Tuần 7. Tây Tiến

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Văn Tý
Ngày gửi: 18h:19' 27-09-2021
Dung lượng: 44.3 MB
Số lượt tải: 604
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Văn Tý
Ngày gửi: 18h:19' 27-09-2021
Dung lượng: 44.3 MB
Số lượt tải: 604
Số lượt thích:
0 người
CHÀO MỪNG CÔ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI
TIẾT HỌC NGÀY HÔM NAY
TRƯỜNG THPT TRUNG GIÃ
TRUNG GIÃ – SÓC SƠN – HÀ NỘI
- Quang Dũng
Thành viên:
Đàm Thị Huệ
Nguyễn Trang ngân Hà
Hoàng Thị Thanh Mai
Đỗ Hoài Nhung
Bùi Bình Phương
Nguyễn Hồng Thắm
Đồng Thị Minh Thủy
Đỗ Quang Vinh
~D1 – K21 Trung Giã~
KHỞI ĐỘNG
Nhằm tiếp tế cho quân đội Pháp,
máy bay đã được sử dụng để thả
các thùng hàng.
Hãy tìm cách ngăn cản sự viện trợ của máy bay bằng cách trả lời đúng các câu hỏi
QUANG DŨNG tên khai sinh là:
A. Bùi Đình Diệm
B. Nguyễn Hoàng Ca
C. Nguyễn Minh Châu
D. Nguyễn Văn Báu
A
0
1
2
3
4
5
Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, tại … (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), Quang Dũng viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là “Tây Tiến”.
[Điền vào dấu ba chấm]
Phù Lưu Chanh
0
1
2
3
4
5
C
Ai lên … mùa xuân ấy
Hồn về …chẳng về xuôi.
[Điền vào dấu ba chấm ở trên ]
A. Châu Mộc, Hà Nội
B. Mường Hịch, Mai Châu
C. Khác
0
1
2
3
4
5
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Câu thơ đầu tiên của khổ thơ thứ 3 là?
0
1
2
3
4
5
B
0
1
2
3
4
5
Bài thơ “Tây Tiến” được Quang Dũng sáng tác trong thời gian nào sau đây:
A. Năm 1947, khi Quang Dũng còn là Đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến.
B. Cuối năm 1948, khi Quang Dũng không còn ở đoàn quân Tây Tiến mà đã chuyển sang đơn vị khác
C. Khi Quang Dũng làm công tác văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc.
D. Cả ba dữ kiện đều không chính xác.
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1. Tác giả :
- Tên khai sinh : Bùi Đình Diệm (1921 – 1988).
- Quê quán: Phượng Trì - Đan Phượng – Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).
- Nghệ sĩ đa tài: Làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Được biết nhiều với tư cách là nhà thơ dấu ấn hội hoạ và âm nhạc in đậm trong các thi phẩm.
Quang Dũng
GIA ĐÌNH CỦA NHÀ THƠ QUANG DŨNG
Tranh của nhà thơ Quang Dũng.
- Phong cách thơ: phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Hào hoa là hai chữ nói lên hồn cốt con người cũng như thơ ca Quang Dũng.
- 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
- Sáng tác chính: Mây đầu ô (thơ, 1968), Thơ văn Quang Dũng (tuyển thơ văn, 1988)
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1. Tác giả :
Quang Dũng
I. TÌM HIỂU CHUNG:
2. Tác phẩm:
a) Hoàn cảnh sáng tác
- Viết cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), khi ông đã chuyển sang đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ.
I. TÌM HIỂU CHUNG:
2. Tác phẩm:
b) Nhan đề:
Ban đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến”, năm 1975 khi in lại lấy tên là “Tây Tiến”.
In trong tập “Mây đầu ô”.
I. TÌM HIỂU CHUNG:
2. Tác phẩm:
c) Đoàn binh Tây Tiến
- Thời gian thành lập: đầu năm 1947, Quang Dũng là đại đội trưởng.
- Nhiệm vụ : Phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào và miền Tây Bắc Bộ của Việt Nam.
Địa bàn hoạt động: Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, miền Tây Thanh Hoá (Việt Nam), Sầm Nứa (Lào)
Sông Mã
ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN QUÂN TÂY TIẾN
Địa bàn hoạt động
đoàn quân Tây Tiến
*Sầm Nưa
Địa bàn rộng lớn, hoang vu, hiểm trở, rừng thiêng nước độc
Sông Mã
Đường lên Tây Bắc
- Thành phần:
+ Phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên
+ Điều kiện chiến đấu gian khổ, thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan, vẫn giữ cốt cách hào hoa, lãng mạn.
- Sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hoà Bình thành lập Trung đoàn 52.
Cựu chiến binh Tây Tiến với con đường Tây Tiến mới được đặt tên
d) Giọng đọc:
- Giọng đọc phù hợp với giọng điệu của các câu, các đoạn thơ.
Ngắt nhịp 4/3.
Những câu thơ nhiều thanh trắc: giọng khoẻ, chắc, gọn.
- Những câu thơ nhiều thanh bằng: giọng êm ái, ngân nga.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
Khèn lên man điệu nàng e ấp,
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Có nhớ dáng người trên độc mộc,
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Áo bào thay chiếu, anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Tây Tiến người đi không hẹn ước,
Đường lên thăm thẳm một chia phôi.
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy,
Hồn về Sầm Nứa (*) chẳng về xuôi.
(*) Sầm Nứa: Tỉnh Sầm Nứa của nước Lào.
e) Bố cục:
- Phần 1: “Sông Mã ... thơm nếp xôi”:
Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội.
