Tuần 21. Vội vàng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Anh
Ngày gửi: 19h:33' 13-05-2022
Dung lượng: 16.7 MB
Số lượt tải: 174
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Anh
Ngày gửi: 19h:33' 13-05-2022
Dung lượng: 16.7 MB
Số lượt tải: 174
Số lượt thích:
0 người
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…
Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết
Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt
Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
Vội vàng
Xuân Diệu
Giáo viên: Hồ Hồng Yến
TÌM HIỂU CHUNG
I
1. Tác giả Xuân Diệu
2. Tác phẩm “Vội vàng”
I. TÌM HIỂU CHUNG
Tác giả Xuân Diệu (1916-1985)
- Tên khai sinh: Ngô Xuân Diệu.
- Quê quán: Can Lộc, Hà Tĩnh nhưng sống với mẹ ở Quy Nhơn.
- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới.
- Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ.
I. TÌM HIỂU CHUNG
2. Tác phẩm “Vội vàng”
a. Xuất xứ: in trong tập Thơ thơ (1938).
b. Thể thơ: tự do.
c. Chủ đề: Vội vàng diễn tả thái độ ham sống đến cuồng nhiệt, nhu cầu tận hưởng cuộc sống hết mình.
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
a. 4 câu đầu
Điệp cấu trúc “tôi muốn… cho…” Nhấn mạnh khao khát “tắt nắng”, “buộc gió” => Lưu giữ khoảnh khắc hiện tại.
Điệp từ “đừng”: cầu xin khẩn thiết.
Động từ: “tắt nắng”, “buộc gió”.
Tác giả muốn thời gian ngừng trôi để cuộc sống giữ mãi hương sắc mùa xuân.
Ý nghĩ rất táo bạo, độc đáo đồng thời cũng rất lãng mạn.
Của ong bướm này đây tuần trăng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Điệp cấu trúc: “Của…này đây…”
“Này đây … của…”
(Đảo vị trí)
- Liệt kê: ong bướm, hoa, lá, yến anh,…
Phơi bày vẻ đẹp không tả xiết ở cõi trần gian, vẻ đẹp gần gũi, chỉ cần với tay là ta có thể chạm tới.
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân trần thế:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Căng mở các giác quan: Tác giả cảm nhận được đầy đủ hương vị và thanh sắc của cuộc đời.
+ Vị ngọt của “ong bướm tuần tháng mật”.
+ Hương thơm, màu sắc của “hoa đồng nội”.
+ Dáng hình uyển chuyển của “lá” trên cành non.
+ Âm thanh tình tứ của “khúc tình si”.
+ Ánh sáng của bình minh xuân.
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
=> Quan niệm nhân sinh tích cực, mới mẻ: Thiên đường trên mặt đất là con người trần thế, tình yêu và tuổi trẻ.
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân tình yêu:
Khu vườn xuân là khu vườn yêu, vườn hạnh phúc:
+ Ong bướm - tuần tháng mật.
+ Hoa - đồng nội.
+ Lá - cành tơ.
+ Yến anh – khúc tình si.
+ Gương mặt của người đẹp “chớp hàng mi”.
=> THI NHÂN -> TÌNH NHÂN
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân tình yêu:
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
So sánh: vạn vật có sự tương giao.
Chuyển đổi cảm giác “ngon”:
Tháng giêng
Cặp môi gần
Vô hình, trừu tượng
Hữu hình, cụ thể (vị giác)
=> Cảm nhận vẻ đẹp mùa xuân một cách trọn vẹn.
=> Quan điểm thẩm mĩ mới mẻ, tiến bộ: lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp.
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân tình yêu:
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Dấu chấm ngắt đôi câu thơ và diễn tả 2 dòng cảm xúc: sung sướng >< vội vàng.
Cảm xúc, suy tư của Xuân Diệu:
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
- Kết cấu câu trùng điệp kết hợp với điệp từ “nghĩa là” mang tính chất giảng giải, phân tích, nhằm thể hiện:
+ Quan niệm mới về thời gian: thời gian vận động không ngừng
“…đương tới… đương qua
….còn non… sẽ già
…xuân hết… tôi cũng mất”
+ Nhấn mạnh tâm trạng u hoài, chán nản của thi nhân trước sự vận động không ngừng, biến chuyển đến tàn lụi của mùa xuân.
- Kết cấu đối lập:
+ Lòng tôi rộng >< lượng trời cứ chật.
+ Xuân tuần hoàn >< tuổi trẻ chẳng hai lần.
+ Còn trời đất >< chẳng còn tôi.
=> Sự suy tư của tác giả: sự vô hạn của thiên nhiên, của thời gian, của đất trời và cái hữu hạn của đời người, của tuổi trẻ.
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt...
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa...
Thiên nhiên mất đi vẻ vô tư, hồn nhiên:
Thời gian, không gian và vạn vật trong cuộc sống đều nhuốm màu chia li, tiễn biệt, buồn thương.
Tháng năm đều rớm vị chia phôi.
