lớn tuổi thì đến hội là dịp tìm về tuổi xuân,
Đặc điểm:
Hát trong nhà
Gia đình được chỉ định tổ chức hát trong nhà được các liền anh liền chị quan họ đến giúp chuẩn bị và sửa soạn trầu cau trà nước và nhất là bữa cơm quan họ để đãi khách. . Chủ nhà được gọi là ông chứa hay bà chứa, một danh xưng rất được trọng vọng nể vì.
_Các liền chị với những tấm áo tứ thân sặc sỡ tay cầm nón quai thao đi thành từng nhóm. Các liền anh trang trọng với chiếc áo dài the đen, đầu đội khăn đống, tay cầm ô đen cũng có nhóm với nhau.
Hát ngoài đồi
_ Nhóm nam tìm nhóm nữ chưa có bạn và mời họ ăn trầu. Nếu họ nhận trầu tức là nhận lời hát. Tục này gọi là quan họ nghĩa.
Cách chơi: treo một chiếc niêu đất lên và nhiệm vụ của người chơi là phải đập vỡ nó với một chiếc gậy.
Phải bịt mắt, đứng cách xa chiếc niêu vài mét trước khi tiến lại gần để đập vỡ niêu. Cái khó của người chơi chính là bị bịt mắt và không xác định được đúng vị trí treo chiếc niêu.
Cô gái đang trổ tài với
trò đập niêu đất
_Những con rối biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây...
_Múa rối nước xuất hiện từ đời Lý, vào khoảng thế kỷ 11, đầu thế kỷ 12.
_Dùng mặt nước làm sân khấu , có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, ...
Tổ chức vào ngày 20/4 ở đền Đô (xã Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh), nơi thờ 8 vị vua nhà Lý, kỷ niệm 998 năm vua Lý Công Uẩn lên ngôi.
2. Hội Đền Đô
Ngày chính hội 15/3, đoàn rước khởi hành từ chùa Cổ Pháp (gọi là chùa Dận), nơi sinh Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ).
Ba ông Thế Tướng đóng khố cởi trần hùng dũng tiến về đền Đô
Nổi trống khai hội.
Đền Đô
_Đền Lý Bát Đế còn gọi là Đền Đô hoặc Cổ Pháp điện là nơi thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý.
_Kiến trúc tín ngưỡng được bảo tồn khá trọn vẹn, nơi tưởng niệm và phụng thờ của toàn dân đối với các vị vua nhà Lý
_Đá gà là trò chơi dân gian mang đậm nét văn hóa truyền thống bắt đầu từ tháng Chạp đến tháng Tư âm lịch.
_Nhiều địa phương đã tổ chức đá gà như một ngày hội.
Hội Gióng
_Diễn ra từ mùng 6 đến 12 tháng Tư âm lịch truyền thống
Hiện nay thường là từ mùng 6, mùng 7 đến mùng 10
_ Nghi thức tái hiện lại chiến công của Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân theo truyền thuyết.
Cám ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe
Một số kiến trúc tiêu biểu
Chùa Bút Tháp
Chùa Dâu
Chùa Bút Tháp
- Toạ lạc ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Được xây từ năm 187 đến 226 hoàn thành
Xây theo lối :"Nội Công Ngoại Quốc". Gồm ba phần: Tiền Đường, Thiêu Hương, Thượng Điện, ngoài ra còn Hậu Đường, nhưng ngày nay không còn.
- Có tượng Mạc Đĩnh Chi, tháp Hoà Phong, .
Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
- Nằm ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Chùa có tên gọi khác là chùa Nhạn Pháp.
CHÙA BÚT THÁP
- Chùa xây "Nội Công Ngoại Quốc". Gồm ba phần Tiền Đường, Thiêu Hương, Thượng Điện tạo thành chữ Công.
- Chùa có tượng Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay, tượng Tây Thiên Đông Bộ, tượng Quan Âm Thị Kính, tượng Kim Đồng-Ngọc Nữ,.
