Tuần 8. Việt Bắc (trích)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Đăng Lộc
Ngày gửi: 22h:30' 06-10-2022
Dung lượng: 20.4 MB
Số lượt tải: 671
Nguồn:
Người gửi: Trần Đăng Lộc
Ngày gửi: 22h:30' 06-10-2022
Dung lượng: 20.4 MB
Số lượt tải: 671
Số lượt thích:
0 người
Trường:
Tổ:
Họ và tên GV:
Ngày tháng năm 2022
Tiết 26, 27, 28
VIỆT BẮC
(Trích) - Tố Hữu
Phần hai: Tác phẩm
A. Mục tiêu/Yêu cầu cần đạt
1. Về năng lực
+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.
+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong văn bản.
+ Năng lực đọc – hiểu thơ hiện đại Việt Nam theo đặc điểm thể loại.
+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.
+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.
2. Về phẩm chất
- Biết nhận thức được ý nghĩa của thơ ca về chủ đề Đất nước
- Biết trân quý những giá trị văn hóa truyền thống mà thơ ca kháng chiến đem lại
Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong thơ ca kháng chiến .
- Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, trân trọng và yêu mến văn hóa văn học dân gian của dân tộc.
B. Thiết bị dạy học và học liệu
1. Chuẩn bị của giáo viên
- Giáo án; Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi
- Chân dung nhà thơ Tố Hữu, Hình ảnh về Việt Bắc.
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà
2. Chuẩn bị của học sinh
- Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài
- Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiết trước)
- Đồ dùng học tập
C. Tiến trình dạy học
I. Tiểu dẫn:
1. Hoàn cảnh sáng tác:
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định
Giơ-ne-vơ được kí kết. Hòa bình lập lại ở miền
Bắc.
- Tháng 10 - 1954, các cơ quan trung ương
của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt
Bắc về lại thủ đô Hà Nội để tiếp tục lãnh đạo
cách mạng.
- Nhân sự kiện thời sự trọng đại này, Tố Hữu viết bài
thơ "Việt Bắc" để thể hiện tình nghĩa sâu nặng của
những người cán bộ, chiến sĩ về xuôi với quê hương
cách mạng.
2. Kết cấu chung của bài thơ:
- Toàn bộ bài thơ gồm 150 câu thơ lục bát và
được chia làm hai phần:
+ 90 câu đầu:
Tình cảm thủy chung son sắt của những người
cán bộ về xuôi với quê hương cách mạng thông
qua nỗi nhớ da diết.
+ 60 câu sau:
Sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi và
ước mơ về một Việt Bắc sẽ được xây dựng trong
tương lai.
- Bài thơ được viết theo kiểu đối đáp nam - nữ,
phỏng theo lối hát giao duyên của dân ca.
"Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ"
Hát giao duyên
3. Vị trí đoạn trích:
Thuộc 90 câu đầu của bài thơ.
-Chủ
-
đề: Cảm hứng chủ đạo là nỗi nhớ da diết
Bố cục: 2 phần
+ Phần 1 ( 20 dòng đầu): Cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa
người về xuôi với người Việt Bắc
+ Phần 2( Còn lại): Nỗi nhớ mênh mang của người về xuôi
với núi rừng, con người Việt Bắc, nhớ cuộc kháng chiến
gian khổ mà hào hùng
II. Đọc - hiểu văn bản :
1. 20 dòng đầu: Cuộc chia tay đầy lưu luyến
a. Nỗi niềm của người ở lại:
- Đoạn thơ đầu là 2 câu hỏi của người ở lại:
“Mình về, ….
… nhớ nguồn”
+ Kiểu xưng hô mình – ta : ngọt ngào, đầy yêu
thương.
+ Điệp ngữ: “Mình về, mình có nhớ…”: âm điệu
ray rứt, băn khoăn.
+ “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”:
Đây là cuộc chia tay của những người đã từng gắn bó suốt "mười
lăm năm" (1940 – 1954)
một chặng đường dài với biết bao kỉ niệm ân tình, cùng sẻ chia mọi
cay đắng ngọt bùi.
-Nhìn:
Cây nhớ núi, Sông nhớ nguồn -> Đây là cặp
hình ảnh gắn liền nhau không thể tách rời
=> Chỉ tình cảm keo sơn gắn bó, thuỷ chung son
sắt giữa người Việt Bắc với người về xuôi
- Những hình ảnh “cây – núi, sông – nguồn”:
tiêu biểu cho núi rừng Việt Bắc – cái nôi của cách
mạng, nuôi dưỡng người cán bộ.
