Tìm kiếm Bài giảng
Bài 30. Ôn tập về truyện

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Anh
Ngày gửi: 16h:05' 11-10-2021
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 665
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Ngọc Anh
Ngày gửi: 16h:05' 11-10-2021
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 665
Số lượt thích:
0 người
Ơn t?p truy?n
(Vi?t Nam)
Tên tác phẩm :
Những ngôi sao xa xôi
Tác giả :
Lê Minh Khuê
Năm sáng tác :
1971
Nội dung chính :
Cuộc sống, chiến đấu của ba cô gái thanh niên xung phong trên một cao điểm ở tuyến đường Trường Sơn trong những năm chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Truyện làm nổi bật tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của họ.
Tên tác phẩm :
Làng
Tác giả :
Kim Lân
Năm sáng tác :
1948
Nội dung chính :
Qua tâm trạng đau xót, tủi hổ của ông Hai ở nơi tản cư khi nghe tin đồn làng mình theo giặc, truyện thể hiện tình yêu làng quê sâu sắc thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân.
Tên tác phẩm :
Bến quê
Tác giả :
Nguyễn Minh Châu
Năm sáng tác :
Trong tập Bến quê (1985)
Nội dung chính :
Qua những cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật Nhĩ vào lúc cuối đời trên giường bệnh, truyện thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những giá trị và vẻ đẹp bình dị, gần gũi của cuộc sống, của quê hương.
Tên tác phẩm :
Chiếc lược ngà
Tác giả :
Nguyễn Quang Sáng
Năm sáng tác :
1966
Nội dung chính :
Câu chuyện éo le và cảm động về hai cha con: ông Sáu và bé Thu trong lần ông về thăm nhà và ở khu căn cứ. Qua đó, truyện ca ngợi tình cha con thắm thiết trong hoàn cảnh chiến tranh.
Tên tác phẩm :
Lặng lẽ Sa Pa
Tác giả :
Nguyễn Thành Long
Năm sáng tác :
1970
Nội dung chính :
Cuộc gặp gỡ tình cờ của ông họa sĩ, cô kĩ sư mới ra trường với người thanh niên làm việc một mình tại trạm khí tượng trên núi cao Sa Pa. Qua đó, truyện ca ngợi những người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống hiến sức mình cho đất nước.
1. Hãy lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
01.
Qua tâm trạng đau xót, tủi hổ của ông Hai ở nơi tản cư khi nghe tin đồn làng mình theo giặc, Truyện thể hiện tình yêu làng quê sâu sắc thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người dân
Xây dựng tình huống nhân vật, nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
02.
Cuộc gặp gỡ tình cờ của ông họa sĩ, cô kĩ sư mới ra trường với người thanh niên làm việc một mình tại trạm khí tượng trên núi cao Sa Pa. Qua đó truyện ca ngợi những người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống hiến sức mình cho đất nước.
Truyện xây dựng được tình huống hợp lí, cách kể chuyện tự nhiên, có sự kết hợp giữa tự sự, trữ tình với bình luận
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
03.
Câu chuyện éo le và cảm động về hai cha con: Ông Sáu và bé Thu trong lần ông về thăm nhà và ở khu căn cứ. Qua đó truyện ca ngợi tình cha con thắm thiết trong hoàn cảnh chiến tranh
Truyện thành công trong việc miêu tả tâm lí và xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật bé Thu.
Tiết 153: Ôn tập về truyện
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
04.
Qua những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ vào lúc cuối đời trên giường bệnh, truyện thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những giá trị và vẻ đẹp bình dị, gần gũi của cuộc sống, của quê hương.
Sự miêu tả tâm lí tinh tế, nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng, cách xây dựng tình huống, trần thuật theo dòng tâm trạng của nhân vật.
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
05.
Cuộc sống, chiến đấu của ba cô gái TNXP trên một cao điểm ở tuyến đường Trường Sơn trong những năm chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Truyện làm nổi bật tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của họ.
Truyện sử dụng vai kể là nhân vật chính, cách kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ sinh động và thành công trong miêu tả tâm lí nhân vật
I. BẢNG HỆ THỐNG KIẾN THỨC
Tiết 153: Ôn tập về truyện
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học.