Tượng quan âm
Nghìn mắt, nghìn tay
-Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay có kích thước : cao 3,7m, có 11 đầu, 42 bàn tay lớn và 958 tay nhỏ.
Điều kỳ lạ là mỗi bàn tay có một mắt, nhịp điệu mỗi cánh tay không giống nhau. Tượng được đặt trên toà sen Rồng đội, đằng sau là vầng hào quang toả sáng, bên dưới là các hình trang trí sóng nước sống động như một thuỷ cung.
- Là một ngôi chùa nằm ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ,có tên gọi khác là chùa Vạn Phúc
- Chùa được khởi công xây dựng vào năm Thái Bình thứ 4(1057), với nhiều toà ngang dãy dọc.
- Chùa có kiến trúc là gồm 3 bậc nền bạc vào sườn núi
- Chùa có tượng phật A-di-đà bằng ngọc thạch, 10 tượng thú bằng đá cao,.
Tượng sư trụ trì
TƯỢNG PHẬT A-DI-ĐÀ
Tượng phật A-di-đà được tạc bằng đá xanh nguyên khối, ngồi thiền định trên toà sen, cao 1,87mét, bệ tượng cao 0,9 mét, và được chạm tinh xảo và mềm mại.
Bệ đá hình hoa sen cao 0,9 mét có chu vi 5,92 mét được chia làm 2 phần: Phần trên chạm khắc trang trí hình rồng. Đài sen, với hai lớp cánh sen, mỗi lớp 15 cánh xoè nở rộng, có chạm hình rồng, mây uyển chuyển.
- Nằm núi Dạm , tỉnh Bắc Ninh.
- Dấu tích chùa khẳng định chùa là một danh lam thời Lý. ( Vua Lý Nhân Tông 1072- 1127).
- Chùa Dạm còn nổi tiếng bởi những tác phẩm điêu khắc tài ba, bao gồm tư tưởng thâm thuý cao siêu của người Việt.
- Kiến trúc sư và các nhà điêu khắc đã khéo tổ chức không gi`an hợp lý để nhân gấp bội giá trị vẻ đẹp công trình.
_Là một ngôi đền ở làng Cổ Mể.
_Bà Chúa Kho không ai biết nguồn gốc của bà, nhưng hình ảnh của bà được truyền tụng trong dân gian.
MÁI ĐÌNH CHÙA
Hình rồng
Thể hiện trí tưởng tuợng bay bổng của người dân.
Hình ngựa
Thể hiện sinh họat đời thường trong dân gian
Hình ngựa
Hình voi
Hình hổ
Hình chim Phượng
Một số hình điêu khắc độc đáo, đường nét tinh xảo, mang tính nghệ thuật cao
a) Chùa Bút Tháp
b) Chùa Dâu
c) Chùa Phật Tích
d) Chùa Dạm
Đây là hình ảnh của ngôi chùa gì:
a) Chùa Bút Tháp
b)Tượng quan âm nghìn mắt, nghìn tay
a)Tượng thờ sư trụ trì
c)Tượng 12 con giáp
Một tượng thờ nổi tiếng ở chùa Bút Tháp
b)Tượng quan âm nghìn mắt, nghìn tay
b)Chùa Vạn Phúc
a)Chùa Quan Âm
c)Chùa Nhạn Pháp
Tên gọi khác của chùa Phật Tích
b)Chùa Vạn Phúc
c)Chùa Nhạn Pháp
a)Chùa Dâu
b)Chùa Nhạn Phúc
Tên gọi khác của chùa Bút Tháp
c)Chùa Nhạn Pháp
Dự án của lớp 8a4 đến đây là kết thúc.
Xin chân thành cám ơn quí thầy cô và các bạn đã quan tâm theo dõi.
