Tìm kiếm theo tiêu đề

Tin tức cộng đồng

5 điều đơn giản cha mẹ nên làm mỗi ngày để con hạnh phúc hơn

Tìm kiếm hạnh phúc là một nhu cầu lớn và xuất hiện xuyên suốt cuộc đời mỗi con người. Tác giả người Mỹ Stephanie Harrison đã dành ra hơn 10 năm để nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, bà đã hệ thống các kiến thức ấy trong cuốn New Happy. Bà Harrison khẳng định có những thói quen đơn...
Xem tiếp

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 0919 124 899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 8. Việt Bắc (trích)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Lụa
Ngày gửi: 13h:24' 09-02-2023
Dung lượng: 20.3 MB
Số lượt tải: 442
Số lượt thích: 1 người (đôr minh thư)
Tiết 19-21: Văn

VIỆT BẮC

(TRÍCH – TỐ HỮU)
Giáo viên: Phạm Thị Lụa

I. Tìm hiểu chung:
1. Hoàn cảnh sáng tác:

- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-nevơ được kí kết. Hòa bình lập lại ở miền Bắc.
- Tháng 10 - 1954, các cơ quan trung ương của
Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ
đô Hà Nội để tiếp tục lãnh đạo cách mạng.

- Nhân sự kiện thời sự trọng đại này, Tố Hữu viết bài
thơ "Việt Bắc" để thể hiện tình nghĩa sâu nặng của
những người cán bộ, chiến sĩ về xuôi với quê hương
cách mạng.

2. Kết cấu chung của bài thơ:
- Toàn bộ bài thơ gồm 150 câu thơ lục bát
và được chia làm hai phần:
+ 90 câu đầu:
Tình cảm thủy chung son sắt của những
người cán bộ về xuôi với quê hương cách
mạng thông qua nỗi nhớ da diết.
+ 60 câu sau:
Sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi
và ước mơ về một Việt Bắc sẽ được xây
dựng trong tương lai.

- Bài thơ được viết theo kiểu đối đáp nam - nữ,
phỏng theo lối hát giao duyên của dân ca.

"Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ"
Hát giao duyên

3. Vị trí đoạn trích:
Thuộc 90 câu đầu của bài thơ.

II. Đọc - hiểu văn bản :
1. Nỗi niềm của kẻ ở và người đi (Đoạn 1, 2,4)
a. Nỗi niềm của người ở lại:
“Mình về, ….
… nhớ nguồn”
-Bốn câu thơ đầu là lời ướm hỏi của người ở lại, khơi gợi kỉ
niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội nghĩa
tình, thể hiện tâm trạng nhớ thương, tình cảm gắn bó, thủy chung
của quê hương Việt Bắc, con người Việt Bắc dành cho người về
xuôi.Cách xưng hô “mình – ta,” lối đối đáp giao duyên: thân mật
gần gũi như trong ca dao. Điệp từ “nhớ” thể hiện nỗi nhớ da diết,
sâu nặng. Điệp cấu trúc “mình về mình có nhớ” : lời ướm hỏi,
khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn
nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.

- “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”:
 15 năm -Một chặng đường dài với biết bao kỉ niệm ân tình,
cùng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi. Bốn từ “thiết tha mặn nồng”
cho thấy tình cảm giữa Việt Bắc và cán bộ thật thủy chung sâu
nặng, keo sơn bền chặt

- Câu hỏi tu từ, những hình ảnh liệt kê, tiểu đối “cây – núi,
sông – nguồn”: tiêu biểu cho núi rừng Việt Bắc. TH vận dụng
linh hoạt và tài tình câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. Qua
đó nhà thơ cũng nhắc nhớ các thế hệ con cháu phải biết hướng
về gốc gác, về nơi bén rễ, về cái nôi cho ta hình hài, cái nôi của
cách mạng, nuôi dưỡng người cán bộ).