- Phần 2: “Doanh trại ... hoa đong đưa”:
Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.
- Phần 3: “Tây Tiến đoàn ... khúc độc hành”:
Chân dung người lính Tây Tiến
- Phần 4: “Tây Tiến ... chẳng về xuôi”:
Lời thề gắn bó với đoàn quân Tây Tiến và miền Tây Bắc
a. Mạch cảm xúc của bài thơ (2 câu đầu)
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.”
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:
1. Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội.
+ Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, bật lên thành tiếng gọi Tây Tiến ơi!
+ Hai chữ “chơi vơi”: vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ nỗi nhớ da diết, thường trực, ám ảnh; mênh mông, bao trùm cả không gian, thời gian
b)Câu 3 - 4: Hình ảnh đoàn quân trong đêm trên địa bàn gian lao, vất vả:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
+ Vừa tả thực: Sương mù vùng cao như che lấp, nuốt chửng đoàn quân mỏi mệt: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”
+ Vừa sử dụng bút pháp lãng mạn: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
gợi không gian huyền ảo: cảnh vật về khuya phủ đầy hơi sương lạnh giá
Câu thơ với nhiều thanh bằng: Tạo cảm xúc lâng lâng trong lòng người chiến sĩ khi bắt gặp cảnh hoa nở giữa rừng Hé mở vẻ đẹp hào hoa, lạc quan, yêu đời của người lính
- Bốn câu tiếp theo: Đặc tả hình thế sông núi hiểm trở nhưng không kém phần thơ mộng của miền Tây trên đường hành quân:
“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
+ Hai câu đầu:
Những từ ngữ giàu giá trị gợi hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, “cồn mây”, “súng ngửi trời”
Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp, heo hút, độ cao ngất của núi đèo miền Tây như vô tận và thử thách người đi.
Hai chữ “ngửi trời” :
vừa đặc tả độ cao chót vót của núi (Người lính trèo lên ngọn núi cao dường như đang đi trong mây nổi thành cồn “heo hút”, mũi súng như chạm đến đỉnh trời)
vừa thể hiện tính chất tinh nghịch, khí phách ngang tàng, coi thường hiểm nguy của người lính Tây Tiến.
+ Câu thơ thứ ba với phép đối, như bẻ đôi:
“Ngàn thước lên cao - ngàn thước xuống
hình dung sự khó nhọc trên chặng đường hành quân leo dốc gian khổ
diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm
+ Câu thơ thứ tư đối lập với ba câu trên:
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
toàn thanh bằng, âm “ơi” kết thúc dòng thơ: câu thơ nhẹ như nhịp thở thư giãn của người lính
Hình dung: Người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa, thấy một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi tận hưởng cảm giác bình yên, lãng mạn của núi rừng
+ Cái hoang vu, hiểm trở tiếp tục được khai thác theo chiều thời gian:
Âm thanh: tiếng “thác gầm thét” trong mỗi buổi chiều, hình ảnh: “cọp trêu người” đêm đêm vang động cả chiến khu
Không gian hoang vu, rừng thiêng nước độc, đầy bí hiểm ấy như để thử chí can trường của các chiến binh Tây Tiến
c. Nhớ về người lính Tây Tiến:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
+Hai câu thơ: tiếp tục miêu tả hình ảnh người lính:
Cách nói giảm nói tránh về cái chết: “không bước nữa”, “bỏ quên đời”
Có hai cách hiểu:
Trên chặng đường hành quân gian khổ, người lính quá mỏi mệt nên kiệt sức, ngủ thiếp đi trong chốc lát
Người lính hi sinh một cách nhẹ nhàng, thanh thản như vừa hoàn thành xong nhiệm vụ với Tổ quốc
d. Nhớ về tình quân dân
+ Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng 2 câu thơ:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.
“Nhớ ôi”: bâng khuâng, vương vấn, ngọt ngào
Cảnh tượng thật đầm ấm: Sau chặng đường hành quân vất vả, người lính quây quần bên nồi cơm bốc khói
Bát xôi nghi ngút khói và hương lúa nếp ngày mùa được trao từ tay “em”: làm ấm lòng người chiến sĩ, xua tan vẻ mệt mói
Kết hợp từ khá lạ, quan hệ từ bị lược bớt: “mùa em”
làm giọng thơ ngọt ngào, êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho người đọc cảm nhận đoạn tiếp theo.
Tiểu kết: Đoạn thơ là một sự hồi tưởng của Quang Dũng về:
Thiên nhiên núi rừng miền Tây thơ mộng, dữ dội, hùng vĩ.
Người lính Tây Tiến: tâm hồn lạc quan, yêu đời, tinh thần quả cảm sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc.
Con người miền Tây: với tình cảm quân dân ấm áp.
2. Đoạn 2:Những kỉ niệm về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
2.a) Cảnh đêm liên hoan văn nghệ (4 câu thơ đầu).
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”
- Không gian: “doanh trại” nơi sống và làm việc của bộ đội, khô khan, nghiêm khắc
- "Hội đuốc hoa": mang màu sắc tình yêu (từ chữ Hán có nghĩa là hoa chúc) vừa duyên dáng, vừa rạng rỡ
- Động từ “bừng” chỉ ánh sáng của đuốc hoa, của lửa trại, sáng bừng lên, mạnh mẽ rực rỡ.
Với ánh sáng lung linh của lửa đuốc, âm thanh réo rắt của tiếng đàn, cảnh vât và con người như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực.
Một số hình ảnh về hội đuốc hoa
Nhân vật trung tâm trong đêm lửa trại ở đoạn thơ thứ hai là ai?