Sông núi… than thầm tiễn biệt.
Gió… hờn vì nỗi phải bay đi.
Chim… đứt tiếng reo thi.
Hai câu hỏi tu từ, điệp ngữ tăng tiến “phải chăng hờn?” “phải chăng sợ?”
Tâm trạng của thi nhân
U hoài, tiếc nuối của tác giả khi hiểu rõ bước đi của thời gian, bi kịch của đời người.
Tâm trạng luyến tiếc, buồn day dứt của tác giả.
“Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ, nữa…”
=> Lời than tuyệt vọng, uất nghẹn.
2. Thời gian tuyến tính một đi không trở lại
3. Thái độ sống vội vàng, cuồng nhiệt
- Cụm từ “Mau đi thôi” => thể hiện sự hối hả, rất vội vàng.
- Điệp ngữ “Ta muốn…” lặp lại năm lần, thể hiện sự tha thiết đến tột độ, đến cuồng nhiệt kết hợp với hệ thống động từ cùng nghệ thuật tăng tiến.
• Ôm cả sự sống
• Riết mây đưa và gió lượn.
• Say cánh bướm với tình yêu.
• Thâu trong một cái hôn nhiều.
• Cắn vào ngươi.
Thể hiện khát khao giao cảm với cuộc đời, khát vọng chiếm đoạt của con người đối với cuộc sống, với cuộc đời, với tuổi trẻ.
Những câu thơ vừa cực tả vẻ đẹp, sức sống của mùa xuân, vừa thể hiện lòng yêu đời, sự đam mê cuộc sống đến cuồng si của nhà thơ, đó chính là tư tưởng nhân văn của tác phẩm.
- Hệ thống tính từ, từ láy “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê” thể hiện tâm trạng mãn nguyện trước những khát vọng về cuộc sống.
- Hình ảnh ẩn dụ “Xuân hồng” gợi lên cuộc đời tươi đẹp đầy sức quyến rũ.
3. Thái độ sống vội vàng, cuồng nhiệt
Thể hiện rõ tư tưởng nhân văn của Xuân Diệu: yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống, thích sống, thèm sống.
Thể hiện rõ triết lí sống của Xuân Diệu trước 1945, sự mâu thuẫn đến tột độ giữa 2 thái cực trong tâm trạng của con người.
DẶN DÒ
Học thuộc lòng bài thơ và nội dung bài học.
Chuẩn bị bài: Tràng giang (Huy Cận).
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu…
Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu
Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết
Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt
Tưởng trăng tàn, hoa tạ với hồn tiêu,
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu!
Vội vàng
Xuân Diệu
Giáo viên: Hồ Hồng Yến
TÌM HIỂU CHUNG
I
1. Tác giả Xuân Diệu
2. Tác phẩm “Vội vàng”
I. TÌM HIỂU CHUNG
Tác giả Xuân Diệu (1916-1985)
- Tên khai sinh: Ngô Xuân Diệu.
- Quê quán: Can Lộc, Hà Tĩnh nhưng sống với mẹ ở Quy Nhơn.
- Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới.
- Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ.
I. TÌM HIỂU CHUNG
2. Tác phẩm “Vội vàng”
a. Xuất xứ: in trong tập Thơ thơ (1938).
b. Thể thơ: tự do.
c. Chủ đề: Vội vàng diễn tả thái độ ham sống đến cuồng nhiệt, nhu cầu tận hưởng cuộc sống hết mình.
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
a. 4 câu đầu
Điệp cấu trúc “tôi muốn… cho…” Nhấn mạnh khao khát “tắt nắng”, “buộc gió” => Lưu giữ khoảnh khắc hiện tại.
Điệp từ “đừng”: cầu xin khẩn thiết.
Động từ: “tắt nắng”, “buộc gió”.
Tác giả muốn thời gian ngừng trôi để cuộc sống giữ mãi hương sắc mùa xuân.
Ý nghĩ rất táo bạo, độc đáo đồng thời cũng rất lãng mạn.
Của ong bướm này đây tuần trăng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Điệp cấu trúc: “Của…này đây…”
“Này đây … của…”
(Đảo vị trí)
- Liệt kê: ong bướm, hoa, lá, yến anh,…
Phơi bày vẻ đẹp không tả xiết ở cõi trần gian, vẻ đẹp gần gũi, chỉ cần với tay là ta có thể chạm tới.
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân trần thế:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si.
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi;
Mỗi sáng sớm, thần vui hằng gõ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
Căng mở các giác quan: Tác giả cảm nhận được đầy đủ hương vị và thanh sắc của cuộc đời.
+ Vị ngọt của “ong bướm tuần tháng mật”.
+ Hương thơm, màu sắc của “hoa đồng nội”.
+ Dáng hình uyển chuyển của “lá” trên cành non.
+ Âm thanh tình tứ của “khúc tình si”.
+ Ánh sáng của bình minh xuân.
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
=> Quan niệm nhân sinh tích cực, mới mẻ: Thiên đường trên mặt đất là con người trần thế, tình yêu và tuổi trẻ.