Tóm lại: Đoạn thơ với nhiều câu hỏi liên tiếp:
“Mình đi, có nhớ…, Mình về, có nhớ…, Mình về, còn
nhớ…, Mình đi, mình có nhớ…”
 Là cảm xúc dâng trào, diễn tả nỗi niềm day dứt
khôn nguôi của người ở lại.
=> Tình cảm chân thành, sâu sắc của đồng bào
Việt Bắc.)

b. Tình cảm của người ra đi:

-Bốn câu thơ là tiếng lòng của người cán bộ cách mạng về
xuôi: tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn đầy lưu luyến, bịn rịn
của người kháng chiến đối với cảnh và người Việt Bắc.
+ Các từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”:
gợi tả chính xác không khí và tâm trạng lúc chia tay.
+ Hình ảnh “áo chàm”:
Hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc – những con người giản dị mà
nghĩa tình chân thành.
+ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”:
Dấu chấm lửng cuối câu, nhịp thơ ngắt quãng, ngập ngừng .
“Biết nói gì”: là không phải không có gì để nói, mà vì quá xúc động
nên nghẹn ngào không nói được thành lời.  Nỗi niềm đầy xúc
động, bâng khuâng.
Cử chỉ “cầm tay nhau” thay lời nói chứa đầy cảm xúc. Không khí
buổi chia tay thân tình, gần gũi, bịn rịn không muốn chia xa.

*Đoạn 4- Dùng cặp đại từ “mình – ta” và
những hình ảnh so sánh quen thuộc:
“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi mình laị nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa
tình bấy nhiêu”
 Khẳng định tấm long của người về
xuôi luôn nặng nghĩa nặng tình, biết ơn
đồng bào VB

2. Đoạn 3: Nhớ về những ngày tháng gian khổ và Vẻ đẹp
phẩm chất của đồng bào Việt Bắc)
“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, có nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa…
*Khái quát: Lời của Việt Bắc chỉ có 12 câu lục bát nhưng tất cả
đều xoáy vào kỉ niệm không thể nào quên của những ngày CM
còn trứng nước:

-Kỉ niệm của một thời vận động đấu tranh cách mạng gian nan
và khổ cực. Những từ ngữ, những hình ảnh chỉ cần nhắc cũng
gợi ra nỗi nhớ cảm động:
“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
-> Hình ảnh “mưa nguồn – suối lũ – mây mù” vừa có ý nghĩa tả
thực vừa có ý nghĩa tượng trưng cho những khó khăn, thử thách,
khốn khó, cơ cực mà đồng bào và cán bộ đã phải chịu đựng và
vượt qua
- Kỉ niệm về đồng bào VB : những con người nghèo khổ, cuộc
sống kháng chiến gian khổ nhưng giàu lòng yêu nước, căm thù
giặc
Câu thơ “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” tạo ra một
tiểu đối vừa gợi sự gian khổ, vừa như cụ thể hóa mối thù của
cách mạng: phát xít Nhật, thực dân Pháp và phong kiến tay sai.
Mối thù dân tộc như đè nặng lên vai của mọi người.

-Kỉ niệm về đồng bào VB: cuộc sống nghèo khổ nhưng thắm thiết
nghĩa tình sâu nặng với cách mạng:
“Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”
Tiểu đối, điệp ngữ… Cũng chính trong hoàn cảnh đó, Việt Bắc và
con người VB càng “ đậm đà lòng son”, cưu mang cách mạng và
những người con cách mạng. Bốn chữ  “đậm đà lòng son” cứ ấm
nóng, tỏa sáng không chỉ trong bài thơ mà cả ở trong lòng người.
-Kỉ niệm về cảnh sinh hoạt đơn sơ, giản dị không thể nào quên:
“Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già”
Hình ảnh “Trám bùi để rụng, măng mai để già” gợi nỗi buồn thiếu
vắng. Câu thơ nhắc nhở khéo léo đừng quên cội nguồn cách
mạng

- Kỉ niệm về những năm tháng vẻ vang, oanh liệt thời tiền khởi nghĩa
“Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh”
-Kết thúc giai đoạn lịch sử này là những ngày sôi động của Tổng
khởi nghĩa CMT8
            Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa…”
 
