Bài 1. Việt Nam - Đất nước chúng ta

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Kim Hằng
Ngày gửi: 08h:48' 25-09-2025
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Kim Hằng
Ngày gửi: 08h:48' 25-09-2025
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
CHÀO MỪNG QUÝ THẦY CÔ
VỀ DỰ GIỜ THĂM LỚP
Môn: ĐỊA LÝ
Lớp 5E
GV: Nguyễn Công Hậu
Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những tỉnh ven biển thuộc vùng Đông
Nam Bộ của Việt Nam. Đây chính là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam và là cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh miền Đông Nam
Bộ.
Từ Bà Rịa – Vũng Tàu kết nối thuận tiện tới thành phố Hồ Chí Minh và
một số địa phương, khu vực khác thông qua nhiều đường giao thông như
đường bộ, đường hàng không, đường thủy, đường sắt...
Vị trí địa lý của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được xác định cụ thể:
+ Phía Bắc giáp với tỉnh Đồng Nai.
+ Phía Nam giáp biển Đông.
+ Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận và Biển Đông.
+ Phía Tây giáp với thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Rịa Vũng Tàu là tỉnh đầu tiên của khu vực Đông Nam Bộ có 2 thành
phố trực thuộc tỉnh, đó là thành phố Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu.
Đặc điểm khí hậu và địa hình tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bà Rịa Vũng Tàu có đặc điểm khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, một
năm có hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa sẽ bắt đầu
từ tháng 5 cho đến tháng 10. Trong khoảng thời gian này sẽ chịu ảnh
hưởng của gió mùa Tây Nam. Mùa khô sẽ bắt đầu từ tháng 11 cho đến
tháng 4 năm sau và chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc.
Về nhiệt độ của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khá là dễ chịu với nhiệt độ trung
bình hàng năm là 27 độ C. Tháng thấp nhất nhiệt độ rơi vào khoảng 26,8
độ C, tháng cao nhất khoảng 28,6 độ C. Đây là một tỉnh nằm trong khu
vực ít bão.
Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu chia làm 4 vùng, đó là bán đảo, hải đảo, vùng
đồi núi bán trung du, vùng thung lũng đồng bằng ven biển.
Trong đó bán đảo Vũng Tàu là một bán đảo dài và hẹp với diện tích
82,86 km2 và có độ cao trung bình tầm 3 – 4m so với mặt nước biển. Đối
với hải đảo bao gồm quần đảo Côn Lôn và đảo Long Sơn. Vùng đồi núi
bán trung du thuộc phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh, phần lớn nằm tại thị
xã Phú Mỹ và các huyện Xuyên Mộc, Châu Đức. Tại vùng này sẽ có
vùng thung lũng đồng bằng ven biển. Nó sẽ bao gồm có một phần đất tại
thị xã Phú Mỹ và các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Bà Rịa. Thung lũng
đồng bằng ven biển có những đồng lúa nước và xen lẫn những vạt đồi
thấp và rừng thưa với những bãi cát ven biển.
Tỉnh có 2 mùa mưa và mùa khô rõ rệt
Về địa hình thì đây là một tỉnh có địa hình tương đối bằng phẳng và thuận lợi đối với việc bố
trí sử dụng đất. Có 3 dạng địa hình chính được hình thành như sau:
+ Địa hình đồi núi thấp: Sẽ bao gồm những dãy núi xót rải rác nhau với độ cao không đồng
đều, thay đổi từ 200 – 700 mét. Trong đó đỉnh cao nhất sẽ có độ cao 704 mét là đỉnh Mây Tàu
thuộc ranh giới phía Đông giáp với tỉnh Bình Thuận. Tại phía Tây có 3 cụm núi trung bình đó
chính là núi Châu Viên với độ cao 327 mét, núi Ngang độ cao 214 mét, núi Hòn Thung với độ
cao 210 mét... Những núi này sẽ có độ dốc cao và được cấu tạo bởi đá macma axit với độ hại
rất thô, thảm thực vật cạn kiện và có tầng đất rất mỏng.