Lớp: 8A4
Ha?t
Quan họ
Lễ hội
Kiến trúc
đình chu`a
Trường THCS CHU VĂN AN Q1
8A4
I. Giới thiệu chung
II. Quan họ truyền thống
III. Quan họ mới
IV. Trang phục
V. Làn điệu
VI. Trò chơi ô chữ
Hát Quan họ Bắc Ninh là đặc sản dân ca người Việt tỉnh Bắc Ninh. Nó bắt nguồn từ những lối hát đối đáp nam nữ cổ đã có từ rất lâu đời.
Quan họ là hình thức ca hát dân gian đặc sắc trong kho tàng âm nhạc cổ truyền Việt Nam, gắn liền đời sống tinh thần người dân Kinh Bắc. Nó bao gồm nhiều yếu tố: nhạc, thơ, trang phục, lễ hội, nếp sống truyền thống.
Quan họ không chỉ là lối hát giao duyên (hát đối) giữa "liền anh"(người nam hát quan họ) và "liền chị"(người nữ hát quan họ) mà còn là hình thức trao đổi tình cảm giữa "liền anh, liền chị" với khán giả.
? Hát quan họ
Quan họ truyền thống tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh Bắc, là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc, qui định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ.
Quan họ truyền thống không có nhạc đệm, chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê.
Đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị gọi là hát bội, hát canh ; cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị gọi là hát chúc, hát mừng, hát thờ.
? Lối hát truyền thống
Hát bội
Hát chúc
?Quan họ mới còn được gọi là "hát quan họ", là hình thức biểu diễn quan họ chủ yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch.
? Quan họ mới luôn có thính giả, người hát trao đổi tình cảm với thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau.
? Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa minh họa.
? Lối hát quan họ mới
Đầu đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp.
Mặc áo dài năm thân, cổ đứng, lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối.
Bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài.
Chất liệu áo cánh thường là phin, sồi, lụa, diềm bâu, cát bá, trúc bâu,. Áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the,.
Quần dài trắng, ống rộng, may kiểu chân quêø dài tới mắt cá chân.
Chất liệu là diềm bâu, phin, trúc bâu, có thắc lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần.
Mặc" áo mớ ba mớ bảy" nghĩa là có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau hoặc bảy áo dài mặc lồng vào nhau.
Trong cùng là một chiếc yếm có màu rực rỡ thường làm bằng lụa truội nhuộm
Bên ngoài là một chiếc áo cánh màu trắng, vàng, ngà là những màu nhẹ nhàng.
Ngoài cùng là những lượt áo dài năm thân, cách phối màu cũng như ở trang phục nam nhưng màu sắc tươi hơn.
Áo dài năm thân nữ có cài khuy.
Chất liệu để may áo đẹp nhất thời trước là the, lụa.
Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi bài hát đều có giai điệu riêng. Cho đến nay, có ít nhất ba trăm bài (giai điệu) quan họ đã được kí âm (ghi âm bằng kí hiệu âm nhạc trên giấy).
TRÒ CHƠI Ô CHỮ
1
2
3
4
5
6
7
Quan họ truyền thống tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ ?
Trang phục của người nữ hát quan họ là "Áo . "?
Cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị gọi là ?
... là hình thức trao đổi tình cảm giữa "liền anh, liền chị"
Người nam hát quan họ là ?
Đặc điểm khác nhau của quan họ mới mà quan họ truyền thống không có?
Chất liệu để may áo dài người nam hát quan họ là ?
Đền Đô
Nhóm 2
Lớp 8a4
1. Hội Lim
2. Hội Đền Đô
3. Hội Gióng
Hội Lim được mở từ ngày 12 đến 14 tháng giêng Âm lịch hàng năm.
Ngày 13 là chính hội, thường được kéo dài trong khoảng thời gian 3-5 ngày (11/1 - 15/1 Âm lịch).
1. Hội Lim
Các đôi liền anh, liền chị hát đối quan họ
Thu hút nhiều thành phần, lứa tuổi từ khắp nơi về trẩy hội vui xuân.
Hát Quan họ trên đồi, trên thuyền, tại nhà.