- Đoạn thơ với nhiều câu hỏi liên tiếp:
“Mình đi, có nhớ…, Mình về, có nhớ…, Mình về, còn
nhớ…, Mình đi, mình có nhớ…”
là cảm xúc dâng trào, diễn tả nỗi niềm day dứt khôn
nguôi của người ở lại.
=> Tình cảm chân thành, sâu sắc của đồng bào Việt
Bắc.
b. Tình cảm của người ra đi:
-Lời
của người ra đi:
Câu 1 lá câu hỏi tu từ -> với đại từ phiếm chỉ “ai”: Gợi
tình cảm thân thương, gắn bó bao kỉ niệm xao xuyến trong
lòng
-
“Tiếng ai …
… hôm nay”
+ Các từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”:
gợi tả chính xác không khí và tâm trạng lúc chia tay: Vừa lưu
luyến nhớ thương, vừa mong ngóng nôn nao
+ Hình ảnh “áo chàm”:
hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc – những con người giản dị mà
nghĩa tình chân thành.
+ “Cầm
tay nhau biết nói gì hôm nay”…
. dấu chấm lửng cuối câu, nhịp thơ ngắt quãng, ngập
ngừng nỗi niềm đầy xúc động, bâng khuâng.
. “biết nói gì”: là không phải không có gì để nói, mà
vì quá xúc động nên nghẹn ngào không nói được thành
lời.
c. Người Việt Bắc khơi gợi những kỉ niệm kháng chiến:
-Gợi
lại những ngày đầu của cuộc kháng chiến nơi núi rừng
hoang sơ, hùng vĩ
+ Mưa nguồn, suối lũ, mây mù -> thiên nhiên, thời tiết
khắc nghiệt
+ Cơm chấm muối -> gian khổ, khó khăn
+ Mối thù nặng vai -> ý chí, lòng căm thù
+ Rừng núi nhớ -> Trám bùi rụng, măng mai già=> Nghệ
thuật nhân hoá làm cho nỗi nhớ lan toả vào không gian, cỏ
cây.
+ Nhớ con người Việt Bắc gian khó -> nhưng đậm
lòng son
+ Nhớ về thời kì kháng chiến: kháng Nhật
+ Nhớ từng địa danh cụ thể của núi rừng Việt Bắc:
Tân Trào, Hồng Thái…
=> Tóm lại 20 câu đầu thể hiện tình cảm lưu luyến,
bịn rịn và tình cảm ấm nồng, thiết tha của người
Việt Bắc với người về xuôi
2. (Phần còn lại): Nỗi nhớ mênh mang của
người về xuôi
+ Dùng cặp đại từ “mình – ta” và những
hình ảnh so sánh quen thuộc:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình laị nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”
Người về xuôi khẳng định tấm lòng thủy chung
son sắt với người ở lại -> không bao giờ thay đổi.
b. Cấu tứ - lối đối đáp:
- Hình thức đối đáp:
+ Tác giả dùng lối đối đáp, xưng hô mình – ta thường
thấy trong ca dao để thể hiện tình cảm cách mạng.
- Cả lời hỏi và đáp đều triền miên trong nỗi nhớ
và mở ra bao nhiêu kỷ niệm, bao nỗi nhớ niềm
thương:
-Nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc:
-Ví
nỗi nhớ như nhớ trong tình yêu: cháy bỏng,
cồn cào, thường trực
+ Nỗi nhớ gắn liền với không gian, thời gian, địa điểm khác
nhau: Rừng nứa, bờ tre, Ngòi Thia Sông Đáy….
+ Nỗi nhớ gắn với hình ảnh người dân Việt Bắc: tần tảo, lam
lũ, chịu thương, chịu khó và sống rất nghĩa tình
+ Nỗi nhớ gắn với âm thanh quen thuộc cuả núi rừng Việt
Bắc: tiếng mõ, tiếng chày…
=> Những câu thơ rất bình dị, đời thường đã gợi lên được
những nét đặc trưng của núi rừng Việt Bắc
- Đối đáp – đối thoại cũng là độc thoại:
Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên
trong là lời độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư
của nhà thơ, của những người tham gia
kháng chiến.