2. Sắp xếp các truện ngắn theo các thời kì lịch sử:
Thời kì
kháng chiến
chống TD
Pháp
( 1946- 1954)
Lng - Kim Lõn
Thời kì K/c
Chống Mĩ
( 1964- 1975 )
Sau 1975
B?n quờ - Minh Chõu
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học
2. Sắp xếp các truyện ngắn theo các thời kì lịch sử
3. Những phẩm chất chung và những nét tính cách nổi bật của những con người Việt Nam yêu nưởc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ:
Những phẩm
Chất chung:
- Các tác phẩm trên đã phản ánh được một phần nét tiêu biểu của đời sống xã hội và con người Việt Nam,với tư tưởng và tình cảm của họ trong những thời kì lịch sử có nhiều biến cố lớn lao từ sau CM tháng Tám năm 1945. Chủ yếu là 2 cuộc K/c chống Pháp và Mĩ.
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học
2. Sắp xếp các truện ngắn theo các thời kì lịch sử
3. Những phẩm chất chung và những nét tính cách nổi bật của những con người Việt Nam yêu nưởc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
Ông Hai
Anh thanh niên
Bé Thu
Ông Sáu
Ba cô gái TNXP
3. Những phẩm chất chung và những nét tính cách nổi bật của những con người Việt Nam yêu nưởc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
Ông Hai
Anh thanh niên
Bé Thu
Ông Sáu
Ba cô gái TNXP
4. Một vài đặc điểm nghệ thuật của các truyện đã học trong chương trình lớp 9.
4. Một vài đặc điểm nghệ thuật của các truyện đã học trong chương trình lớp 9.
- Tình huống truyện:
+ Là hoàn cảnh, sự việc xảy ra (điều kiện cho câu chuyện phát triển).
+ Là hoàn cảnh sống và hoạt động của các nhân vật.
-> Làm cho câu chuyện hấp dẫn, góp phần thể hiện tính cách nhân vật và làm nổi bật chủ đề truyện.
5. Tình huống truyện đặc sắc.
Ở truyện Làng
- Tác giả đặt ông Hai vào tình huống gay cấn để làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước của ông. Tình huống ấy là cái tin làng ông theo giặc….
Ở truyện
Chiếc lược ngà
- Hai cha con gặp nhau trong 8 năm xa cách nhưng bé thu không nhận cha, đến lúc em nhậ cha và biểu lộ tình cảm thì anh Sáu phải ra đi.
- Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình yêu thương làm chiếc lược ngà cho con. Ông hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho bé Thu
-> Thể hiện tình cha con mãnh liệt, sâu sắc của ông Sáu và bé Thu
Ở Bến quê
- Đặt nhân vật Nhĩ trong một hoàn cảnh đặc biệt lúc trẻ có điều kiện đi khắp nơi trên thế giới mà không cảm nhận được vẻ đẹp của quê hương và tình yêu của gia đình. Khi cuối đời bị căn bệnh hiểm nghèo Nhĩ mới nhận ra điều đó nhưng không bao giờ anh làm được.
-> Giúp nhân vật bộc lộ những suy ngẫm, nhận thức về cuộc đời, con người.
Tiết 153: Ôn tập về truyện
4. Một vài đặc điểm nghệ thuật của các truyện đã học trong chương trình lớp 9.
- Trần thuật ở ngôi thứ nhất (nhân vật xưng hô “tôi”) có các truyện “Chiếc lược ngà ”, “ Những ngôi sao xa xôi ”.
Trần thuật ngôi thứ ba: trần thuật chủ yếu theo cái nhìn và giọng điệu của một nhân vật, thường là nhân vật chính (tuy không xuất hiện trực tiếp nhân vật kể chuyện xưng tôi) có các truyện như: Làng, Lặng lẽ Sa Pa, Bến quê.
Tiết 153: Ôn tập về truyện
4. Một vài đặc điểm N.thuật của các truyện đã học trong chương trình lớp 9.
- Phương thức trần thuật ngôi thứ nhất xưng tôi giúp người kể đi sâu vào tâm tư tình cảm của nhân vật, miêu tả được những diễn biến tâm lí tinh vi phức tạp đang diễn ra trong tâm hồn nhân vật. Song nó cũng trong việc miêu tả bao quát các đối tượng khách quan, khó có cái nhìn nhiều chiều, dễ gây sự đơn điệu trong giọng văn trần thuật.