Người lính Tây Tiến
Hình ảnh ngọn đuốc
“Em”, các cô gái dân tộc nơi đoàn quân Tây Tiến đóng quân.
Những cô gái người lính Tây Tiến gặp gỡ trên đường hành quân.
Đáp án: C
Nhân
vật
trung
tâm
của
buổi
liên
hoan
văn
nghệ
“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”
“Kìa em”: là sự ngắm nghía, là lời thốt lên bất ngờ vì vẻ đẹp lộng lẫy, kiêu sa của các cô thiếu nữ.
Nhân vật “em” với áo xiêm lộng lẫy (“Xiêm áo tự bao giờ”) vừa e thẹn, vừa tình tứ (“e ấp”), vừa duyên dáng trong điệu vũ xứ lạ (“man điệu”).
Vẻ đẹp của nhân vật “em” làm say đắm lòng người chiến sĩ xa nhà, làm tiêu tan, đẩy lùi mọi gian khó, thử thách.
“Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
“Khèn”: nhạc cụ mang bản sắc riêng của Tây Bắc.
“Man điệu”: điệu nhạc, điệu múa mang âm hưởng Tây Bắc.
“e ấp”: sự ngại ngùng, thẹn thùng của các thiếu nữ dân tộc.
“Xây hồn thơ”: vẻ đẹp thơ mộng, thẹn thùng của các thiếu nữ dân tộc.
Chính trong không khí của âm nhạc, vũ điệu và con người ấy đã làm cho tâm hồn những người lính Tây Tiến thực sự ngất ngây trước người và cảnh.
Khèn
man điệu
e ấp
xây hồn thơ
Một số hình ảnh về nhạc cụ khèn và điệu múa của người
Tây Bắc
Không gian trong bốn câu thơ dưới đây được miêu tả như thế nào?
“ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi lòng nước lũ hoa đong đưa.”
Không gian của dòng sông trong một buổi chiều
mưa giăng
B. Không gian với ánh sáng lung linh của lửa đuốc
C. Không gian núi rừng Tây Bắc
D. Không gian ban đêm
Đáp án: A
2. b) Cảnh sông nước miền Tây lãng mạn, huyền ảo (4 câu cuối).
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”
- Không gian: buổi chiều sương.
“Châu Mộc”: tên một địa phương trong địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến.
“Chiều sương”: hình ảnh lãng mạn, nhẹ nhàng, thơ mộng.
“Ấy” bắt đầu vần với từ “thấy”, âm điệu câu thơ trĩu xuống.
“Hồn lau”: dáng lau qua màn sương trở nên có hồn.
“Nẻo – bến bờ”: Nẻo – hướng đi Đi đâu cũng thấy mênh mông, bao la
“Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Địệp ngữ: “có thấy – có nhớ”: thể hiện nỗi lưu luyến,nhớ nhung da diết.
“Dáng người trên độc mộc”: dáng vẻ uyển chuyển thướt tha với sự làm duyên của cánh hoa đong đưa theo dòng nước lũ.
“Dòng nước lũ – hoa đong đưa”: hình ảnh tưởng chừng đối lập mà lại hài hòa nên thơ.
Bút pháp gợi mà không tả.
Cảnh vật như có hồn, có sự thiêng liêng của núi rừng
Tiểu kết:
8 câu thơ của khổ 2 đã vẽ nên khung cảnh thiên nhiên, con người miền Tây với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình.
Chất nhạc, chất mơ mộng hòa quyện chặt chẽ với nhau trong đoạn thơ tạo nên một thế giới của cái đẹp.
Từng nét vẽ của Quang Dũng đều mềm mại, uyển chuyển, tinh tế.
Đây là đoạn thơ bộc lộ rõ nhất sự tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng trong tổng thể bài thơ.
3. Đoạn 3: Chân dung người lính Tây Tiến:
* Hai câu đầu: Chân dung hiện thực của người lính:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
- Vừa bi: Ngoại hình khác thường do hiện thực nghiệt ngã:
+ “không mọc tóc”: người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi giáp lá cà, người thì bị sốt rét đến rụng tóc
+ “Quân xanh màu lá”: nước da xanh xao do ăn uống thiếu thốn, sốt rét, bệnh tật hành hạ
- Vừa hùng: không né tránh hiện thực khốc liệt của chiến tranh nhưng qua cái nhìn lãng mạn
+ “đoàn binh không mọc tóc”: “đoàn binh” chứ không phải “đoàn quân” hào hùng, hình ảnh những anh “vệ trọc” nổi tiếng một thời
+ “Quân xanh màu lá” nhưng vẫn “dữ oai hùm” tính cách anh hùng, nét oai phong dữ dằn như chúa tể chốn rừng thiêng
* Hai câu tiếp: Giấc mộng lãng mạn của người lính.
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
- “Mắt trừng”: cái nhìn nẩy lửa đối với kẻ thù
thể hiện nét oai phong, lòng quyết tâm đánh giặc đến cùng
- “gửi mộng qua biên giới”: chiến đấu dũng cảm nhưng cũng rất nhớ quê hương
- Nỗi nhớ trong giấc mơ:
“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” :
+ Nhớ người yêu, những cô gái Hà Thành duyên dáng, xinh đẹp
- Nỗi nhớ trong giấc mơ:
“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” :
+ Nhớ người yêu, những cô gái Hà Thành duyên dáng, xinh đẹp
đằng sau vẻ ngoài dữ dằn, oai nghiêm là trái tim khao khát yêu thương đầy chất nghệ sĩ (họ mang trong mình một bóng hình lãng mạn)
Diễn tả đúng thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ
=> Cảm hứng có bi nhưng không luỵ: ta thấy cái gian khổ của chiến tranh nhưng cũng cảm nhận được vẻ oai hùng, lãng mạn của người lính
* Bốn câu tiếp: Cái chết bi tráng và sự bất tử:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
- Miêu tả cái chết nhưng không bi luỵ:
+ Những từ Hán Việt cổ kính: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”
tạo không khí trang trọng, thiêng liêng, làm giảm nhẹ cái bi thương của hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi.