Với nam thanh nữ tú thì hội là dịp tìm bạn, tìm duyêncòn riêng với người lớn tuổi thì đến hội là dịp tìm về tuổi xuân,
Đặc điểm:
Hát trong nhà
Gia đình được chỉ định tổ chức hát trong nhà được các liền anh liền chị quan họ đến giúp chuẩn bị và sửa soạn trầu cau trà nước và nhất là bữa cơm quan họ để đãi khách. . Chủ nhà được gọi là ông chứa hay bà chứa, một danh xưng rất được trọng vọng nể vì.
_Các liền chị với những tấm áo tứ thân sặc sỡ tay cầm nón quai thao đi thành từng nhóm. Các liền anh trang trọng với chiếc áo dài the đen, đầu đội khăn đống, tay cầm ô đen cũng có nhóm với nhau.
Hát ngoài đồi
_ Nhóm nam tìm nhóm nữ chưa có bạn và mời họ ăn trầu. Nếu họ nhận trầu tức là nhận lời hát. Tục này gọi là quan họ nghĩa.
Cách chơi: treo một chiếc niêu đất lên và nhiệm vụ của người chơi là phải đập vỡ nó với một chiếc gậy.
Phải bịt mắt, đứng cách xa chiếc niêu vài mét trước khi tiến lại gần để đập vỡ niêu. Cái khó của người chơi chính là bị bịt mắt và không xác định được đúng vị trí treo chiếc niêu.
Cô gái đang trổ tài với
trò đập niêu đất
_Những con rối biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây...
_Múa rối nước xuất hiện từ đời Lý, vào khoảng thế kỷ 11, đầu thế kỷ 12.
_Dùng mặt nước làm sân khấu , có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, ...
Tổ chức vào ngày 20/4 ở đền Đô (xã Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh), nơi thờ 8 vị vua nhà Lý, kỷ niệm 998 năm vua Lý Công Uẩn lên ngôi.
2. Hội Đền Đô
Ngày chính hội 15/3, đoàn rước khởi hành từ chùa Cổ Pháp (gọi là chùa Dận), nơi sinh Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ).
Ba ông Thế Tướng đóng khố cởi trần hùng dũng tiến về đền Đô
Nổi trống khai hội.
Đền Đô
_Đền Lý Bát Đế còn gọi là Đền Đô hoặc Cổ Pháp điện là nơi thờ tám vị vua đầu tiên của nhà Lý.
_Kiến trúc tín ngưỡng được bảo tồn khá trọn vẹn, nơi tưởng niệm và phụng thờ của toàn dân đối với các vị vua nhà Lý
_Đá gà là trò chơi dân gian mang đậm nét văn hóa truyền thống bắt đầu từ tháng Chạp đến tháng Tư âm lịch.
_Nhiều địa phương đã tổ chức đá gà như một ngày hội.
Hội Gióng
_Diễn ra từ mùng 6 đến 12 tháng Tư âm lịch truyền thống
Hiện nay thường là từ mùng 6, mùng 7 đến mùng 10
_ Nghi thức tái hiện lại chiến công của Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân theo truyền thuyết.
Cám ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe
Một số kiến trúc tiêu biểu
Chùa Bút Tháp
Chùa Dâu
Chùa Bút Tháp
- Toạ lạc ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Được xây từ năm 187 đến 226 hoàn thành
Xây theo lối :"Nội Công Ngoại Quốc". Gồm ba phần: Tiền Đường, Thiêu Hương, Thượng Điện, ngoài ra còn Hậu Đường, nhưng ngày nay không còn.
- Có tượng Mạc Đĩnh Chi, tháp Hoà Phong, .
Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
- Nằm ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Chùa có tên gọi khác là chùa Nhạn Pháp.
CHÙA BÚT THÁP
- Chùa xây "Nội Công Ngoại Quốc". Gồm ba phần Tiền Đường, Thiêu Hương, Thượng Điện tạo thành chữ Công.