+ Địa hình đồi lượn sóng: Địa hình này sẽ có độ cao từ 20 – 150m, bao gồm những đồi đất
bazan và tạo thành những chùy được chạy theo hướng Bắc xuống Tây Nam. Trái ngược với địa
hình đồi núi thấp thì địa hình này bằng, thoải và có độ dốc tầm 1 – 8 độ C. Loại địa hình này sẽ
chiếm một diện tích lớn nhất so với những địa hình khác.
+ Địa hình đồng bằng: Có thể chia địa hình Đồng Bằng của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu dưới 2 dạng
cụ thể như:
- Bậc thềm sông với độ cao tầm 5 – 10m, một số nơi chỉ cao 2 –
5 m và được hình thành dọc theo các sống và tạo thành từng dải
hẹp với chiều rộng thay đổi từ 4 – 5m và 10 – 15 mét. Tại đây có
chất lượng đất khá tốt nên đã được khai thác và đưa vào sử
dụng.
- Địa hình trung trên trầm tích đầm lầy biển và đầm lầy mặn:
Đây được xem là loại địa hình thấp nhất của tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu với độ cao chỉ từ 0,3 – 2m. Loại địa hình này thường xuyên
bị ngập triều với mạng lưới sông ngòi dày đặc, chằng chịt và có
rừng ngập mặn che phủ.
Tài nguyên thiên nhiên tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bà Rịa Vũng Tàu được đánh giá là một trong những khu vực có nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú, rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu. Đó cũng chính là thế
mạnh kinh tế của tỉn Bà Rịa Vũng Tàu. Với điều kiện tự nhiên cùng với tài nguyên
thiên nhiên đã giúp cho nơi đây ngày càng phát triển về tình hình kinh tế và xã hội.
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu kĩ hơn về tài nguyên thiên nhiên ở đây nhé.
Tài nguyên đất
Mặc dù tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu không có nguồn diện tích đất lớn nhưng lại có quỹ
đất vô cùng đa dạng và thuộc vào loại bậc nhất của vùng Đông Nam Bộ và khu vực
cả nước, điều này đã tạo ra cho tỉnh một loại hình sử dụng đất vô cùng phong phú.
Tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã có 9 trong tổng số 12 nhóm đất của toàn quốc, trừ một
số nhóm đất thuộc khu vực vùng núi cao. Trong đó đất bazan được xếp vào loại tốt
nhất trong các loại đất đồi núi của nước ta và đất phù sa là loại đất tốt nhất đồng
bằng.
Bên cạnh đó tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũng gặp phải một số
tình trạng đất có vấn đề như đất phèn, đất mặn, đất xám,
đất cát chiếm 39,60%.
Đánh giá về chất lượng đất của tỉnh cho thấy nhìn chung
đất có độ phì nhiêu tương đối cao chẳng hạn như đất nâu
đỏ, nâu vàng, nâu thẩm trên đất bazan, đất đen và các đất
phù sa, đất xám.
Tài nguyên nước
Nguồn tài nguyên nước của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được cung cấp chủ
yếu do 3 con sông chính cung cấp đó là sông Thị Vải, sông Dinh và
sông Ray. Đối với sông Thị Vải thì nguồn nước bị nhiễm mặn nên
không được sử dụng cho sản xuất. Tuy nhiên lòng sông rộng với độ sâu
lớn nên nó mang đến ý nghĩa lớn cho việc phát triển hệ thống giao
thông đường thủy và vận tải biển. Sông Dinh và sông Ray chính là con
sông cung cấp nguồn nước chính phục vụ cho sinh hoạt và phát triển
nông nghiệp, công nghiệp của tỉnh. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu kĩ hơn
về tài nguyên nước của 3 con sông chính nhé.
+ Sông Ray: Con sông này sẽ bắt nguồn từ khu vực núi Chứa Chan thuộc
vào huyện Xuân Lộc của tỉnh Đồng Nai với đoạn đầu sông chảy trên địa
phận của tỉnh Đồng nai và sau đó sẽ chay qua huyện Xuyên Mộc theo
hướng Bắc Nam rồi đổ ra biển. Phần Sông Ray này sẽ chảy qua vùng dự
án với tổng chiều dài là 40km và có diện tích lưu vực là 582 km2.