=> Chuyện ân tình cách mạng được khéo
léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu
đôi lứa.
c.Vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên và cuộc sống con
người Việt Bắc qua hồi tưởng của người cán bộ
về xuôi:
* Thiên nhiên:
- Đoạn thơ là hồi ức về những kỉ niệm đẹp: điệp từ
“nhớ”, “nhớ sao”, “nhớ gì”… xuyên suốt.
- Cảnh núi rừng Việt Bắc:
Hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng
không gian và thời gian khác nhau; có những nét
riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác:
“Nhớ gì …… vơi đầy”.
+ Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người
yêu”
nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.
+ Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu như liệt kê ra từng
nỗi nhớ cụ thể:
. Nhớ ánh nắng ban chiều,
. Ánh trăng buổi tối, không
gian gợi cảm nên thơ
. Những bản làng ẩn
hiện trong sương
sớm
. Những ánh lửa hồng
trong đêm khuya,
. Những tên núi, tên rừng, tên sông suối, nương rẫy
quen thuộc thân yêu
Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu
quạnh mà thơ mộng, ấm áp.
* Con người:
Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện
lên với những phẩm chất cao đẹp:
- Họ gắn bó với cách mạng cùng “mối thù
nặng vai”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi với
cách mạng:
“Ta đi ta nhớ … … đắp cùng”
- Tuy họ nghèo về vật chất
nhưng “đậm đà lòng son",
giàu về tình nghĩa:
“Nhớ người mẹ … …
bắp ngô”
- Họ lạc quan yêu đời, gắn bó cùng kháng
chiến dù còn nhiều gian khổ, thiếu thốn:
“Nhớ sao……núi đèo”
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả,
bình dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa:
“Nhớ sao tiếng mõ……suối xa”
=> Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng
cần cù, thủy chung và sâu nặng ân tình.
d. Bộ tranh tứ bình: Cảnh thiên nhiên và con
người hòa quyện thắm thiết:
Đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà
quyện thắm thiết giữa cảnh và người:
“Ta về… thuỷ chung”.
- Hai câu đầu đoạn thơ, tác giả giới thiệu
chung về cảm xúc:
+ Câu hỏi tu từ "Ta về mình có nhớ ta?"
là cái cớ để người ra đi bày tỏ tấm lòng mình:
"Ta về … cùng người"
+ Hình ảnh "hoa cùng người"
gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con
người trong bức tranh quê hương Việt Bắc.
- Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương
Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
+ Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp
độc đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả cảnh, câu bát tả
người.
+ Thiên nhiên Việt Bắc: được miêu tả diễn biến
theo bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc trưng riêng, tạo nên
một bức tranh tứ bình rất đẹp
Vào mùa đông: “Rừng xanh …
thắt lưng”
. Trên cái nền xanh bạt ngàn
của núi rừng Việt Bắc, xuất hiện
những hoa chuối "đỏ tươi" như
những ngọn lửa thắp sáng rừng
xanh.
Sự đối chọi hai màu xanh– đỏ
làm xua tan đi cái lạnh lẽo của
mùa đông vùng cao.
. Hình ảnh "dao gài thắt
lưng" phản quang "ánh
nắng"
rất gợi cảm, tạo thành
điểm sáng khiến con
người trở nên nổi bật, trở
thành trung tâm của bức
tranh:dáng vẻ hiên ngang,
kiêu hùng
o Mùa xuân: “Ngày xuân …
sợi giang”
. Nhớ Việt Bắc ngày xuân là
nhớ đến hoa mơ "nở trắng
rừng"
Chữ "trắng": gợi lên
một sắc trắng tinh khiết,
mênh mang, một thế giới
hoa mơ bao phủ sức
xuân ngập tràn đất trời núi
rừng Việt Bắc.
Mùa xuân trong sáng,
tinh khôi và đầy sức sống.
. Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên
nhẫn, tỉ mỉ của con người Việt Bắc.
o Mùa hạ: “Ve kêu ....
một mình”
. Nhớ Việt Bắc mùa hè:
là nhớ tiếng ve râm ran
làm nên khúc nhạc rừng
sôi động, nhớ màu vàng
của
“rừng phách đổ
vàng”
Với từ "đổ", biểu thị
sự chuyển màu đồng
loạt
người đọc có cảm
giác dường như tiếng ve
đã thúc giục ngày hè trôi
nhanh, làm cho rừng
phách thêm vàng.