Tiết 153: Ôn tập về truyện
4. Một vài đặc điểm N.thuật của các truyện đã học trong chương trình L9.
- Phương thức trần thuật ngôi thứ nhất xưng tôi giúp người kể đi sâu vào tâm tư tình cảm của nhân vật, miêu tả được những diễn biến tâm lí tinh vi phức tạp đang diễn ra trong tâm hồn nhân vật. Song nó cũng trong việc miêu tả bao quát các đối tượng khách quan, khó có cái nhìn nhiều chiều, dễ gây sự đơn điệu trong giọng văn trần thuật.
- Truyện kể ở ngôi thứ ba người kể dường như thấy hết, biết hết và biết tất cả mọi việc, mọi người, mọi tâm tư tình cảm của nhân vật… có khi miêu tả lạnh lùng, khách quan , tạo ra cái nhìn nhiều chiều, tránh được sự đơn điệu trong giọng văn trần thuật.
Tình huống truyện là gì?
- Tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó hoặc chịu đựng.
- Tình huống truyện là hoàn cảnh bất bình thường mà con người buộc phải bộc lộ bản lĩnh, tính cách của mình. Trong tác phẩm tự sự tình huống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện số phận và tính cách nhân vật, là một trong những vấn đề cốt lõi, là chìa khóa khi khám phá tác phẩm.
- Đặc trưng của truyện ngắn là cốt truyện và thông thường cốt truyện bắt đầu từ những sự kiện có vấn đề, đó là tình huống. Chính ở đó, nhà văn bộc lộ tài năng của mình. Nói cách khác, tình huống chính là một lát cắt của cuộc sống, là vực xoáy trên dòng sông, tình huống gắn liền với cốt truyện và chủ đề tư tưởng tác phẩm
Về tính chất, có thể thấy truyện ngắn có ba dạng chính, bởi chứa đựng ba dạng tinh huống truyện căn bản :
- Tình huống hành động:
Là loại sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bị đẩy tới một tình thế (thường là éo le) chỉ có thể giải quyết bằng hành động. Tình huống này :hường hướng tới một kiểu nhân vật: Nhân vật hành động. Tức là loại nhân vật chủ yếu lược hiện lên bằng hệ thống hành vi, hành động của nó, các bình diện khác ít được quan tâm. Do đó, nó quyết định đến diện mạo của toàn truyện : truyện ngắn giàu kịch tính. Thậm chí mỗi thiên truyện, ở dạng rõ nét nhất, có thể coi như một màn kịch, một vở kịch ngắn trong y phục văn xuôi (Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là một trường hợp tiêu biểu).
- Tình huống tâm trạng:
Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà ở đó nhân vật rơi vào một tình thế làm nảy sinh một biến động nào đó trong thế giới tình cảm. Tình huống này thường dẫn tới một kiểu nhân vật là : Con người tình cảm. Nghĩa là kiểu nhân vật được hiện lên chủ yếu bằng thế giới nội cảm của nó, nhà văn tạo dựng nên hình tượng nhân vật chủ yếu bằng một hệ thống chất liệu là cảm giác, cảm xúc với các phức hợp khác nhau của chúng. Còn các khía cạnh khác (như ngoại hình, hành động, lí tính…) ít được quan tâm. Và vì thế, nó quyết định đến diện mạo của toàn truyện. Đặc trưng thể loại này là truyện ngắn trữ tình (Truyện ngắn Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Thanh Châu, nhất là Thạch Lam nghiêng về dạng này).
- Tình huống nhận thức:
Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đó nhân vật được đẩy tới một tình thế bất thường : đối mặt với một bài học nhận thức, bật lên một vấn đề (về nhân sinh, về nghệ thuật) cần phải vỡ lẽ, giác ngộ. Kiểu nhân vật của dạng tình huống này đương nhiên là ’.nhân vật tư tưởng. Nghĩa là kiểu nhân vật được khai thác chủ yếu ở đời sống nhận thức lí tính của nó. Chất liệu cơ bản đế dệt nên nhân vật là hệ thống những quan sát, phân tích, suy lí, đúc kết, chiêm nghiệm, toan tính v.v… Mà trường hợp đậm đặc nhất là mỗi nhân vật giống như một tư tưởng được nhân vật hoá vậy.