+ Sông Dinh: Đây là con sông bắt nguồn từ vùng núi giáp ranh giữa tỉnh
Bà Rịa Vũng Tàu với tỉnh Đồng Nai. Phần đoạn thượng của nguồn sông
sẽ chảy qua huyện Châu Đức và sau đó chảy qua huyện Tân Thành và thị
xã Bà Rịa thuộc hướng Bắc Nam rồi đổ ra biển.
+ Sông Thị Vải: Nguồn sông này bắt nguồn từ vùng đồi núi thuộc địa
phận huyện Long Thành của tỉnh Đồng Nai. Nguồn sông được tạo thành
bởi các suối chính đó là suối Bưng Môn, suối Quan Thu, suối Cả và suối
Đá Vàng thuộc vào huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai và những suối nhỏ
khác. Dòng chính sông dài tầm 42km, chiều rộng từ 300 – 800m và sâu
Tài nguyên rừng
Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu có diện tích rừng không lớn và có diện tích đất có khả năng
trồng rừng là 38,85 diện tích tự nhiên. Trong đó đất hiện đang có rừng là 30,186 ha
và như vậy sẽ còn khoảng 8,664 ha đất lâm nghiệp hiện chưa có rừng.
Hiện nay toàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu có hai khu vực rừng nguyên sinh đó là: Khu bảo
tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu với diện tích rừng là 11,392 ha và khu vực
vườn quốc gia Côn Đảo với diện tích tầm 5.998 ha. Tài nguyên rừng của tỉnh hiện
đang có xu hướng giảm với các loại rừng màu mỡ không còn, rừng trung bình chỉ
còn lại tầm 1,5% là diện tích có rừng.
Nếu trước kia trong rừng có trên 700 loài gỗ, thảo mộc và hơn 200 loài động vật với
nhiều loại gỗ và động vật quý hiếm nhưng đến nay hầu như với những loại gỗ và
động vật quý hiếm không còn.
Rừng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chỉ mang tính quan trọng trong việc tạo cảnh
quan, môi trường, phòng hộ và góp phần phát triển về du lịch và việc khai thác rừng
lấy gỗ, nguyên liệu không lớn.
Nguồn tài nguyên khoáng sản
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những nơi có nhiều loại khoáng sản, nhưng
nguồn tài nguyên khoáng sản mà chúng ta phải kể đến nhiều nhất đó chính là dầu
mỏ, khí thiên nhiên và khoáng sản để làm vật liệu xây dựng. Đồng thời tỉnh Bà Rịa
Vũng Tàu cũng nằm trong vùng có tiềm năng lớn về dầu mỏ và khí thiên nhiên của
Việt Nam với tổng trữ lượng tiềm năng dầu khí vô cùng lớn. Theo thông kế năm
2000 thì trữ lượng tiềm năng dầu khí vào khoảng 2500 – 3000 triệu m3. Trong đó
bao gồm có 957 triệu m3 dầu và 1.500 tỷ m3 khí. Trong tổng trữ lượng dầu khí đã
xác minh thì vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ có trữ lượng tầm 400 triệu m3 và
chiếm 93, 29 % trữ lượng của cả nước, trữ lượng dầu khí khoảng trên 100 tỷ m3 và
chiếm 16,2 trữ lượng dầu khí của cả tỉnh.
Với nguồn tài nguyên dầu khí có trữ lượng tiềm năng và tổng trữ lượng đã xác minh
thì tỉnh sẽ đủ điều kiện để phát triển nền công nghiệp dầu khí thành ngành công
nghiệp mũi nhọn của chiến lược phát triển công nghiệp của cả nước. Nó sẽ giúp đưa
Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển thành một trung tâm khai thác và chế biến nguồn dầu
khí lớn nhất của Việt Nam.
Nguồn khoáng sản được sử dụng để làm vật liệu xây dựng của tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu khá đa dạng, nó bao gồm đá ốp lát, đá xây dựng, phụ gia xi măng, bentonit, sét
gạch ngói, cao lanh, than bùn, cát xây dựng... Theo như hiện nay tỉnh Bà Rịa Vũng
Tàu đã xây dựng thành công 19 mỏ với tổng trữ lượng lên tới 32 tỷ tấn và được phân
bố ở hầu khắp các huyện của tỉnh. Tuy nhiên nguồn khoáng sản này tập trung tại các
huyện Tân Thành, Long Đất, thị xã Bà Rịa cũng như thành phố Vũng Tàu. Chất
lượng đá ở đây được đánh giá khá tốt và nó có thể sử dụng để làm đá dăm, đá hộc
ứng dụng vào xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi, đá khối cho xuất khẩu.