. Hình ảnh cô thiếu nữ
đi "hái măng một mình"
giữa rừng vầu, rừng nứa,
rừng trúc: không hề lẻ loi,
cô đơn mà chịu khó tận
tụy với công việc.
o Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
“Rừng thu…
…thủy chung”
. Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa
rừng thu. Trăng "rọi" qua tán lá
rừng xanh, trăng thanh mát rượi
gợi lên cảnh sống yên ả, "hoà
bình”, nên thơ.
. Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ ca
hát về mối ân tình thuỷ chung với cách mạng.
=> Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật vẻ
đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người:
+ Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt
Bắc: bình dị, chịu thương chịu khó, đầy nghĩa tình.
+ Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của
mình, những con người Việt Bắc đã góp phần tạo nên
sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.
3. Hồi tưởng của người ra đi về khung
cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến
đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng
và kháng chiến:
a. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc
trong chiến đấu:
- Việt Bắc từng khắc ghi những kỉ niệm về
những cuộc hành quân ra trận thật hùng vĩ của
bộ đội và nhân dân:
“Những đường Việt Bắc của ta
…
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”.
. Từ láy tượng thanh "rầm rập":
diễn tả tiếng bước chân mạnh mẽ của cuộc
hành quân, gợi lên nhịp độ khẩn trương, gấp
gáp của số lượng người đông đảo cùng hành
quân tạo thành một sức mạnh tổng hợp làm
rung chuyển mặt đất.
. Hình ảnh so sánh, cường điệu:
"Đêm đêm rầm rập như là đất rung"
nêu bật sức mạnh đại đoàn kết của quân dân
ta, chung sức chung lòng đưa cuộc kháng chiến
đến thắng lợi..
+ Hình ảnh bộ đội ta hành quân ra trận:
"Quân đi … … mũ nan"
. Từ láy "điệp điệp trùng
trùng":
khắc họa đoàn quân
đông đảo bước đi mạnh
mẽ như những đợt sóng
dâng trào, tưởng chừng
như kéo dài đến vô tận.
. Hình ảnh vừa hiện thực vừa ẩn dụ: "ánh sao đầu súng"
ánh sao trong đêm tối sáng ngời đầu mũi súng, ánh sao
của lí tưởng dẫn đường cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ
thù xâm lược
thể hiện niềm tin lạc quan chiến thắng trong tâm hồn
người lính ra trận.
+ Cùng hành quân với bộ đội là những đoàn dân
công phục vụ chiến đấu: "Dân công …lửa bay"
Tổ:
Họ và tên GV:
Ngày tháng năm 2022
Tiết 26, 27, 28
VIỆT BẮC
(Trích) - Tố Hữu
Phần hai: Tác phẩm
A. Mục tiêu/Yêu cầu cần đạt
1. Về năng lực
+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.
+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong văn bản.
+ Năng lực đọc – hiểu thơ hiện đại Việt Nam theo đặc điểm thể loại.
+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.
+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.
2. Về phẩm chất
- Biết nhận thức được ý nghĩa của thơ ca về chủ đề Đất nước
- Biết trân quý những giá trị văn hóa truyền thống mà thơ ca kháng chiến đem lại
Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong thơ ca kháng chiến .
- Bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, trân trọng và yêu mến văn hóa văn học dân gian của dân tộc.
B. Thiết bị dạy học và học liệu
1. Chuẩn bị của giáo viên
- Giáo án; Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi
- Chân dung nhà thơ Tố Hữu, Hình ảnh về Việt Bắc.
- Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà
2. Chuẩn bị của học sinh
- Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài
- Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ tiết trước)
- Đồ dùng học tập
C. Tiến trình dạy học
I. Tiểu dẫn:
1. Hoàn cảnh sáng tác:
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định
Giơ-ne-vơ được kí kết. Hòa bình lập lại ở miền
Bắc.
- Tháng 10 - 1954, các cơ quan trung ương
của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt
Bắc về lại thủ đô Hà Nội để tiếp tục lãnh đạo
cách mạng.
- Nhân sự kiện thời sự trọng đại này, Tố Hữu viết bài
thơ "Việt Bắc" để thể hiện tình nghĩa sâu nặng của
những người cán bộ, chiến sĩ về xuôi với quê hương
cách mạng.
2. Kết cấu chung của bài thơ:
- Toàn bộ bài thơ gồm 150 câu thơ lục bát và
được chia làm hai phần:
+ 90 câu đầu:
Tình cảm thủy chung son sắt của những người
cán bộ về xuôi với quê hương cách mạng thông
qua nỗi nhớ da diết.