-> Những địa danh, những sự kiện lịch sử, mái đìng Hồng Thái, cây
đa Tân Trào được nhắc đến đã tạo nên trong lòng mọi người niệm
tự hào về những ngày tháng Tám mùa thu 1945, cách mạng bùng
lên giành độc lập.
Tóm lại
- Đoạn thơ ngắn 12 câu đã điệp 8 từ “mình” và 6 từ “nhớ, có nhớ”.
Những từ “mình” điệp ở đầu mỗi câu thơ đã tạo ra một giọng điệu
trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào. Những từ “nhớ, có nhớ” gợi
đến âm hưởng của ca dao, dân ca, góp phần diễn tả một cách cảm
động tràn đầy nỗi nhớ về cái nôi VB – quê hương cách mạng.

3, Vẻ đẹp thiên nhiên và con người Việt Bắc): Đoạn 5
“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bàn khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”
*Khái quát: Đoạn trích trên nằm ở đoạn 5 của phần I bài thơ nói về
những kỷ niệm cùng nỗi nhớ với thiên nhiên con người Việt Bắc
*Cảnh núi rừng Việt Bắc:
-Hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng không gian và
thời gian khác nhau; có những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn
những miền quê khác:
+“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”

Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu  như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể. Nỗi
nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu” hình ảnh so sánh thật
đầy ý nghĩa, nỗi nhớ sao thật dai dẳng triền miên, luôn thường trực trong
tâm trí, Nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.

Nhớ ánh nắng ban chiều,

Ánh trăng buổi tối, không
gian gợi cảm nên thơ
=>Những hình ảnh miêu tả
không gian thơ mộng đậm chất
núi rừng Việt Bắc

+“Nhớ từng bản khói cùng
sương
Sớm khuya bếp lửa người
thương đi về”
những bản làng ẩn hiện
trong sương sớm,

những ánh lửa hồng
trong đêm khuya,

+Nỗi nhớ sâu đậm hơn với những tên gọi địa danh gắn
liền với quá khứ cách mạng mà tác giả từng trải qua:
“Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”

Những tên núi, tên rừng, tên sông suối, nương rẫy
quen thuộc thân yêu
- Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu
quạnh mà thơ mộng, ấm áp.

* Con người:
Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện
lên với những phẩm chất cao đẹp:

“Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”
“Người thương”, chứa đựng biết bao ân tình. Đây chính
là những con người Việt Bắc đã cưu mang, che chở cho
cán bộ trong suốt một quãng thời gian dài gian khó.
“Bếp lửa” – hình ảnh của một gia đình ấm cúng , diễn tả
một nỗi nhớ bịn rịn, lưu luyến, không muốn rời xa.
*Đoạn thơ trên chính là bản tình ca về lòng chung thủy
sắt son, chính là tiếng lòng của nhà thơ, hay cũng chính
là của những người VN trong kháng chiến. TH đã thể
hiện thành công tình cảm của người cán bộ dành cho
thiên nhiên, nhân dân Việt Bắc

4. Vẻ đẹp phẩm chất của đồng bào Việt Bắc : Đoạn 6
“Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lung
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”
*Khái quát: Bài thơ là những hồi tưởng của tác giả về những
ngày khó khăn gian khổ nhưng chứa đầy tình người nồng ấm, là
nhưng nỗi nhớ của tác giả, là những kỷ niệm với những con
người, với cảnh vật nơi đây.

-Bốn câu đầu: Nhớ những ngày cùng nhau chia sẻ khó khăn
gian
“Ta đi….. Ngọt bùi”
+Dù bản thân có đi xa, dù có ở nơi chốn nào thì vẫn sẽ luôn nhớ
về “mình”. Ngôn từ xưng hô thật giản dị mà thân thương. Hình
ảnh ẩn dụ “đắng cay” chính là những khó nhọc, gian nan mà nhân
dân cùng cán bộ đã phải trải qua trong suốt thời kỳ kháng chiến,
còn niềm vui chiến thắng không gì khác chính là “ngọt bùi”. Từng
nỗi nhớ như tràn ngập trong tâm hồn Tố Hữu biểu hiện cho một
tình cảm sâu nặng tựa như nỗi tương tư đến “người thương”.
Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại càng khắc sâu hơn sự nhớ
nhung nghìn trùng tha thiết của tác giả đối với Việt Bắc. Họ gắn
bó với cách mạng cùng “mối thù nặng vai”,
+”Thương nhau…. Đắp cùng”