Chúng ta có thể thấy các mỏ đá nằm gần với tuyến đường giao thông nên giúp cho
việc khai thác được thêm thuận lợi hơn. Hiện nay đá ốp lát của tỉnh có 8 mỏ lớn với
tổng trữ lượng là 1324 triệu m3 và chủ yếu nằm tại các huyện Côn Đảo. Chất lượng
đá tại đây được đánh giá là có màu sắc đẹp, đá nguyên khối lớn. Đối với phụ gia xi
măng hiện đang có 6 mỏ được tìm thấy tại huyện Xuyên Mộc, huyện Long Điền và
thị xã Bà Rịa với tổng trữ lượng lên tới 44 triệu tấn.
Những mỏ này đều có điều kiện giúp khai thác thuận lợi và có thể sử dụng để làm
khai thác chất kết dính hay chất phụ gia xi măng.Tuy nhiên vấn đề mà mọi người
hiện đang quan tâm đối với nguồn tài nguyên khoáng sản này đó là nơi tiêu thụ xa
nên giá thành của nó khá cao, ít mang ý nghĩa kinh tế.
Còn đối với cát thủy tình hiện đang có 3 mỏ thuộc hai huyện đó là huyện Xuyên
Mộc và huyện Tân Thành với tổng trữ lượng lên tới 41 triệu tấn và chủ yếu là cát
trắng thạch anh và cát thủy tinh. Mặc dù cát thủy tinh có điều kiện khai thác khá
thuận lợi nhưng chất lượng cát tại đây chỉ ở mức trung bình và người ta có thể sử
dụng nó để làm thủy tinh cấp thấp như các loại bao bì hay hàng dân dụng.
Bên cạnh những nguồn tài nguyên khoáng sản mà chúng tôi đã kể thì tỉnh Bà Rịa
Vũng Tàu cũng có một trữ lượng đáng kể về các loại khoáng sản vật liệu xây dựng
khác. Chẳng hạn như sét gạch ngói, cao lanh, cát xây dựng, bentonit... Chúng phân
bố rải rác ở nhiều nơi và cho phép tỉnh hình thành các ngành công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng với quy mô rộng lớn.
Nguồn tài nguyên biển
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là nơi có bờ biển dài tới 305,4 km và trong đó có 70km là
có bãi cát thoai thoải, nguồn nước xanh. Với đặc điểm này người ta mới khai khác
nó làm bãi tắm du lịch. Trong đó vịnh Giành Rái rộng khoảng 50 km2 và có thể sử
dụng để xây dựng một hệ thống cảng hàng hải.
Với đặc điểm diện tích thềm lục địa trên 100.000 km2 đã giúp cho tỉnh không
những có một vị trí quan trọng về vấn đề an ninh quốc phòng mà còn giúp tạo ra
một tiềm năng vô cùng to lớn nhằm giúp phát triển các ngành kinh tế.
Vị trí thềm lục địa của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu sẽ có khoảng 661 loài cá, với 35 loài
tôm, 23 loài mực và hàng ngàn loài tảo khác nhau. Trong đó có rất nhiều loài mang
đến nguồn kinh tế có giá trị vô cùng cao. Trữ lượng hải sản của tỉnh được khai thác
hàng năm và có thể khai thác tối đa hàng năm lên tới 150.000 – 170.000taans. Điều
này đã giúp tạo ra điều kiện phát triển kinh tế vô cùng lớn mạnh và giúp cho chất
lượng cuộc sống của người dân Vũng Tàu được tốt hơn.