+ 60 câu sau:
Sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi và
ước mơ về một Việt Bắc sẽ được xây dựng trong
tương lai.
- Bài thơ được viết theo kiểu đối đáp nam - nữ,
phỏng theo lối hát giao duyên của dân ca.
"Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ"
Hát giao duyên
3. Vị trí đoạn trích:
Thuộc 90 câu đầu của bài thơ.
-Chủ
-
đề: Cảm hứng chủ đạo là nỗi nhớ da diết
Bố cục: 2 phần
+ Phần 1 ( 20 dòng đầu): Cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa
người về xuôi với người Việt Bắc
+ Phần 2( Còn lại): Nỗi nhớ mênh mang của người về xuôi
với núi rừng, con người Việt Bắc, nhớ cuộc kháng chiến
gian khổ mà hào hùng
II. Đọc - hiểu văn bản :
1. 20 dòng đầu: Cuộc chia tay đầy lưu luyến
a. Nỗi niềm của người ở lại:
- Đoạn thơ đầu là 2 câu hỏi của người ở lại:
“Mình về, ….
… nhớ nguồn”
+ Kiểu xưng hô mình – ta : ngọt ngào, đầy yêu
thương.
+ Điệp ngữ: “Mình về, mình có nhớ…”: âm điệu
ray rứt, băn khoăn.
+ “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”:
Đây là cuộc chia tay của những người đã từng gắn bó suốt "mười
lăm năm" (1940 – 1954)
một chặng đường dài với biết bao kỉ niệm ân tình, cùng sẻ chia mọi
cay đắng ngọt bùi.
-Nhìn:
Cây nhớ núi, Sông nhớ nguồn -> Đây là cặp
hình ảnh gắn liền nhau không thể tách rời
=> Chỉ tình cảm keo sơn gắn bó, thuỷ chung son
sắt giữa người Việt Bắc với người về xuôi
- Những hình ảnh “cây – núi, sông – nguồn”:
tiêu biểu cho núi rừng Việt Bắc – cái nôi của cách
mạng, nuôi dưỡng người cán bộ.
- Đoạn thơ với nhiều câu hỏi liên tiếp:
“Mình đi, có nhớ…, Mình về, có nhớ…, Mình về, còn
nhớ…, Mình đi, mình có nhớ…”
là cảm xúc dâng trào, diễn tả nỗi niềm day dứt khôn
nguôi của người ở lại.
=> Tình cảm chân thành, sâu sắc của đồng bào Việt
Bắc.
b. Tình cảm của người ra đi:
-Lời
của người ra đi:
Câu 1 lá câu hỏi tu từ -> với đại từ phiếm chỉ “ai”: Gợi
tình cảm thân thương, gắn bó bao kỉ niệm xao xuyến trong
lòng
-
“Tiếng ai …
… hôm nay”
+ Các từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”:
gợi tả chính xác không khí và tâm trạng lúc chia tay: Vừa lưu
luyến nhớ thương, vừa mong ngóng nôn nao
+ Hình ảnh “áo chàm”:
hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc – những con người giản dị mà
nghĩa tình chân thành.
+ “Cầm
tay nhau biết nói gì hôm nay”…
. dấu chấm lửng cuối câu, nhịp thơ ngắt quãng, ngập
ngừng nỗi niềm đầy xúc động, bâng khuâng.
. “biết nói gì”: là không phải không có gì để nói, mà
vì quá xúc động nên nghẹn ngào không nói được thành
lời.
c. Người Việt Bắc khơi gợi những kỉ niệm kháng chiến:
-Gợi
lại những ngày đầu của cuộc kháng chiến nơi núi rừng
hoang sơ, hùng vĩ
+ Mưa nguồn, suối lũ, mây mù -> thiên nhiên, thời tiết
khắc nghiệt
+ Cơm chấm muối -> gian khổ, khó khăn
+ Mối thù nặng vai -> ý chí, lòng căm thù
+ Rừng núi nhớ -> Trám bùi rụng, măng mai già=> Nghệ
thuật nhân hoá làm cho nỗi nhớ lan toả vào không gian, cỏ
cây.