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” : lí tưởng xả thân vì Tổ quốc, cống hiến tuổi xuân cho Tổ quốc.
Cụm từ “chẳng tiếc”: cách nói hết sức ngay thẳng, khí phách của người lính Tây Tiến.
Thái độ tự nguyện, không ngượng ép, họ ra đi với tâm trạng thanh thản
- Hai câu thơ tiếp theo thấm đẫm tinh thần bi tráng:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
+ “Áo bào thay chiếu”: sự thật bi thảm: những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả manh chiếu để che thân, phải mai táng bằng chính chiếc áo các anh mặc hàng ngày
+ Gọi áo các anh là “áo bào”: nghe trang trọng, thiêng liêng, thể hiện tình cảm yêu thương đồng đội
+ Cách nói giảm nói tránh “anh về đất” làm vơi đi cảm giác đau thương ẩn chứa hàm nghĩa: chết là hoá thân với đất mẹ, là hoá thân với non sông đất nước cái chết trở thành bất tử
+ Biện pháp nhân hoá + động từ “gầm”: dữ dội, hào hùng
âm thanh làm át đi cảm xúc bi thương: gợi về sự ra đi của những anh hùng nghĩa sĩ thuở xưa
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
đưa tiễn người là khúc nhạc bi tráng của núi sông cái chết thấm đẫm tinh thần bi tráng
=> Giọng thơ trang trọng: thể hiện tình cảm tiếc thương và sự trân trọng, kính cẩn trước sự hi sinh của đồng đội. Hai cảm hứng lãng mạn và bi tráng đan cài dựng nên tượng đài bất tử trong thơ.
4. Đoạn 4. Lời thề gắn bó với đoàn quân Tây Tiến và miền Tây Bắc:
“Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
- Cách nói khẳng định: “Tây Tiến người đi không hẹn ước”
tô đậm cái không khí chung của một thời Tây Tiến với lời thề kim cổ: ra đi không hẹn ngày về, một đi không trở lại (nhất khứ bất phục hoàn)
- Đường lên Tây Tiến: “thăm thẳm’, ‘chia phôi”
nỗi xót xa khi đã xa đồng đội, khi nghĩ đến đường lên Tây Tiến xa xôi, vời vợi.
- Nhà thơ khẳng định tâm hồn mình thuộc về Tây Tiến:
“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
+ “Mùa xuân ấy”: thời điểm lịch sử không bao giờ trở lại mốc thương nhớ vĩnh viễn trong trái tim những người lính Tây Tiến một thời
+ Cách nói đối lập:
Sầm Nứa >< về xuôi
(tâm hồn) (thể xác)
Sự gắn bó sâu nặng với đoàn quân Tây Tiến: dù đã rời xa nhưng tâm hồn, tình cảm vẫn đi cùng đồng đội, vẫn gắn bó máu thịt với những ngày, những nơi đã đi qua
=> Nhịp thơ chậm, giọng thơ trầm buồn nhưng tinh thần “chẳng về xuôi” làm toát lên vẻ hào hùng của cả đoạn thơ.
III – TỔNG KẾT
1.Giá trị nội dung
- Bài thơ đã khắc họa nên bức tranh thiên nhiên Tây Bắc với vẻ đẹp vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa tráng lệ và thơ mộng.
- Bài thơ xây dựng thành công hình tượng bi tráng về người lính Tây Tiến với vẻ đẹp hào hùng, hào hoa.
2. Giá trị nghệ thuật
- Bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn.
- Hình ảnh thơ phong phú, gần gũi, chân thực.
- Ngôn ngữ thơ linh hoạt, đa dạng.
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa.
SẴN
SÀNG
1
2
3
4
5
CÂU HỎI SAO DỄ THẾ?
LU?T CHOI
BỘ CÂU HỎI SỐ 2
BỘ CÂU HỎI SỐ 1
Đoàn quân Tây Tiến được thành lập năm nào?
Năm 2001, Quang Dũng được trao tặng giải thưởng gì?
Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng còn có tên khác nào?
Ba câu thơ MC đọc sau đây sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? (Tối thiểu 2)
Nhân vật trung tâm trong đêm lửa trại ở đoạn thơ thứ hai là ai?
1
2
3
4
5
CHÚC MỪNG
Nội dung chính đoạn 3 bài thơ “Tây Tiến” là?
Hãy kể tên một tác phẩm của nhà thơ Quang Dũng.
Quang Dũng là một nghệ sĩ…….. (Điền vào dấu ba chấm)
Tây Tiến được in trong tập?
Kể tên các địa phương được nhắc trong bài thơ Tây Tiến (Tối thiểu 4)
1
2
3
4
5
CHÚC MỪNG
HỘP QUÀ
BÍ ẨN
CHÚC BẠN
MAY MẮN
LẦN SAU
NHƯNG CHƯA HẾT ĐÂU…
ĐI HỌC CHÚNG TỚ SẼ SHIP QUA CHO CẬU SAU NHÉ!
CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN
ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE
TIẾT HỌC NGÀY HÔM NAY
TRƯỜNG THPT TRUNG GIÃ
TRUNG GIÃ – SÓC SƠN – HÀ NỘI
- Quang Dũng
Thành viên:
Đàm Thị Huệ
Nguyễn Trang ngân Hà
Hoàng Thị Thanh Mai
Đỗ Hoài Nhung
Bùi Bình Phương
Nguyễn Hồng Thắm
Đồng Thị Minh Thủy
Đỗ Quang Vinh
~D1 – K21 Trung Giã~
KHỞI ĐỘNG
Nhằm tiếp tế cho quân đội Pháp,
máy bay đã được sử dụng để thả
các thùng hàng.
Hãy tìm cách ngăn cản sự viện trợ của máy bay bằng cách trả lời đúng các câu hỏi
QUANG DŨNG tên khai sinh là:
A. Bùi Đình Diệm
B. Nguyễn Hoàng Ca
C. Nguyễn Minh Châu
D. Nguyễn Văn Báu
A
0
1
2
3
4
5
Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác. Rời xa đơn vị cũ chưa bao lâu, tại … (một làng thuộc tỉnh Hà Đông cũ), Quang Dũng viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”. Khi in lại, tác giả đổi tên bài thơ là “Tây Tiến”.
[Điền vào dấu ba chấm]
Phù Lưu Chanh
0
1
2
3
4
5
C
Ai lên … mùa xuân ấy
Hồn về …chẳng về xuôi.
[Điền vào dấu ba chấm ở trên ]
A. Châu Mộc, Hà Nội
B. Mường Hịch, Mai Châu
C. Khác
0
1
2
3
4
5
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Câu thơ đầu tiên của khổ thơ thứ 3 là?
0
1
2
3
4
5
B
0
1
2
3
4
5
Bài thơ “Tây Tiến” được Quang Dũng sáng tác trong thời gian nào sau đây:
A. Năm 1947, khi Quang Dũng còn là Đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến.
B. Cuối năm 1948, khi Quang Dũng không còn ở đoàn quân Tây Tiến mà đã chuyển sang đơn vị khác
C. Khi Quang Dũng làm công tác văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc.
D. Cả ba dữ kiện đều không chính xác.
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1. Tác giả :
- Tên khai sinh : Bùi Đình Diệm (1921 – 1988).
- Quê quán: Phượng Trì - Đan Phượng – Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).
- Nghệ sĩ đa tài: Làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Được biết nhiều với tư cách là nhà thơ dấu ấn hội hoạ và âm nhạc in đậm trong các thi phẩm.
Quang Dũng
GIA ĐÌNH CỦA NHÀ THƠ QUANG DŨNG
Tranh của nhà thơ Quang Dũng.
- Phong cách thơ: phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Hào hoa là hai chữ nói lên hồn cốt con người cũng như thơ ca Quang Dũng.
- 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
- Sáng tác chính: Mây đầu ô (thơ, 1968), Thơ văn Quang Dũng (tuyển thơ văn, 1988)
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1. Tác giả :
Quang Dũng
I. TÌM HIỂU CHUNG:
2. Tác phẩm:
a) Hoàn cảnh sáng tác
- Viết cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), khi ông đã chuyển sang đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ.
I. TÌM HIỂU CHUNG:
2. Tác phẩm:
b) Nhan đề:
Ban đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến”, năm 1975 khi in lại lấy tên là “Tây Tiến”.
In trong tập “Mây đầu ô”.
I. TÌM HIỂU CHUNG:
2. Tác phẩm:
c) Đoàn binh Tây Tiến
- Thời gian thành lập: đầu năm 1947, Quang Dũng là đại đội trưởng.
- Nhiệm vụ : Phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào và miền Tây Bắc Bộ của Việt Nam.
Địa bàn hoạt động: Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, miền Tây Thanh Hoá (Việt Nam), Sầm Nứa (Lào)
Sông Mã
ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG CỦA ĐOÀN QUÂN TÂY TIẾN
Địa bàn hoạt động
đoàn quân Tây Tiến
*Sầm Nưa
Địa bàn rộng lớn, hoang vu, hiểm trở, rừng thiêng nước độc
Sông Mã
Đường lên Tây Bắc
- Thành phần:
+ Phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên
+ Điều kiện chiến đấu gian khổ, thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ vẫn sống rất lạc quan, vẫn giữ cốt cách hào hoa, lãng mạn.
- Sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hoà Bình thành lập Trung đoàn 52.
Cựu chiến binh Tây Tiến với con đường Tây Tiến mới được đặt tên
d) Giọng đọc:
- Giọng đọc phù hợp với giọng điệu của các câu, các đoạn thơ.
Ngắt nhịp 4/3.
Những câu thơ nhiều thanh trắc: giọng khoẻ, chắc, gọn.
- Những câu thơ nhiều thanh bằng: giọng êm ái, ngân nga.
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống,
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời.
Anh bạn dãi dầu không bước nữa,
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét,
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người.
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
Kìa em xiêm áo tự bao giờ.
Khèn lên man điệu nàng e ấp,
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ?
Có nhớ dáng người trên độc mộc,
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa?
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
Áo bào thay chiếu, anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Tây Tiến người đi không hẹn ước,
Đường lên thăm thẳm một chia phôi.
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy,
Hồn về Sầm Nứa (*) chẳng về xuôi.
(*) Sầm Nứa: Tỉnh Sầm Nứa của nước Lào.
e) Bố cục:
- Phần 1: “Sông Mã ... thơm nếp xôi”:
Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội.
- Phần 2: “Doanh trại ... hoa đong đưa”:
Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.
- Phần 3: “Tây Tiến đoàn ... khúc độc hành”:
Chân dung người lính Tây Tiến
- Phần 4: “Tây Tiến ... chẳng về xuôi”:
Lời thề gắn bó với đoàn quân Tây Tiến và miền Tây Bắc
a. Mạch cảm xúc của bài thơ (2 câu đầu)
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.”
II. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN:
1. Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ và khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội.
+ Nỗi nhớ đơn vị cũ trào dâng, không kìm nén nổi, bật lên thành tiếng gọi Tây Tiến ơi!
+ Hai chữ “chơi vơi”: vẽ ra trạng thái cụ thể của nỗi nhớ, hình tượng hoá nỗi nhớ nỗi nhớ da diết, thường trực, ám ảnh; mênh mông, bao trùm cả không gian, thời gian
b)Câu 3 - 4: Hình ảnh đoàn quân trong đêm trên địa bàn gian lao, vất vả:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
+ Vừa tả thực: Sương mù vùng cao như che lấp, nuốt chửng đoàn quân mỏi mệt: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”
+ Vừa sử dụng bút pháp lãng mạn: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
gợi không gian huyền ảo: cảnh vật về khuya phủ đầy hơi sương lạnh giá
Câu thơ với nhiều thanh bằng: Tạo cảm xúc lâng lâng trong lòng người chiến sĩ khi bắt gặp cảnh hoa nở giữa rừng Hé mở vẻ đẹp hào hoa, lạc quan, yêu đời của người lính
- Bốn câu tiếp theo: Đặc tả hình thế sông núi hiểm trở nhưng không kém phần thơ mộng của miền Tây trên đường hành quân:
“ Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
+ Hai câu đầu:
Những từ ngữ giàu giá trị gợi hình “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, “cồn mây”, “súng ngửi trời”
Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 diễn tả thật đắc địa sự hiểm trở, trùng điệp, heo hút, độ cao ngất của núi đèo miền Tây như vô tận và thử thách người đi.
Hai chữ “ngửi trời” :
vừa đặc tả độ cao chót vót của núi (Người lính trèo lên ngọn núi cao dường như đang đi trong mây nổi thành cồn “heo hút”, mũi súng như chạm đến đỉnh trời)
vừa thể hiện tính chất tinh nghịch, khí phách ngang tàng, coi thường hiểm nguy của người lính Tây Tiến.
+ Câu thơ thứ ba với phép đối, như bẻ đôi:
“Ngàn thước lên cao - ngàn thước xuống
hình dung sự khó nhọc trên chặng đường hành quân leo dốc gian khổ
diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm
+ Câu thơ thứ tư đối lập với ba câu trên:
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
toàn thanh bằng, âm “ơi” kết thúc dòng thơ: câu thơ nhẹ như nhịp thở thư giãn của người lính
Hình dung: Người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa, thấy một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi tận hưởng cảm giác bình yên, lãng mạn của núi rừng
+ Cái hoang vu, hiểm trở tiếp tục được khai thác theo chiều thời gian:
Âm thanh: tiếng “thác gầm thét” trong mỗi buổi chiều, hình ảnh: “cọp trêu người” đêm đêm vang động cả chiến khu
Không gian hoang vu, rừng thiêng nước độc, đầy bí hiểm ấy như để thử chí can trường của các chiến binh Tây Tiến
c. Nhớ về người lính Tây Tiến:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
+Hai câu thơ: tiếp tục miêu tả hình ảnh người lính:
Cách nói giảm nói tránh về cái chết: “không bước nữa”, “bỏ quên đời”
Có hai cách hiểu:
Trên chặng đường hành quân gian khổ, người lính quá mỏi mệt nên kiệt sức, ngủ thiếp đi trong chốc lát
Người lính hi sinh một cách nhẹ nhàng, thanh thản như vừa hoàn thành xong nhiệm vụ với Tổ quốc
d. Nhớ về tình quân dân
+ Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng 2 câu thơ:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói,
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.
“Nhớ ôi”: bâng khuâng, vương vấn, ngọt ngào
Cảnh tượng thật đầm ấm: Sau chặng đường hành quân vất vả, người lính quây quần bên nồi cơm bốc khói
Bát xôi nghi ngút khói và hương lúa nếp ngày mùa được trao từ tay “em”: làm ấm lòng người chiến sĩ, xua tan vẻ mệt mói
Kết hợp từ khá lạ, quan hệ từ bị lược bớt: “mùa em”
làm giọng thơ ngọt ngào, êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho người đọc cảm nhận đoạn tiếp theo.
Tiểu kết: Đoạn thơ là một sự hồi tưởng của Quang Dũng về:
Thiên nhiên núi rừng miền Tây thơ mộng, dữ dội, hùng vĩ.
Người lính Tây Tiến: tâm hồn lạc quan, yêu đời, tinh thần quả cảm sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc.
Con người miền Tây: với tình cảm quân dân ấm áp.
2. Đoạn 2:Những kỉ niệm về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng.
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
2.a) Cảnh đêm liên hoan văn nghệ (4 câu thơ đầu).
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”
- Không gian: “doanh trại” nơi sống và làm việc của bộ đội, khô khan, nghiêm khắc
- "Hội đuốc hoa": mang màu sắc tình yêu (từ chữ Hán có nghĩa là hoa chúc) vừa duyên dáng, vừa rạng rỡ
- Động từ “bừng” chỉ ánh sáng của đuốc hoa, của lửa trại, sáng bừng lên, mạnh mẽ rực rỡ.
Với ánh sáng lung linh của lửa đuốc, âm thanh réo rắt của tiếng đàn, cảnh vât và con người như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực.
Một số hình ảnh về hội đuốc hoa
Nhân vật trung tâm trong đêm lửa trại ở đoạn thơ thứ hai là ai?