Tài nguyên biển tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được đánh giá là vô cùng
thuận lợi đối với việc phát triển ngành vận tải biển cũng như hệ
thống cảng, du lịch và phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế
biến hải sản. Đây được xem là một trong những ngành kinh tế mũi
nhọn của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
VỀ DỰ GIỜ THĂM LỚP
Môn: ĐỊA LÝ
Lớp 5E
GV: Nguyễn Công Hậu
Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những tỉnh ven biển thuộc vùng Đông
Nam Bộ của Việt Nam. Đây chính là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam và là cửa ngõ ra biển Đông của các tỉnh miền Đông Nam
Bộ.
Từ Bà Rịa – Vũng Tàu kết nối thuận tiện tới thành phố Hồ Chí Minh và
một số địa phương, khu vực khác thông qua nhiều đường giao thông như
đường bộ, đường hàng không, đường thủy, đường sắt...
Vị trí địa lý của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được xác định cụ thể:
+ Phía Bắc giáp với tỉnh Đồng Nai.
+ Phía Nam giáp biển Đông.
+ Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận và Biển Đông.
+ Phía Tây giáp với thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Rịa Vũng Tàu là tỉnh đầu tiên của khu vực Đông Nam Bộ có 2 thành
phố trực thuộc tỉnh, đó là thành phố Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu.
Đặc điểm khí hậu và địa hình tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bà Rịa Vũng Tàu có đặc điểm khí hậu thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, một
năm có hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa sẽ bắt đầu
từ tháng 5 cho đến tháng 10. Trong khoảng thời gian này sẽ chịu ảnh
hưởng của gió mùa Tây Nam. Mùa khô sẽ bắt đầu từ tháng 11 cho đến
tháng 4 năm sau và chịu ảnh hưởng bởi gió mùa Đông Bắc.
Về nhiệt độ của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khá là dễ chịu với nhiệt độ trung
bình hàng năm là 27 độ C. Tháng thấp nhất nhiệt độ rơi vào khoảng 26,8
độ C, tháng cao nhất khoảng 28,6 độ C. Đây là một tỉnh nằm trong khu
vực ít bão.
Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu chia làm 4 vùng, đó là bán đảo, hải đảo, vùng
đồi núi bán trung du, vùng thung lũng đồng bằng ven biển.
Trong đó bán đảo Vũng Tàu là một bán đảo dài và hẹp với diện tích
82,86 km2 và có độ cao trung bình tầm 3 – 4m so với mặt nước biển. Đối
với hải đảo bao gồm quần đảo Côn Lôn và đảo Long Sơn. Vùng đồi núi
bán trung du thuộc phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh, phần lớn nằm tại thị
xã Phú Mỹ và các huyện Xuyên Mộc, Châu Đức. Tại vùng này sẽ có
vùng thung lũng đồng bằng ven biển. Nó sẽ bao gồm có một phần đất tại
thị xã Phú Mỹ và các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Bà Rịa. Thung lũng
đồng bằng ven biển có những đồng lúa nước và xen lẫn những vạt đồi
thấp và rừng thưa với những bãi cát ven biển.
Tỉnh có 2 mùa mưa và mùa khô rõ rệt
Về địa hình thì đây là một tỉnh có địa hình tương đối bằng phẳng và thuận lợi đối với việc bố
trí sử dụng đất. Có 3 dạng địa hình chính được hình thành như sau:
+ Địa hình đồi núi thấp: Sẽ bao gồm những dãy núi xót rải rác nhau với độ cao không đồng
đều, thay đổi từ 200 – 700 mét. Trong đó đỉnh cao nhất sẽ có độ cao 704 mét là đỉnh Mây Tàu
thuộc ranh giới phía Đông giáp với tỉnh Bình Thuận. Tại phía Tây có 3 cụm núi trung bình đó
chính là núi Châu Viên với độ cao 327 mét, núi Ngang độ cao 214 mét, núi Hòn Thung với độ
cao 210 mét... Những núi này sẽ có độ dốc cao và được cấu tạo bởi đá macma axit với độ hại
rất thô, thảm thực vật cạn kiện và có tầng đất rất mỏng.
+ Địa hình đồi lượn sóng: Địa hình này sẽ có độ cao từ 20 – 150m, bao gồm những đồi đất
bazan và tạo thành những chùy được chạy theo hướng Bắc xuống Tây Nam. Trái ngược với địa
hình đồi núi thấp thì địa hình này bằng, thoải và có độ dốc tầm 1 – 8 độ C. Loại địa hình này sẽ
chiếm một diện tích lớn nhất so với những địa hình khác.