Diện mạo của loại truyện ngắn này cũng đương nhiên là nghiêng về triết luận (nhiều truyện ngắn của Nam Cao, và của Nguyễn Khải ở giai đoạn sau này có lẽ nghiêng về kiểu ấy), cần lưu ý, ở những trường hợp cực đoan, nó có thể là truyện ngắn luận đề.
Tuy nhiên, sự phân loại này là tương đối. Trong thực tế, các dạng ấy đều ít nhiều có tính pha tạp chứ không hoàn toàn”thuần chủng” như mô tả. Viêc nhận diện chỉ dựa vào sự nổi trội của yếu tố nào đó.
Về số lượng, có thể thấy truyện ngắn có hai loại :
Truyện ngắn chỉ có một tình huống:
Cả truyện ngắn chỉ xoay quanh có một tình huống duy nhất bao trùm. Có thể nói đây là loại truyện ngắn điển hình.
Truyện ngắn có nhiều tình huống đan xen nhau:
Cả thiên truyện được dệt từ nhiều tình huống. Tuy nhiên, trong đó, chúng cũng phân vai thành chính – phụ (nghĩa là có cái nào đó là chủ chốt) chứ không phải tất cả đều ngang hàng nhau, theo lối dàn đều. Đây là dạng truyện ngắn không thật điển hình. Chúng thường có dáng dấp của một truyện dài thu nhỏ, hơn là một truyện ngắn thực thụ (trong chương trình cấp ba, có thể ví dụ : Chí phèo của Nam Cao, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Mùa lạc của Nguyễn khải, Tướng về hiru của Nguyễn Huy Thiệp…)
Từ chỗ coi tình huống là hạt nhân của cấu trúc thể loại truyện ngắn, có thể thấy rằng thực ra, về phân loại chỉ có truyện ngắn và truyện dài. Không có cái gọi là truyện vừa. Bởi việc phân định ra truyện vừa chỉ dựa vào có một tiêu chí rất phụ là độ dài trung bình của văn bản truyện mà thôi.
(Vi?t Nam)
Tên tác phẩm :
Những ngôi sao xa xôi
Tác giả :
Lê Minh Khuê
Năm sáng tác :
1971
Nội dung chính :
Cuộc sống, chiến đấu của ba cô gái thanh niên xung phong trên một cao điểm ở tuyến đường Trường Sơn trong những năm chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Truyện làm nổi bật tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của họ.
Tên tác phẩm :
Làng
Tác giả :
Kim Lân
Năm sáng tác :
1948
Nội dung chính :
Qua tâm trạng đau xót, tủi hổ của ông Hai ở nơi tản cư khi nghe tin đồn làng mình theo giặc, truyện thể hiện tình yêu làng quê sâu sắc thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người nông dân.
Tên tác phẩm :
Bến quê
Tác giả :
Nguyễn Minh Châu
Năm sáng tác :
Trong tập Bến quê (1985)
Nội dung chính :
Qua những cảm xúc và suy ngẫm của nhân vật Nhĩ vào lúc cuối đời trên giường bệnh, truyện thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những giá trị và vẻ đẹp bình dị, gần gũi của cuộc sống, của quê hương.
Tên tác phẩm :
Chiếc lược ngà
Tác giả :
Nguyễn Quang Sáng
Năm sáng tác :
1966
Nội dung chính :
Câu chuyện éo le và cảm động về hai cha con: ông Sáu và bé Thu trong lần ông về thăm nhà và ở khu căn cứ. Qua đó, truyện ca ngợi tình cha con thắm thiết trong hoàn cảnh chiến tranh.
Tên tác phẩm :
Lặng lẽ Sa Pa
Tác giả :
Nguyễn Thành Long
Năm sáng tác :
1970
Nội dung chính :
Cuộc gặp gỡ tình cờ của ông họa sĩ, cô kĩ sư mới ra trường với người thanh niên làm việc một mình tại trạm khí tượng trên núi cao Sa Pa. Qua đó, truyện ca ngợi những người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống hiến sức mình cho đất nước.
1. Hãy lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
01.
Qua tâm trạng đau xót, tủi hổ của ông Hai ở nơi tản cư khi nghe tin đồn làng mình theo giặc, Truyện thể hiện tình yêu làng quê sâu sắc thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến của người dân
Xây dựng tình huống nhân vật, nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
02.