Người lính Tây Tiến
Hình ảnh ngọn đuốc
“Em”, các cô gái dân tộc nơi đoàn quân Tây Tiến đóng quân.
Những cô gái người lính Tây Tiến gặp gỡ trên đường hành quân.
Đáp án: C
Nhân
vật
trung
tâm
của
buổi
liên
hoan
văn
nghệ
“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”
“Kìa em”: là sự ngắm nghía, là lời thốt lên bất ngờ vì vẻ đẹp lộng lẫy, kiêu sa của các cô thiếu nữ.
Nhân vật “em” với áo xiêm lộng lẫy (“Xiêm áo tự bao giờ”) vừa e thẹn, vừa tình tứ (“e ấp”), vừa duyên dáng trong điệu vũ xứ lạ (“man điệu”).
Vẻ đẹp của nhân vật “em” làm say đắm lòng người chiến sĩ xa nhà, làm tiêu tan, đẩy lùi mọi gian khó, thử thách.
“Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
“Khèn”: nhạc cụ mang bản sắc riêng của Tây Bắc.
“Man điệu”: điệu nhạc, điệu múa mang âm hưởng Tây Bắc.
“e ấp”: sự ngại ngùng, thẹn thùng của các thiếu nữ dân tộc.
“Xây hồn thơ”: vẻ đẹp thơ mộng, thẹn thùng của các thiếu nữ dân tộc.
Chính trong không khí của âm nhạc, vũ điệu và con người ấy đã làm cho tâm hồn những người lính Tây Tiến thực sự ngất ngây trước người và cảnh.
Khèn
man điệu
e ấp
xây hồn thơ
Một số hình ảnh về nhạc cụ khèn và điệu múa của người
Tây Bắc
Không gian trong bốn câu thơ dưới đây được miêu tả như thế nào?
“ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy,
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi lòng nước lũ hoa đong đưa.”
Không gian của dòng sông trong một buổi chiều
mưa giăng
B. Không gian với ánh sáng lung linh của lửa đuốc
C. Không gian núi rừng Tây Bắc
D. Không gian ban đêm
Đáp án: A
2. b) Cảnh sông nước miền Tây lãng mạn, huyền ảo (4 câu cuối).
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ”
- Không gian: buổi chiều sương.
“Châu Mộc”: tên một địa phương trong địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến.
“Chiều sương”: hình ảnh lãng mạn, nhẹ nhàng, thơ mộng.
“Ấy” bắt đầu vần với từ “thấy”, âm điệu câu thơ trĩu xuống.
“Hồn lau”: dáng lau qua màn sương trở nên có hồn.
“Nẻo – bến bờ”: Nẻo – hướng đi Đi đâu cũng thấy mênh mông, bao la
“Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Địệp ngữ: “có thấy – có nhớ”: thể hiện nỗi lưu luyến,nhớ nhung da diết.
“Dáng người trên độc mộc”: dáng vẻ uyển chuyển thướt tha với sự làm duyên của cánh hoa đong đưa theo dòng nước lũ.
“Dòng nước lũ – hoa đong đưa”: hình ảnh tưởng chừng đối lập mà lại hài hòa nên thơ.
Bút pháp gợi mà không tả.
Cảnh vật như có hồn, có sự thiêng liêng của núi rừng
Tiểu kết:
8 câu thơ của khổ 2 đã vẽ nên khung cảnh thiên nhiên, con người miền Tây với vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình.
Chất nhạc, chất mơ mộng hòa quyện chặt chẽ với nhau trong đoạn thơ tạo nên một thế giới của cái đẹp.
Từng nét vẽ của Quang Dũng đều mềm mại, uyển chuyển, tinh tế.
Đây là đoạn thơ bộc lộ rõ nhất sự tài hoa, lãng mạn của Quang Dũng trong tổng thể bài thơ.
3. Đoạn 3: Chân dung người lính Tây Tiến:
* Hai câu đầu: Chân dung hiện thực của người lính:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
- Vừa bi: Ngoại hình khác thường do hiện thực nghiệt ngã:
+ “không mọc tóc”: người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi giáp lá cà, người thì bị sốt rét đến rụng tóc
+ “Quân xanh màu lá”: nước da xanh xao do ăn uống thiếu thốn, sốt rét, bệnh tật hành hạ
- Vừa hùng: không né tránh hiện thực khốc liệt của chiến tranh nhưng qua cái nhìn lãng mạn
+ “đoàn binh không mọc tóc”: “đoàn binh” chứ không phải “đoàn quân” hào hùng, hình ảnh những anh “vệ trọc” nổi tiếng một thời
+ “Quân xanh màu lá” nhưng vẫn “dữ oai hùm” tính cách anh hùng, nét oai phong dữ dằn như chúa tể chốn rừng thiêng
* Hai câu tiếp: Giấc mộng lãng mạn của người lính.
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
- “Mắt trừng”: cái nhìn nẩy lửa đối với kẻ thù
thể hiện nét oai phong, lòng quyết tâm đánh giặc đến cùng
- “gửi mộng qua biên giới”: chiến đấu dũng cảm nhưng cũng rất nhớ quê hương
- Nỗi nhớ trong giấc mơ:
“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” :
+ Nhớ người yêu, những cô gái Hà Thành duyên dáng, xinh đẹp
- Nỗi nhớ trong giấc mơ:
“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” :
+ Nhớ người yêu, những cô gái Hà Thành duyên dáng, xinh đẹp
đằng sau vẻ ngoài dữ dằn, oai nghiêm là trái tim khao khát yêu thương đầy chất nghệ sĩ (họ mang trong mình một bóng hình lãng mạn)
Diễn tả đúng thế giới tâm hồn bên trong đầy mộng mơ của họ
=> Cảm hứng có bi nhưng không luỵ: ta thấy cái gian khổ của chiến tranh nhưng cũng cảm nhận được vẻ oai hùng, lãng mạn của người lính
* Bốn câu tiếp: Cái chết bi tráng và sự bất tử:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
- Miêu tả cái chết nhưng không bi luỵ:
+ Những từ Hán Việt cổ kính: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”
tạo không khí trang trọng, thiêng liêng, làm giảm nhẹ cái bi thương của hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi.