Hình ảnh tượng trưng: "Chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui
đắp cùng" kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa "chia, sẻ, cùng"
diễn tả được mối tình cảm "chia ngọt sẻ bùi" giữa nhân dân Việt
Bắc và cán bộ cách mạng. Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong "củ
sắn", "bát cơm", "chăn sui"... mà người cán bộ cách mạng đã
chịu ơn Việt Bắc. Đây là một hình ảnh đậm đà tình giai cấp.
-Nhớ tình cảm của những người mẹ
VB:
“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng.
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”

Người mẹ nắng cháy lưng... gợi người đọc liên tưởng đến sự tần
tảo chắt chiu, cần cù lao động của bà mẹ chiến sĩ trong kháng
chiến đã đùm bọc, cưu mang chiến sĩ, cán bộ cách mạng. Tuy họ
nghèo về vật chất nhưng “đậm đà lòng son", giàu về tình nghĩa.
Đó là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sống
kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi
-Nhớ cảnh sinh hoạt cơ quan và những âm thanh quen
thuộc: 
“Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Đoạn thơ còn dựng lại những khung cảnh quen thuộc với những
hình ảnh và âm thanh hết sức tiêu biểu cho sinh hoạt trong kháng
chiến Việt Bắc. Câu thơ đối ý mà nêu bật tinh thần lạc quan yêu
đời của người dân VB dù cuộc sống còn rất gian khổ, khó khan
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả, bình dị, tiếng chày
hòa trong tiếng suối xa:
“Nhớ sao tiếng mõ……suối xa”
Âm thanh "tiếng mõ rừng chiều" và "chày đêm nện cối đều đều
suối xa" là âm thanh đặc trưng của Việt Bắc, phản ánh sinh hoạt
yên ả, bình dị nơi núi rừng, gợi nhớ một thời đã qua.
=>Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng cần cù, thủy chung
và sâu nặng ân tình

*Tóm lại:
-Cả đoạn thơ mang đậm màu sắc dân tộc, thể hiện rõ hồn thơ của
TH. Điệp từ “nhớ” cùng lối so sánh đặc biệt để bộc lộ một cảm
xúc thương nhớ dạt dào.Cách gieo vần, sử dụng tài tình thể thơ
lục bát đã làm cho đoạn thơ mang âm điệu ngọt ngào, êm ái. Việc
liệt kê một loạt những hình ảnh cùng địa danh của Việt Bắc đã
khắc họa thật sâu nỗi niềm thương nhớ của một người chiến sĩ –
thi sĩ đối với quê hương thứ hai của mình.
-Đoạn thơ trên chính là bản tình ca về lòng chung thủy sắt son,
chính là tiếng lòng của nhà thơ, hay cũng chính là của những
người VN trong kháng chiến. Với những câu thơ dạt dào cảm xúc,
TH đã thể hiện thành công tình cảm của người cán bộ dành cho
thiên nhiên, nhân dân Việt Bắc

5. Bộ tranh tứ bình: Cảnh thiên nhiên và con
người hòa quyện thắm thiết (Đoạn 7)
- Hai câu đầu đoạn thơ, tác giả giới thiệu chung
về cảm xúc:
+ Câu hỏi tu từ "Ta về mình có nhớ ta?"
 Là cái cớ để người ra đi bày tỏ tấm lòng mình:
"Ta về … cùng người"
+ Hình ảnh "hoa cùng người"
 Gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con
người trong bức tranh quê hương Việt Bắc. Trong

nỗi nhớ của người đi, cảnh vật lẫn con người
Việt Bắc hòa quyện với nhau thành một thể
thống nhất.

- Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương
Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
+ Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp
độc đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả cảnh, câu bát tả
người.
+ Thiên nhiên Việt Bắc: tác giả tạo dựng một bộ

tranh tứ bình về Việt Bắc theo chủ đề Xuân – Hạ
– Thu – Đông, miêu tả diễn biến theo bốn mùa, mỗi
mùa có nét đặc trưng riêng, tạo nên một bức tranh tứ
bình rất đẹp.

o Vào mùa đông: “Rừng xanh
… thắt lưng”
. Trên cái nền xanh bạt ngàn
của núi rừng Việt Bắc, xuất hiện
những hoa chuối "đỏ tươi" như
những ngọn lửa thắp sáng rừng
xanh.
 Sự đối chọi hai màu xanh–
đỏ làm trẻ lại màu xanh trầm
tịch của rừng già và xua tan đi
cái lạnh lẽo của mùa đông vùng
cao.

Hình ảnh "dao gài thắt
lưng" phản quang "ánh
nắng"
 Hình ảnh con người
rất gợi cảm, tạo thành
điểm sang, con người trở
nên nổi bật, trở thành
trung tâm của bức tranh.

o Mùa xuân: “Ngày xuân …
sợi giang”

Xuân về,rừng hoa mơ
bừng nở.
 Chữ "trắng": gợi lên một
sắc trắng tinh khiết, mênh mang,
một thế giới hoa mơ bao phủ 
sức xuân ngập tràn đất trời núi
rừng Việt Bắc.
Mùa xuân trong sáng, tinh
khôi và đầy sức sống.
Sức xuân nơi núi rừng và
cảm giác ngây ngất trong lòng
người ngắm cảnh.

Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
 Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên
nhẫn, tỉ mỉ của con người Việt Bắc.

o Mùa hạ: “Ve kêu ....
một mình”
Nhớ Việt Bắc mùa hè:
là nhớ tiếng ve râm ran
làm nên khúc nhạc rừng
sôi động, nhớ màu vàng
của
“rừng phách đổ
vàng”
 Với từ "đổ", biểu thị
sự chuyển màu đồng
loạt
(Người đọc có cảm
giác dường như tiếng ve
đã thúc giục ngày hè trôi
nhanh, làm cho rừng
phách thêm vàng).

. Hình ảnh cô thiếu nữ
đi "hái măng một mình"
giữa rừng vầu, rừng nứa,
rừng trúc: không hề lẻ loi,
cô đơn mà chịu khó tận
tụy với công việc.

o Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
“Rừng thu…
…thủy chung”
(Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa
rừng thu. Trăng "rọi" qua tán lá
rừng xanh, trăng thanh mát
rượi)
 Gợi lên cảnh sống yên ả,
"hoà bình”, nên thơ.
Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ ca
hát về mối ân tình thuỷ chung với cách mạng.

Như vậy: Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật
vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người:
Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt
Bắc: bình dị, chịu thương chịu khó, đầy nghĩa tình.
(Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của
mình, những con người Việt Bắc đã góp phần tạo nên
sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến)

6. Thiên nhiên Việt Bắc tạo thành thế trận đánh giặc- niêm vui
chiến thắng: Đoạn 8
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng 
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây 
Núi giăng thành lũy sắt dày 
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù 
Mênh mông bốn mặt sương mù 
Ðất trời ta cả chiến khu một lòng. 
Ai về ai có nhớ không? 
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng 
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng 
Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà...”
*Khái quát: Trong nỗi nhớ của người cán bộ về xuôi hiện về
những ngày tháng gian khổ kháng chiến, cùng với thiên nhiên Việt
Bắc cảnh vật nơi đây đã tạo ra một trận địa phức tạp. Đồng thời
thể hiện niềm tự hào thầm kín của nhà thơ với chiến khu Việt Bắc
với cuộc kháng chiến hào hùng.