Cuộc gặp gỡ tình cờ của ông họa sĩ, cô kĩ sư mới ra trường với người thanh niên làm việc một mình tại trạm khí tượng trên núi cao Sa Pa. Qua đó truyện ca ngợi những người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp, cống hiến sức mình cho đất nước.
Truyện xây dựng được tình huống hợp lí, cách kể chuyện tự nhiên, có sự kết hợp giữa tự sự, trữ tình với bình luận
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
03.
Câu chuyện éo le và cảm động về hai cha con: Ông Sáu và bé Thu trong lần ông về thăm nhà và ở khu căn cứ. Qua đó truyện ca ngợi tình cha con thắm thiết trong hoàn cảnh chiến tranh
Truyện thành công trong việc miêu tả tâm lí và xây dựng tính cách nhân vật, đặc biệt là nhân vật bé Thu.
Tiết 153: Ôn tập về truyện
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
04.
Qua những cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật Nhĩ vào lúc cuối đời trên giường bệnh, truyện thức tỉnh ở mọi người sự trân trọng những giá trị và vẻ đẹp bình dị, gần gũi của cuộc sống, của quê hương.
Sự miêu tả tâm lí tinh tế, nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng, cách xây dựng tình huống, trần thuật theo dòng tâm trạng của nhân vật.
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học:
05.
Cuộc sống, chiến đấu của ba cô gái TNXP trên một cao điểm ở tuyến đường Trường Sơn trong những năm chiến tranh chống Mĩ cứu nước. Truyện làm nổi bật tâm hồn trong sáng, giàu mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của họ.
Truyện sử dụng vai kể là nhân vật chính, cách kể chuyện tự nhiên, ngôn ngữ sinh động và thành công trong miêu tả tâm lí nhân vật
I. BẢNG HỆ THỐNG KIẾN THỨC
Tiết 153: Ôn tập về truyện
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học.
2. Sắp xếp các truện ngắn theo các thời kì lịch sử:
Thời kì
kháng chiến
chống TD
Pháp
( 1946- 1954)
Lng - Kim Lõn
Thời kì K/c
Chống Mĩ
( 1964- 1975 )
Sau 1975
B?n quờ - Minh Chõu
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học
2. Sắp xếp các truyện ngắn theo các thời kì lịch sử
3. Những phẩm chất chung và những nét tính cách nổi bật của những con người Việt Nam yêu nưởc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ:
Những phẩm
Chất chung:
- Các tác phẩm trên đã phản ánh được một phần nét tiêu biểu của đời sống xã hội và con người Việt Nam,với tư tưởng và tình cảm của họ trong những thời kì lịch sử có nhiều biến cố lớn lao từ sau CM tháng Tám năm 1945. Chủ yếu là 2 cuộc K/c chống Pháp và Mĩ.
1. Lập bảng thống kê các tác phẩm truyện đã học
2. Sắp xếp các truện ngắn theo các thời kì lịch sử
3. Những phẩm chất chung và những nét tính cách nổi bật của những con người Việt Nam yêu nưởc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
Ông Hai
Anh thanh niên
Bé Thu
Ông Sáu
Ba cô gái TNXP
3. Những phẩm chất chung và những nét tính cách nổi bật của những con người Việt Nam yêu nưởc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
Ông Hai
Anh thanh niên
Bé Thu
Ông Sáu
Ba cô gái TNXP
4. Một vài đặc điểm nghệ thuật của các truyện đã học trong chương trình lớp 9.
4. Một vài đặc điểm nghệ thuật của các truyện đã học trong chương trình lớp 9.
- Tình huống truyện:
+ Là hoàn cảnh, sự việc xảy ra (điều kiện cho câu chuyện phát triển).
+ Là hoàn cảnh sống và hoạt động của các nhân vật.
-> Làm cho câu chuyện hấp dẫn, góp phần thể hiện tính cách nhân vật và làm nổi bật chủ đề truyện.
5. Tình huống truyện đặc sắc.
Ở truyện Làng
- Tác giả đặt ông Hai vào tình huống gay cấn để làm bộc lộ sâu sắc tình cảm yêu làng, yêu nước của ông. Tình huống ấy là cái tin làng ông theo giặc….