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” : lí tưởng xả thân vì Tổ quốc, cống hiến tuổi xuân cho Tổ quốc.
Cụm từ “chẳng tiếc”: cách nói hết sức ngay thẳng, khí phách của người lính Tây Tiến.
Thái độ tự nguyện, không ngượng ép, họ ra đi với tâm trạng thanh thản
- Hai câu thơ tiếp theo thấm đẫm tinh thần bi tráng:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
+ “Áo bào thay chiếu”: sự thật bi thảm: những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả manh chiếu để che thân, phải mai táng bằng chính chiếc áo các anh mặc hàng ngày
+ Gọi áo các anh là “áo bào”: nghe trang trọng, thiêng liêng, thể hiện tình cảm yêu thương đồng đội
+ Cách nói giảm nói tránh “anh về đất” làm vơi đi cảm giác đau thương ẩn chứa hàm nghĩa: chết là hoá thân với đất mẹ, là hoá thân với non sông đất nước cái chết trở thành bất tử
+ Biện pháp nhân hoá + động từ “gầm”: dữ dội, hào hùng
âm thanh làm át đi cảm xúc bi thương: gợi về sự ra đi của những anh hùng nghĩa sĩ thuở xưa
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
đưa tiễn người là khúc nhạc bi tráng của núi sông cái chết thấm đẫm tinh thần bi tráng
=> Giọng thơ trang trọng: thể hiện tình cảm tiếc thương và sự trân trọng, kính cẩn trước sự hi sinh của đồng đội. Hai cảm hứng lãng mạn và bi tráng đan cài dựng nên tượng đài bất tử trong thơ.
4. Đoạn 4. Lời thề gắn bó với đoàn quân Tây Tiến và miền Tây Bắc:
“Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
- Cách nói khẳng định: “Tây Tiến người đi không hẹn ước”
tô đậm cái không khí chung của một thời Tây Tiến với lời thề kim cổ: ra đi không hẹn ngày về, một đi không trở lại (nhất khứ bất phục hoàn)
- Đường lên Tây Tiến: “thăm thẳm’, ‘chia phôi”
nỗi xót xa khi đã xa đồng đội, khi nghĩ đến đường lên Tây Tiến xa xôi, vời vợi.
- Nhà thơ khẳng định tâm hồn mình thuộc về Tây Tiến:
“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”
+ “Mùa xuân ấy”: thời điểm lịch sử không bao giờ trở lại mốc thương nhớ vĩnh viễn trong trái tim những người lính Tây Tiến một thời
+ Cách nói đối lập:
Sầm Nứa >< về xuôi
(tâm hồn) (thể xác)
Sự gắn bó sâu nặng với đoàn quân Tây Tiến: dù đã rời xa nhưng tâm hồn, tình cảm vẫn đi cùng đồng đội, vẫn gắn bó máu thịt với những ngày, những nơi đã đi qua
=> Nhịp thơ chậm, giọng thơ trầm buồn nhưng tinh thần “chẳng về xuôi” làm toát lên vẻ hào hùng của cả đoạn thơ.
III – TỔNG KẾT
1.Giá trị nội dung
- Bài thơ đã khắc họa nên bức tranh thiên nhiên Tây Bắc với vẻ đẹp vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa tráng lệ và thơ mộng.
- Bài thơ xây dựng thành công hình tượng bi tráng về người lính Tây Tiến với vẻ đẹp hào hùng, hào hoa.
2. Giá trị nghệ thuật
- Bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn.
- Hình ảnh thơ phong phú, gần gũi, chân thực.
- Ngôn ngữ thơ linh hoạt, đa dạng.
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa.
SẴN
SÀNG
1
2
3
4
5
CÂU HỎI SAO DỄ THẾ?
LU?T CHOI
BỘ CÂU HỎI SỐ 2
BỘ CÂU HỎI SỐ 1
Đoàn quân Tây Tiến được thành lập năm nào?
Năm 2001, Quang Dũng được trao tặng giải thưởng gì?
Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng còn có tên khác nào?
Ba câu thơ MC đọc sau đây sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? (Tối thiểu 2)
Nhân vật trung tâm trong đêm lửa trại ở đoạn thơ thứ hai là ai?
1
2
3
4
5
CHÚC MỪNG
Nội dung chính đoạn 3 bài thơ “Tây Tiến” là?
Hãy kể tên một tác phẩm của nhà thơ Quang Dũng.
Quang Dũng là một nghệ sĩ…….. (Điền vào dấu ba chấm)
Tây Tiến được in trong tập?
Kể tên các địa phương được nhắc trong bài thơ Tây Tiến (Tối thiểu 4)
1
2
3
4
5
CHÚC MỪNG
HỘP QUÀ
BÍ ẨN
CHÚC BẠN
MAY MẮN
LẦN SAU
NHƯNG CHƯA HẾT ĐÂU…
ĐI HỌC CHÚNG TỚ SẼ SHIP QUA CHO CẬU SAU NHÉ!
CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN
ĐÃ CHÚ Ý LẮNG NGHE
 







Các ý kiến mới nhất