- Chùa có tượng Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay, tượng Tây Thiên Đông Bộ, tượng Quan Âm Thị Kính, tượng Kim Đồng-Ngọc Nữ,.
Tượng quan âm
Nghìn mắt, nghìn tay
-Tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay có kích thước : cao 3,7m, có 11 đầu, 42 bàn tay lớn và 958 tay nhỏ.
Điều kỳ lạ là mỗi bàn tay có một mắt, nhịp điệu mỗi cánh tay không giống nhau. Tượng được đặt trên toà sen Rồng đội, đằng sau là vầng hào quang toả sáng, bên dưới là các hình trang trí sóng nước sống động như một thuỷ cung.
- Là một ngôi chùa nằm ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ,có tên gọi khác là chùa Vạn Phúc
- Chùa được khởi công xây dựng vào năm Thái Bình thứ 4(1057), với nhiều toà ngang dãy dọc.
- Chùa có kiến trúc là gồm 3 bậc nền bạc vào sườn núi
- Chùa có tượng phật A-di-đà bằng ngọc thạch, 10 tượng thú bằng đá cao,.
Tượng sư trụ trì
TƯỢNG PHẬT A-DI-ĐÀ
Tượng phật A-di-đà được tạc bằng đá xanh nguyên khối, ngồi thiền định trên toà sen, cao 1,87mét, bệ tượng cao 0,9 mét, và được chạm tinh xảo và mềm mại.
Bệ đá hình hoa sen cao 0,9 mét có chu vi 5,92 mét được chia làm 2 phần: Phần trên chạm khắc trang trí hình rồng. Đài sen, với hai lớp cánh sen, mỗi lớp 15 cánh xoè nở rộng, có chạm hình rồng, mây uyển chuyển.
- Nằm núi Dạm , tỉnh Bắc Ninh.
- Dấu tích chùa khẳng định chùa là một danh lam thời Lý. ( Vua Lý Nhân Tông 1072- 1127).
- Chùa Dạm còn nổi tiếng bởi những tác phẩm điêu khắc tài ba, bao gồm tư tưởng thâm thuý cao siêu của người Việt.
- Kiến trúc sư và các nhà điêu khắc đã khéo tổ chức không gi`an hợp lý để nhân gấp bội giá trị vẻ đẹp công trình.
_Là một ngôi đền ở làng Cổ Mể.
_Bà Chúa Kho không ai biết nguồn gốc của bà, nhưng hình ảnh của bà được truyền tụng trong dân gian.
MÁI ĐÌNH CHÙA
Hình rồng
Thể hiện trí tưởng tuợng bay bổng của người dân.
Hình ngựa
Thể hiện sinh họat đời thường trong dân gian
Hình ngựa
Hình voi
Hình hổ
Hình chim Phượng
Một số hình điêu khắc độc đáo, đường nét tinh xảo, mang tính nghệ thuật cao
a) Chùa Bút Tháp
b) Chùa Dâu
c) Chùa Phật Tích
d) Chùa Dạm
Đây là hình ảnh của ngôi chùa gì:
a) Chùa Bút Tháp
b)Tượng quan âm nghìn mắt, nghìn tay
a)Tượng thờ sư trụ trì
c)Tượng 12 con giáp
Một tượng thờ nổi tiếng ở chùa Bút Tháp
b)Tượng quan âm nghìn mắt, nghìn tay
b)Chùa Vạn Phúc
a)Chùa Quan Âm
c)Chùa Nhạn Pháp
Tên gọi khác của chùa Phật Tích
b)Chùa Vạn Phúc
c)Chùa Nhạn Pháp
a)Chùa Dâu
b)Chùa Nhạn Phúc
Tên gọi khác của chùa Bút Tháp
c)Chùa Nhạn Pháp
Dự án của lớp 8a4 đến đây là kết thúc.
Xin chân thành cám ơn quí thầy cô và các bạn đã quan tâm theo dõi.
 







Các ý kiến mới nhất