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân tình yêu:
Khu vườn xuân là khu vườn yêu, vườn hạnh phúc:
+ Ong bướm - tuần tháng mật.
+ Hoa - đồng nội.
+ Lá - cành tơ.
+ Yến anh – khúc tình si.
+ Gương mặt của người đẹp “chớp hàng mi”.
=> THI NHÂN -> TÌNH NHÂN
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân tình yêu:
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
So sánh: vạn vật có sự tương giao.
Chuyển đổi cảm giác “ngon”:
Tháng giêng
Cặp môi gần
Vô hình, trừu tượng
Hữu hình, cụ thể (vị giác)
=> Cảm nhận vẻ đẹp mùa xuân một cách trọn vẹn.
=> Quan điểm thẩm mĩ mới mẻ, tiến bộ: lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp.
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Vẻ đẹp thiên nhiên của mùa xuân tình yêu:
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa:
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.
Dấu chấm ngắt đôi câu thơ và diễn tả 2 dòng cảm xúc: sung sướng >< vội vàng.
Cảm xúc, suy tư của Xuân Diệu:
1. Tình yêu cuộc sống thiết tha, say đắm
Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại.
Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,
Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
- Kết cấu câu trùng điệp kết hợp với điệp từ “nghĩa là” mang tính chất giảng giải, phân tích, nhằm thể hiện:
+ Quan niệm mới về thời gian: thời gian vận động không ngừng
“…đương tới… đương qua
….còn non… sẽ già
…xuân hết… tôi cũng mất”
+ Nhấn mạnh tâm trạng u hoài, chán nản của thi nhân trước sự vận động không ngừng, biến chuyển đến tàn lụi của mùa xuân.
- Kết cấu đối lập:
+ Lòng tôi rộng >< lượng trời cứ chật.
+ Xuân tuần hoàn >< tuổi trẻ chẳng hai lần.
+ Còn trời đất >< chẳng còn tôi.
=> Sự suy tư của tác giả: sự vô hạn của thiên nhiên, của thời gian, của đất trời và cái hữu hạn của đời người, của tuổi trẻ.
Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
Khắp sông, núi vẫn than thầm tiễn biệt...
Con gió xinh thì thào trong lá biếc,
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa...
Thiên nhiên mất đi vẻ vô tư, hồn nhiên:
Thời gian, không gian và vạn vật trong cuộc sống đều nhuốm màu chia li, tiễn biệt, buồn thương.
Tháng năm đều rớm vị chia phôi.
Sông núi… than thầm tiễn biệt.
Gió… hờn vì nỗi phải bay đi.
Chim… đứt tiếng reo thi.
Hai câu hỏi tu từ, điệp ngữ tăng tiến “phải chăng hờn?” “phải chăng sợ?”
Tâm trạng của thi nhân
U hoài, tiếc nuối của tác giả khi hiểu rõ bước đi của thời gian, bi kịch của đời người.
Tâm trạng luyến tiếc, buồn day dứt của tác giả.
“Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ, nữa…”
=> Lời than tuyệt vọng, uất nghẹn.
2. Thời gian tuyến tính một đi không trở lại
3. Thái độ sống vội vàng, cuồng nhiệt
- Cụm từ “Mau đi thôi” => thể hiện sự hối hả, rất vội vàng.
- Điệp ngữ “Ta muốn…” lặp lại năm lần, thể hiện sự tha thiết đến tột độ, đến cuồng nhiệt kết hợp với hệ thống động từ cùng nghệ thuật tăng tiến.
• Ôm cả sự sống
• Riết mây đưa và gió lượn.
• Say cánh bướm với tình yêu.
• Thâu trong một cái hôn nhiều.
• Cắn vào ngươi.
Thể hiện khát khao giao cảm với cuộc đời, khát vọng chiếm đoạt của con người đối với cuộc sống, với cuộc đời, với tuổi trẻ.
Những câu thơ vừa cực tả vẻ đẹp, sức sống của mùa xuân, vừa thể hiện lòng yêu đời, sự đam mê cuộc sống đến cuồng si của nhà thơ, đó chính là tư tưởng nhân văn của tác phẩm.
- Hệ thống tính từ, từ láy “chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê” thể hiện tâm trạng mãn nguyện trước những khát vọng về cuộc sống.
- Hình ảnh ẩn dụ “Xuân hồng” gợi lên cuộc đời tươi đẹp đầy sức quyến rũ.
3. Thái độ sống vội vàng, cuồng nhiệt
Thể hiện rõ tư tưởng nhân văn của Xuân Diệu: yêu đời, yêu người, yêu cuộc sống, thích sống, thèm sống.
Thể hiện rõ triết lí sống của Xuân Diệu trước 1945, sự mâu thuẫn đến tột độ giữa 2 thái cực trong tâm trạng của con người.
DẶN DÒ
Học thuộc lòng bài thơ và nội dung bài học.
Chuẩn bị bài: Tràng giang (Huy Cận).
 








Các ý kiến mới nhất