Ở truyện
Chiếc lược ngà
- Hai cha con gặp nhau trong 8 năm xa cách nhưng bé thu không nhận cha, đến lúc em nhậ cha và biểu lộ tình cảm thì anh Sáu phải ra đi.
- Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình yêu thương làm chiếc lược ngà cho con. Ông hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho bé Thu
-> Thể hiện tình cha con mãnh liệt, sâu sắc của ông Sáu và bé Thu
Ở Bến quê
- Đặt nhân vật Nhĩ trong một hoàn cảnh đặc biệt lúc trẻ có điều kiện đi khắp nơi trên thế giới mà không cảm nhận được vẻ đẹp của quê hương và tình yêu của gia đình. Khi cuối đời bị căn bệnh hiểm nghèo Nhĩ mới nhận ra điều đó nhưng không bao giờ anh làm được.
-> Giúp nhân vật bộc lộ những suy ngẫm, nhận thức về cuộc đời, con người.
Tiết 153: Ôn tập về truyện
4. Một vài đặc điểm nghệ thuật của các truyện đã học trong chương trình lớp 9.
- Trần thuật ở ngôi thứ nhất (nhân vật xưng hô “tôi”) có các truyện “Chiếc lược ngà ”, “ Những ngôi sao xa xôi ”.
Trần thuật ngôi thứ ba: trần thuật chủ yếu theo cái nhìn và giọng điệu của một nhân vật, thường là nhân vật chính (tuy không xuất hiện trực tiếp nhân vật kể chuyện xưng tôi) có các truyện như: Làng, Lặng lẽ Sa Pa, Bến quê.
Tiết 153: Ôn tập về truyện
4. Một vài đặc điểm N.thuật của các truyện đã học trong chương trình lớp 9.
- Phương thức trần thuật ngôi thứ nhất xưng tôi giúp người kể đi sâu vào tâm tư tình cảm của nhân vật, miêu tả được những diễn biến tâm lí tinh vi phức tạp đang diễn ra trong tâm hồn nhân vật. Song nó cũng trong việc miêu tả bao quát các đối tượng khách quan, khó có cái nhìn nhiều chiều, dễ gây sự đơn điệu trong giọng văn trần thuật.
Tiết 153: Ôn tập về truyện
4. Một vài đặc điểm N.thuật của các truyện đã học trong chương trình L9.
- Phương thức trần thuật ngôi thứ nhất xưng tôi giúp người kể đi sâu vào tâm tư tình cảm của nhân vật, miêu tả được những diễn biến tâm lí tinh vi phức tạp đang diễn ra trong tâm hồn nhân vật. Song nó cũng trong việc miêu tả bao quát các đối tượng khách quan, khó có cái nhìn nhiều chiều, dễ gây sự đơn điệu trong giọng văn trần thuật.
- Truyện kể ở ngôi thứ ba người kể dường như thấy hết, biết hết và biết tất cả mọi việc, mọi người, mọi tâm tư tình cảm của nhân vật… có khi miêu tả lạnh lùng, khách quan , tạo ra cái nhìn nhiều chiều, tránh được sự đơn điệu trong giọng văn trần thuật.
Tình huống truyện là gì?
- Tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ, hành động, đối phó hoặc chịu đựng.
- Tình huống truyện là hoàn cảnh bất bình thường mà con người buộc phải bộc lộ bản lĩnh, tính cách của mình. Trong tác phẩm tự sự tình huống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện số phận và tính cách nhân vật, là một trong những vấn đề cốt lõi, là chìa khóa khi khám phá tác phẩm.
- Đặc trưng của truyện ngắn là cốt truyện và thông thường cốt truyện bắt đầu từ những sự kiện có vấn đề, đó là tình huống. Chính ở đó, nhà văn bộc lộ tài năng của mình. Nói cách khác, tình huống chính là một lát cắt của cuộc sống, là vực xoáy trên dòng sông, tình huống gắn liền với cốt truyện và chủ đề tư tưởng tác phẩm
Về tính chất, có thể thấy truyện ngắn có ba dạng chính, bởi chứa đựng ba dạng tinh huống truyện căn bản :
- Tình huống hành động:
Là loại sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bị đẩy tới một tình thế (thường là éo le) chỉ có thể giải quyết bằng hành động. Tình huống này :hường hướng tới một kiểu nhân vật: Nhân vật hành động. Tức là loại nhân vật chủ yếu lược hiện lên bằng hệ thống hành vi, hành động của nó, các bình diện khác ít được quan tâm. Do đó, nó quyết định đến diện mạo của toàn truyện : truyện ngắn giàu kịch tính. Thậm chí mỗi thiên truyện, ở dạng rõ nét nhất, có thể coi như một màn kịch, một vở kịch ngắn trong y phục văn xuôi (Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là một trường hợp tiêu biểu).