+ Nhớ con người Việt Bắc gian khó -> nhưng đậm
lòng son
+ Nhớ về thời kì kháng chiến: kháng Nhật
+ Nhớ từng địa danh cụ thể của núi rừng Việt Bắc:
Tân Trào, Hồng Thái…
=> Tóm lại 20 câu đầu thể hiện tình cảm lưu luyến,
bịn rịn và tình cảm ấm nồng, thiết tha của người
Việt Bắc với người về xuôi
2. (Phần còn lại): Nỗi nhớ mênh mang của
người về xuôi
+ Dùng cặp đại từ “mình – ta” và những
hình ảnh so sánh quen thuộc:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình laị nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”
Người về xuôi khẳng định tấm lòng thủy chung
son sắt với người ở lại -> không bao giờ thay đổi.
b. Cấu tứ - lối đối đáp:
- Hình thức đối đáp:
+ Tác giả dùng lối đối đáp, xưng hô mình – ta thường
thấy trong ca dao để thể hiện tình cảm cách mạng.
- Cả lời hỏi và đáp đều triền miên trong nỗi nhớ
và mở ra bao nhiêu kỷ niệm, bao nỗi nhớ niềm
thương:
-Nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc:
-Ví
nỗi nhớ như nhớ trong tình yêu: cháy bỏng,
cồn cào, thường trực
+ Nỗi nhớ gắn liền với không gian, thời gian, địa điểm khác
nhau: Rừng nứa, bờ tre, Ngòi Thia Sông Đáy….
+ Nỗi nhớ gắn với hình ảnh người dân Việt Bắc: tần tảo, lam
lũ, chịu thương, chịu khó và sống rất nghĩa tình
+ Nỗi nhớ gắn với âm thanh quen thuộc cuả núi rừng Việt
Bắc: tiếng mõ, tiếng chày…
=> Những câu thơ rất bình dị, đời thường đã gợi lên được
những nét đặc trưng của núi rừng Việt Bắc
- Đối đáp – đối thoại cũng là độc thoại:
Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên
trong là lời độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư
của nhà thơ, của những người tham gia
kháng chiến.
=> Chuyện ân tình cách mạng được khéo
léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu
đôi lứa.
c.Vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên và cuộc sống con
người Việt Bắc qua hồi tưởng của người cán bộ
về xuôi:
* Thiên nhiên:
- Đoạn thơ là hồi ức về những kỉ niệm đẹp: điệp từ
“nhớ”, “nhớ sao”, “nhớ gì”… xuyên suốt.
- Cảnh núi rừng Việt Bắc:
Hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng
không gian và thời gian khác nhau; có những nét
riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác:
“Nhớ gì …… vơi đầy”.
+ Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người
yêu”
nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.
+ Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu như liệt kê ra từng
nỗi nhớ cụ thể:
. Nhớ ánh nắng ban chiều,
. Ánh trăng buổi tối, không
gian gợi cảm nên thơ
. Những bản làng ẩn
hiện trong sương
sớm
. Những ánh lửa hồng
trong đêm khuya,
. Những tên núi, tên rừng, tên sông suối, nương rẫy
quen thuộc thân yêu
Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu
quạnh mà thơ mộng, ấm áp.
* Con người:
Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện
lên với những phẩm chất cao đẹp:
- Họ gắn bó với cách mạng cùng “mối thù
nặng vai”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi với
cách mạng:
“Ta đi ta nhớ … … đắp cùng”
- Tuy họ nghèo về vật chất
nhưng “đậm đà lòng son",
giàu về tình nghĩa:
“Nhớ người mẹ … …
bắp ngô”
- Họ lạc quan yêu đời, gắn bó cùng kháng
chiến dù còn nhiều gian khổ, thiếu thốn:
“Nhớ sao……núi đèo”
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả,
bình dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa:
“Nhớ sao tiếng mõ……suối xa”
=> Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng
cần cù, thủy chung và sâu nặng ân tình.
d. Bộ tranh tứ bình: Cảnh thiên nhiên và con
người hòa quyện thắm thiết:
Đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà
quyện thắm thiết giữa cảnh và người:
“Ta về… thuỷ chung”.
- Hai câu đầu đoạn thơ, tác giả giới thiệu
chung về cảm xúc:
+ Câu hỏi tu từ "Ta về mình có nhớ ta?"
là cái cớ để người ra đi bày tỏ tấm lòng mình:
"Ta về … cùng người"
+ Hình ảnh "hoa cùng người"
gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con
người trong bức tranh quê hương Việt Bắc.
- Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương
Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
+ Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp
độc đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả cảnh, câu bát tả
người.