+ Địa hình đồng bằng: Có thể chia địa hình Đồng Bằng của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu dưới 2 dạng
cụ thể như:
- Bậc thềm sông với độ cao tầm 5 – 10m, một số nơi chỉ cao 2 –
5 m và được hình thành dọc theo các sống và tạo thành từng dải
hẹp với chiều rộng thay đổi từ 4 – 5m và 10 – 15 mét. Tại đây có
chất lượng đất khá tốt nên đã được khai thác và đưa vào sử
dụng.
- Địa hình trung trên trầm tích đầm lầy biển và đầm lầy mặn:
Đây được xem là loại địa hình thấp nhất của tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu với độ cao chỉ từ 0,3 – 2m. Loại địa hình này thường xuyên
bị ngập triều với mạng lưới sông ngòi dày đặc, chằng chịt và có
rừng ngập mặn che phủ.
Tài nguyên thiên nhiên tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bà Rịa Vũng Tàu được đánh giá là một trong những khu vực có nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú, rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu. Đó cũng chính là thế
mạnh kinh tế của tỉn Bà Rịa Vũng Tàu. Với điều kiện tự nhiên cùng với tài nguyên
thiên nhiên đã giúp cho nơi đây ngày càng phát triển về tình hình kinh tế và xã hội.
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu kĩ hơn về tài nguyên thiên nhiên ở đây nhé.
Tài nguyên đất
Mặc dù tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu không có nguồn diện tích đất lớn nhưng lại có quỹ
đất vô cùng đa dạng và thuộc vào loại bậc nhất của vùng Đông Nam Bộ và khu vực
cả nước, điều này đã tạo ra cho tỉnh một loại hình sử dụng đất vô cùng phong phú.
Tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã có 9 trong tổng số 12 nhóm đất của toàn quốc, trừ một
số nhóm đất thuộc khu vực vùng núi cao. Trong đó đất bazan được xếp vào loại tốt
nhất trong các loại đất đồi núi của nước ta và đất phù sa là loại đất tốt nhất đồng
bằng.
Bên cạnh đó tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũng gặp phải một số
tình trạng đất có vấn đề như đất phèn, đất mặn, đất xám,
đất cát chiếm 39,60%.
Đánh giá về chất lượng đất của tỉnh cho thấy nhìn chung
đất có độ phì nhiêu tương đối cao chẳng hạn như đất nâu
đỏ, nâu vàng, nâu thẩm trên đất bazan, đất đen và các đất
phù sa, đất xám.
Tài nguyên nước
Nguồn tài nguyên nước của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được cung cấp chủ
yếu do 3 con sông chính cung cấp đó là sông Thị Vải, sông Dinh và
sông Ray. Đối với sông Thị Vải thì nguồn nước bị nhiễm mặn nên
không được sử dụng cho sản xuất. Tuy nhiên lòng sông rộng với độ sâu
lớn nên nó mang đến ý nghĩa lớn cho việc phát triển hệ thống giao
thông đường thủy và vận tải biển. Sông Dinh và sông Ray chính là con
sông cung cấp nguồn nước chính phục vụ cho sinh hoạt và phát triển
nông nghiệp, công nghiệp của tỉnh. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu kĩ hơn
về tài nguyên nước của 3 con sông chính nhé.
+ Sông Ray: Con sông này sẽ bắt nguồn từ khu vực núi Chứa Chan thuộc
vào huyện Xuân Lộc của tỉnh Đồng Nai với đoạn đầu sông chảy trên địa
phận của tỉnh Đồng nai và sau đó sẽ chay qua huyện Xuyên Mộc theo
hướng Bắc Nam rồi đổ ra biển. Phần Sông Ray này sẽ chảy qua vùng dự
án với tổng chiều dài là 40km và có diện tích lưu vực là 582 km2.