- Tình huống tâm trạng:
Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà ở đó nhân vật rơi vào một tình thế làm nảy sinh một biến động nào đó trong thế giới tình cảm. Tình huống này thường dẫn tới một kiểu nhân vật là : Con người tình cảm. Nghĩa là kiểu nhân vật được hiện lên chủ yếu bằng thế giới nội cảm của nó, nhà văn tạo dựng nên hình tượng nhân vật chủ yếu bằng một hệ thống chất liệu là cảm giác, cảm xúc với các phức hợp khác nhau của chúng. Còn các khía cạnh khác (như ngoại hình, hành động, lí tính…) ít được quan tâm. Và vì thế, nó quyết định đến diện mạo của toàn truyện. Đặc trưng thể loại này là truyện ngắn trữ tình (Truyện ngắn Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Thanh Châu, nhất là Thạch Lam nghiêng về dạng này).
- Tình huống nhận thức:
Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đó nhân vật được đẩy tới một tình thế bất thường : đối mặt với một bài học nhận thức, bật lên một vấn đề (về nhân sinh, về nghệ thuật) cần phải vỡ lẽ, giác ngộ. Kiểu nhân vật của dạng tình huống này đương nhiên là ’.nhân vật tư tưởng. Nghĩa là kiểu nhân vật được khai thác chủ yếu ở đời sống nhận thức lí tính của nó. Chất liệu cơ bản đế dệt nên nhân vật là hệ thống những quan sát, phân tích, suy lí, đúc kết, chiêm nghiệm, toan tính v.v… Mà trường hợp đậm đặc nhất là mỗi nhân vật giống như một tư tưởng được nhân vật hoá vậy.
Diện mạo của loại truyện ngắn này cũng đương nhiên là nghiêng về triết luận (nhiều truyện ngắn của Nam Cao, và của Nguyễn Khải ở giai đoạn sau này có lẽ nghiêng về kiểu ấy), cần lưu ý, ở những trường hợp cực đoan, nó có thể là truyện ngắn luận đề.
Tuy nhiên, sự phân loại này là tương đối. Trong thực tế, các dạng ấy đều ít nhiều có tính pha tạp chứ không hoàn toàn”thuần chủng” như mô tả. Viêc nhận diện chỉ dựa vào sự nổi trội của yếu tố nào đó.
Về số lượng, có thể thấy truyện ngắn có hai loại :
Truyện ngắn chỉ có một tình huống:
Cả truyện ngắn chỉ xoay quanh có một tình huống duy nhất bao trùm. Có thể nói đây là loại truyện ngắn điển hình.
Truyện ngắn có nhiều tình huống đan xen nhau:
Cả thiên truyện được dệt từ nhiều tình huống. Tuy nhiên, trong đó, chúng cũng phân vai thành chính – phụ (nghĩa là có cái nào đó là chủ chốt) chứ không phải tất cả đều ngang hàng nhau, theo lối dàn đều. Đây là dạng truyện ngắn không thật điển hình. Chúng thường có dáng dấp của một truyện dài thu nhỏ, hơn là một truyện ngắn thực thụ (trong chương trình cấp ba, có thể ví dụ : Chí phèo của Nam Cao, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Mùa lạc của Nguyễn khải, Tướng về hiru của Nguyễn Huy Thiệp…)
Từ chỗ coi tình huống là hạt nhân của cấu trúc thể loại truyện ngắn, có thể thấy rằng thực ra, về phân loại chỉ có truyện ngắn và truyện dài. Không có cái gọi là truyện vừa. Bởi việc phân định ra truyện vừa chỉ dựa vào có một tiêu chí rất phụ là độ dài trung bình của văn bản truyện mà thôi.
 









Các ý kiến mới nhất