“Nhớ khi giặc đánh giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành lũy sắt giày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù.”
-Trong những ngày đầu kháng chiến gian khỏ của giai đoạn phòng ngự,
bộ đội phải dựa vào dân, dựa vào núi rừng Việt Bắc hiểm trở để đánh
địch. Trước giờ khắc quyết định của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả
núi rừng cùng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với cuộc kháng chiến
đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có
tình người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những
chiến sĩ anh hùng của toàn quân. 
-Chỉ với bốn câu thơ, chữ “rừng” và “núi” được lặp đi lặp tạo nên thế
hiểm của trường thành của lũy thép vây bọc quân thù. Rừng cây núi đá
“ta cùng” đánh Tây, bằng phép nhân hóa, rừng bạt ngàn cây, với núi bao
la đó để rồi trên dưới một lòng cùng con người đánh đuổi quân xâm
lược. Đồng thời thể hiện tình cảm giữa con người kháng chiến và
thiên nhiên núi rừng Việt Bắc rất tha thiết, bao la.

+Núi thì giăng thành lũy, rừng thì đảm nhận hai công việc. Như
một người mẹ che chở cho con mình, rừng bao bọc cho bộ đội
trước mặt kẻ thù cướp nước. Rừng trở nên kiên quyết đến dữ
dằn cùng với việc vây quân thù để tiêu diệt, cái trùng trùng điệp
điệp của rừng, cái khí thế hiên nagng kiêu hùng của những vách
núi đã làm cho biết bao kẻ thù khiếp sợ và bất lực
 -Chiến khu Việt Bắc với thiên nhiên khắc nghiệt, vừa hùng
tráng vừa thơ mộng ở cặp lục bát tiếp theo là hình ảnh thiên
nhiên, đất trời Việt Bắc trong giai đoạn kháng chiến, chiến khu
giải phóng được mở rộng hơn.
“Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng”
+Trời đất bị chìm lấp trong cả màn sương giăng khắp nơi, khiến
cho khung cảnh chiến đấu trở nên uy linh, lãng mạn, “mênh mông
bốn mặt sương mù”, chiến khu mang nét đặc trưng rộng lớn,
đồng thời thể hiện sự phát triển của kháng chiến,

+“Đất trời ta cả” khẳng định quyền làm chủ vùng giải phóng, và
sự tương phản “Mênh mông bốn mặt” và “chiến khu một lòng”: Cả
vũ trụ, núi rừng Việt Bắc giờ đây đang cùng nhìn về một hướng,
đang hướng về cuộc chiến đấu, hướng về sứ mệnh bảo vệ quê
hương đất nước yêu dấu của mình thầm thể hiện tinh thần đoàn
kết của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
-Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã làm nên những
chiến công vang dội, hàng loạt những địa danh vang lên, mỗi
nơi đều gắn với một thắng lợi vinh quang.
“Ai về ai có nhớ không ?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng
Nhớ sông Lô, nhớ Phố Ràng
Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà.”
 

-Bằng câu hỏi tu từ thể hiện niềm vui to lớn trước chiến thắng vẻ
vang của dân tộc.. Bằng phép liệt kê các địa danh ở Việt Bắc gắn
liền với những sự kiện quan trọng như Phủ Thông, đèo Giàng, là
nơi đã diễn ra các trận hồi đầu cuộc kháng chiến chống pháp, là
những chiến công tiêu biểu góp phần quan trọng, mang tính quyết
định thắng lợi của cuộc kháng chiến. Những bước đầu quan trọng
ấy đã làm thay đổi cục diện chiến trường, tạo thế và lực cho cuộc
kháng chiến, củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối càng. Cùng với
điệp từ “nhớ” nhớ đến những trận đánh, những chiến công oanh
tạc như thế là niềm tự hào của cá nhân những người tham gia
kháng chiến.
 Tóm lại Đoạn thơ cũng khắc họa được hình ảnh thiên nhiên
Việt Bắc trù phú, dữ dội nhưng cũng rất lãng mạng và “bao la”,
khắc họa được hình ảnh người cán bộ về xuôi có tình cảm sâu
nặng gắn bó với thiên nhiên, với cách mạng. Đồng thời thể hiện
niềm tin vào chiến thắng cuối cùng của quân và dân ta và khẳng
định một điều: Việt Bắc chính là cái nôi, nuôi dưỡng cách mạng.

7. Hồi tưởng của người ra đi về khung
cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến
đấu, Niềm vui Chiến thắng): Đoạn 9

Những đường Việt Bắc của ta
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
 
Gửi ý kiến