+ Sông Dinh: Đây là con sông bắt nguồn từ vùng núi giáp ranh giữa tỉnh
Bà Rịa Vũng Tàu với tỉnh Đồng Nai. Phần đoạn thượng của nguồn sông
sẽ chảy qua huyện Châu Đức và sau đó chảy qua huyện Tân Thành và thị
xã Bà Rịa thuộc hướng Bắc Nam rồi đổ ra biển.
+ Sông Thị Vải: Nguồn sông này bắt nguồn từ vùng đồi núi thuộc địa
phận huyện Long Thành của tỉnh Đồng Nai. Nguồn sông được tạo thành
bởi các suối chính đó là suối Bưng Môn, suối Quan Thu, suối Cả và suối
Đá Vàng thuộc vào huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai và những suối nhỏ
khác. Dòng chính sông dài tầm 42km, chiều rộng từ 300 – 800m và sâu
Tài nguyên rừng
Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu có diện tích rừng không lớn và có diện tích đất có khả năng
trồng rừng là 38,85 diện tích tự nhiên. Trong đó đất hiện đang có rừng là 30,186 ha
và như vậy sẽ còn khoảng 8,664 ha đất lâm nghiệp hiện chưa có rừng.
Hiện nay toàn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu có hai khu vực rừng nguyên sinh đó là: Khu bảo
tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu với diện tích rừng là 11,392 ha và khu vực
vườn quốc gia Côn Đảo với diện tích tầm 5.998 ha. Tài nguyên rừng của tỉnh hiện
đang có xu hướng giảm với các loại rừng màu mỡ không còn, rừng trung bình chỉ
còn lại tầm 1,5% là diện tích có rừng.
Nếu trước kia trong rừng có trên 700 loài gỗ, thảo mộc và hơn 200 loài động vật với
nhiều loại gỗ và động vật quý hiếm nhưng đến nay hầu như với những loại gỗ và
động vật quý hiếm không còn.
Rừng của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chỉ mang tính quan trọng trong việc tạo cảnh
quan, môi trường, phòng hộ và góp phần phát triển về du lịch và việc khai thác rừng
lấy gỗ, nguyên liệu không lớn.
Nguồn tài nguyên khoáng sản
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những nơi có nhiều loại khoáng sản, nhưng
nguồn tài nguyên khoáng sản mà chúng ta phải kể đến nhiều nhất đó chính là dầu
mỏ, khí thiên nhiên và khoáng sản để làm vật liệu xây dựng. Đồng thời tỉnh Bà Rịa
Vũng Tàu cũng nằm trong vùng có tiềm năng lớn về dầu mỏ và khí thiên nhiên của
Việt Nam với tổng trữ lượng tiềm năng dầu khí vô cùng lớn. Theo thông kế năm
2000 thì trữ lượng tiềm năng dầu khí vào khoảng 2500 – 3000 triệu m3. Trong đó
bao gồm có 957 triệu m3 dầu và 1.500 tỷ m3 khí. Trong tổng trữ lượng dầu khí đã
xác minh thì vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ có trữ lượng tầm 400 triệu m3 và
chiếm 93, 29 % trữ lượng của cả nước, trữ lượng dầu khí khoảng trên 100 tỷ m3 và
chiếm 16,2 trữ lượng dầu khí của cả tỉnh.
Với nguồn tài nguyên dầu khí có trữ lượng tiềm năng và tổng trữ lượng đã xác minh
thì tỉnh sẽ đủ điều kiện để phát triển nền công nghiệp dầu khí thành ngành công
nghiệp mũi nhọn của chiến lược phát triển công nghiệp của cả nước. Nó sẽ giúp đưa
Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển thành một trung tâm khai thác và chế biến nguồn dầu
khí lớn nhất của Việt Nam.
Nguồn khoáng sản được sử dụng để làm vật liệu xây dựng của tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu khá đa dạng, nó bao gồm đá ốp lát, đá xây dựng, phụ gia xi măng, bentonit, sét
gạch ngói, cao lanh, than bùn, cát xây dựng... Theo như hiện nay tỉnh Bà Rịa Vũng
Tàu đã xây dựng thành công 19 mỏ với tổng trữ lượng lên tới 32 tỷ tấn và được phân
bố ở hầu khắp các huyện của tỉnh. Tuy nhiên nguồn khoáng sản này tập trung tại các
huyện Tân Thành, Long Đất, thị xã Bà Rịa cũng như thành phố Vũng Tàu. Chất
lượng đá ở đây được đánh giá khá tốt và nó có thể sử dụng để làm đá dăm, đá hộc
ứng dụng vào xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi, đá khối cho xuất khẩu.