+ Thiên nhiên Việt Bắc: được miêu tả diễn biến
theo bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc trưng riêng, tạo nên
một bức tranh tứ bình rất đẹp
Vào mùa đông: “Rừng xanh …
thắt lưng”
. Trên cái nền xanh bạt ngàn
của núi rừng Việt Bắc, xuất hiện
những hoa chuối "đỏ tươi" như
những ngọn lửa thắp sáng rừng
xanh.
Sự đối chọi hai màu xanh– đỏ
làm xua tan đi cái lạnh lẽo của
mùa đông vùng cao.
. Hình ảnh "dao gài thắt
lưng" phản quang "ánh
nắng"
rất gợi cảm, tạo thành
điểm sáng khiến con
người trở nên nổi bật, trở
thành trung tâm của bức
tranh:dáng vẻ hiên ngang,
kiêu hùng
o Mùa xuân: “Ngày xuân …
sợi giang”
. Nhớ Việt Bắc ngày xuân là
nhớ đến hoa mơ "nở trắng
rừng"
Chữ "trắng": gợi lên
một sắc trắng tinh khiết,
mênh mang, một thế giới
hoa mơ bao phủ sức
xuân ngập tràn đất trời núi
rừng Việt Bắc.
Mùa xuân trong sáng,
tinh khôi và đầy sức sống.
. Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên
nhẫn, tỉ mỉ của con người Việt Bắc.
o Mùa hạ: “Ve kêu ....
một mình”
. Nhớ Việt Bắc mùa hè:
là nhớ tiếng ve râm ran
làm nên khúc nhạc rừng
sôi động, nhớ màu vàng
của
“rừng phách đổ
vàng”
Với từ "đổ", biểu thị
sự chuyển màu đồng
loạt
người đọc có cảm
giác dường như tiếng ve
đã thúc giục ngày hè trôi
nhanh, làm cho rừng
phách thêm vàng.
. Hình ảnh cô thiếu nữ
đi "hái măng một mình"
giữa rừng vầu, rừng nứa,
rừng trúc: không hề lẻ loi,
cô đơn mà chịu khó tận
tụy với công việc.
o Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
“Rừng thu…
…thủy chung”
. Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa
rừng thu. Trăng "rọi" qua tán lá
rừng xanh, trăng thanh mát rượi
gợi lên cảnh sống yên ả, "hoà
bình”, nên thơ.
. Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ ca
hát về mối ân tình thuỷ chung với cách mạng.
=> Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật vẻ
đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người:
+ Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt
Bắc: bình dị, chịu thương chịu khó, đầy nghĩa tình.
+ Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của
mình, những con người Việt Bắc đã góp phần tạo nên
sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.
3. Hồi tưởng của người ra đi về khung
cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến
đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng
và kháng chiến:
a. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc
trong chiến đấu:
- Việt Bắc từng khắc ghi những kỉ niệm về
những cuộc hành quân ra trận thật hùng vĩ của
bộ đội và nhân dân:
“Những đường Việt Bắc của ta
…
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”.
. Từ láy tượng thanh "rầm rập":
diễn tả tiếng bước chân mạnh mẽ của cuộc
hành quân, gợi lên nhịp độ khẩn trương, gấp
gáp của số lượng người đông đảo cùng hành
quân tạo thành một sức mạnh tổng hợp làm
rung chuyển mặt đất.
. Hình ảnh so sánh, cường điệu:
"Đêm đêm rầm rập như là đất rung"
nêu bật sức mạnh đại đoàn kết của quân dân
ta, chung sức chung lòng đưa cuộc kháng chiến
đến thắng lợi..
+ Hình ảnh bộ đội ta hành quân ra trận:
"Quân đi … … mũ nan"
. Từ láy "điệp điệp trùng
trùng":
khắc họa đoàn quân
đông đảo bước đi mạnh
mẽ như những đợt sóng
dâng trào, tưởng chừng
như kéo dài đến vô tận.
. Hình ảnh vừa hiện thực vừa ẩn dụ: "ánh sao đầu súng"
ánh sao trong đêm tối sáng ngời đầu mũi súng, ánh sao
của lí tưởng dẫn đường cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ
thù xâm lược
thể hiện niềm tin lạc quan chiến thắng trong tâm hồn
người lính ra trận.
+ Cùng hành quân với bộ đội là những đoàn dân
công phục vụ chiến đấu: "Dân công …lửa bay"
 







Các ý kiến mới nhất