Chúng ta có thể thấy các mỏ đá nằm gần với tuyến đường giao thông nên giúp cho
việc khai thác được thêm thuận lợi hơn. Hiện nay đá ốp lát của tỉnh có 8 mỏ lớn với
tổng trữ lượng là 1324 triệu m3 và chủ yếu nằm tại các huyện Côn Đảo. Chất lượng
đá tại đây được đánh giá là có màu sắc đẹp, đá nguyên khối lớn. Đối với phụ gia xi
măng hiện đang có 6 mỏ được tìm thấy tại huyện Xuyên Mộc, huyện Long Điền và
thị xã Bà Rịa với tổng trữ lượng lên tới 44 triệu tấn.
Những mỏ này đều có điều kiện giúp khai thác thuận lợi và có thể sử dụng để làm
khai thác chất kết dính hay chất phụ gia xi măng.Tuy nhiên vấn đề mà mọi người
hiện đang quan tâm đối với nguồn tài nguyên khoáng sản này đó là nơi tiêu thụ xa
nên giá thành của nó khá cao, ít mang ý nghĩa kinh tế.
Còn đối với cát thủy tình hiện đang có 3 mỏ thuộc hai huyện đó là huyện Xuyên
Mộc và huyện Tân Thành với tổng trữ lượng lên tới 41 triệu tấn và chủ yếu là cát
trắng thạch anh và cát thủy tinh. Mặc dù cát thủy tinh có điều kiện khai thác khá
thuận lợi nhưng chất lượng cát tại đây chỉ ở mức trung bình và người ta có thể sử
dụng nó để làm thủy tinh cấp thấp như các loại bao bì hay hàng dân dụng.
Bên cạnh những nguồn tài nguyên khoáng sản mà chúng tôi đã kể thì tỉnh Bà Rịa
Vũng Tàu cũng có một trữ lượng đáng kể về các loại khoáng sản vật liệu xây dựng
khác. Chẳng hạn như sét gạch ngói, cao lanh, cát xây dựng, bentonit... Chúng phân
bố rải rác ở nhiều nơi và cho phép tỉnh hình thành các ngành công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng với quy mô rộng lớn.
Nguồn tài nguyên biển
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là nơi có bờ biển dài tới 305,4 km và trong đó có 70km là
có bãi cát thoai thoải, nguồn nước xanh. Với đặc điểm này người ta mới khai khác
nó làm bãi tắm du lịch. Trong đó vịnh Giành Rái rộng khoảng 50 km2 và có thể sử
dụng để xây dựng một hệ thống cảng hàng hải.
Với đặc điểm diện tích thềm lục địa trên 100.000 km2 đã giúp cho tỉnh không
những có một vị trí quan trọng về vấn đề an ninh quốc phòng mà còn giúp tạo ra
một tiềm năng vô cùng to lớn nhằm giúp phát triển các ngành kinh tế.
Vị trí thềm lục địa của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu sẽ có khoảng 661 loài cá, với 35 loài
tôm, 23 loài mực và hàng ngàn loài tảo khác nhau. Trong đó có rất nhiều loài mang
đến nguồn kinh tế có giá trị vô cùng cao. Trữ lượng hải sản của tỉnh được khai thác
hàng năm và có thể khai thác tối đa hàng năm lên tới 150.000 – 170.000taans. Điều
này đã giúp tạo ra điều kiện phát triển kinh tế vô cùng lớn mạnh và giúp cho chất
lượng cuộc sống của người dân Vũng Tàu được tốt hơn.
Tài nguyên biển tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được đánh giá là vô cùng
thuận lợi đối với việc phát triển ngành vận tải biển cũng như hệ
thống cảng, du lịch và phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế
biến hải sản. Đây được xem là một trong những ngành kinh tế mũi
nhọn của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
 








Các ý kiến mới nhất