Bài 8. Qua Đèo Ngang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Tâm
Ngày gửi: 22h:37' 17-10-2021
Dung lượng: 8.4 MB
Số lượt tải: 632
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Tâm
Ngày gửi: 22h:37' 17-10-2021
Dung lượng: 8.4 MB
Số lượt tải: 632
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Huỳnh Minh Thảo)
Văn bản:
- Bà Huyện Thanh Quan -
Đèo Ngang nằm trên dãy núi Hoành Sơn - dải núi chạy từ dãy Trường Sơn phía tây đâm ngang ra tới biển Đông. Do tính chất địa lý và địa hình đặc biệt như vậy nên từ xưa Hoành Sơn và đèo Ngang luôn là chốt giữ hiểm yếu trên con đường thiên lý Bắc - Nam. Qua những thăng trầm của lịch sử và bao cuộc chiến tranh, ngày nay đèo Ngang là ranh giới giữa tỉnh Hà Tĩnh (phía bắc, thuộc xã Kỳ Nam, thị xã Kỳ Anh) và tỉnh Quảng Bình (phía nam, thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch).
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Tác giả
Tên thật: Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX
Quê quán: Nghi Tàm (nay thuộc Tây Hồ, Hà Nội)
Cuộc đời:
Lấy chồng là tri huyện Thanh Quan (nay thuộc Thái Bình) nên được gọi là bà huyện Thanh Quan
- Là người học rộng, tài cao, nữ sĩ tài danh hiếm có thời trung đại.
Giữ chức Giáo tập trong cung, chuyên dạy lễ nghi, văn chương cho công chúa, phi tần.
Sự nghiệp: để lại 6 bài thơ Nôm Đường luật
Phong cách sáng tác: Bác học, hoài cổ
Hình ảnh minh họa
Bà Huyện Thanh Quan
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
- Bà Huyện Thanh Quan -
* Hoàn cảnh ra đời:
* Kiểu văn bản :
Thế kỉ XIX, khi bà Huyện Thanh Quan lần đầu xa quê, vào kinh đô Huế nhận chức “Cung trung giáo tập”.
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật
* Thể loại:
Biểu cảm
* Phương thức biểu đạt :
Biểu cảm ( miêu tả)
- Số chữ: 7 chữ /1 câu.
- Bố cục: 4 phần: Đề , thực, luận , kết
- Gieo vần:Tiếng thứ 7 câu 1,2,4,6,8
- Phép đối: Cặp câu 3-4, 5-6 đối về thanh điệu và từ loại
- Luật bằng trắc: Tiếng thứ 2,4,6 của cặp câu 1-2; 3-4; 5-6; 7-8 phải đối nhau về thanh điệu
- Số câu: 8 câu /1 bài
- Niêm luật: Tiếng 2,4,6 trong các cặp câu 1-8; 2-3; 4-5; 6-7 cùng thanh điệu
Bố cục
1
Hai câu đề: Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang
2
Hai câu thực: Cuộc sống con người ở Đèo Ngang
3
Hai câu luận: Tâm trạng của tác giả
4
Hai câu kết: Nỗi cô đơn đến tột cùng của nhà thơ
- Bà Huyện Thanh Quan -
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
- Thời gian: Bóng xế tà
- Cảnh vật: Cỏ , cây, đá
- Không gian: Đèo Ngang
Nghệ thuật
- Điệp ngữ: chen
Liệt kê( cỏ, cây, đá)
Bút pháp tả thực
Gợi lên một không gian rộng lớn tràn ngập sắc đỏ của hoàng hôn
Thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ, cây cối rậm rạp, um tùm
Cảnh sắc thiên nhiên gợi buồn, cô đơn, trống trải
- Nhận xét về nghệ thuật dùng trong 2 câu thơ?
- Không gian
Thời gian
Cảnh vật được tác giả nhắc đến trong 2 câu thơ ?
Nó gợi ra cho em 1 không gia như thế nào ?
Cảnh ấy sẽ tác động đến lòng nhân vật trữ tình một tình cảm như thế nào
a
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
=> Tạo ấn tượng về không gian (cao rộng >- Phép đối cân chỉnh trở thành mẫu mực, cổ điển (đối ý, thanh, từ loại, cấu trúc)
* Từ láy: Lom khom, lác đác
* Lượng từ: Vài, mấy
Ngòi bút tài hoa đến độ mẫu mực.
Gợi lên cảnh làng quê miền núi nghèo nàn, tiêu điều, xơ xác, hoang vắng. Con người nhỏ bé, vất vả, cực nhọc,
Con người lao động nhỏ bé, ít ỏi, vất vả.
Nhà cửa thưa thớt, nghèo nàn .
=> Tô đậm vẻ heo hút, quạnh vắng của đèo Ngang
* Đảo ngữ + phép đối ( lom khom, lác đác , tiều vài chú, chợ mấy nhà)
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
* Nghệ thuật:
(Nhớ nước – thương nhà; Đau lòng – mỏi miệng; quốc, gia)
+ Đảo ngữ, đối :
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
V C
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
V V
+ Chơi chữ: quốc quốc, gia gia
+ Nhân hóa , ẩn dụ
* Nội dung
- Nó lên không gian rộng lớn, hoang vắng, chỉ có âm thanh của các loài chim quốc khắc khoải , cảnh vật càng trở nên u buồn . Nó tác động vào lòng người xa quê 1 nỗi nhớ nhà nhớ quê hương da diết
- Gửi tâm sự hoài cổ, tiếc nuối về quá khứ tươi đẹp của dân tộc.
Theo truyền thuyết Trung Quốc, Thục Đế mất nước, hồn biến thành chim cuốc, kêu nhớ nước (quốc: nước) đến nhỏ ra máu mà chết
- Cái gia gia: chim đa đa (Trong câu hiểu với nghĩa gia: nhà)
Tâm trạng nhớ nước, thương nhà.
Nỗi niềm hoài cổ khi triều Lê suy vong
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
+ Đối lập ( Không gian mênh mông >< sự nhỏ bé của người khách bộ hành)=> càng làm nổi bật lên sự lẻ loi cô độc của người lữ khách nơi quê lạ.
+ Liệt kê: Trời, non, nước=> Gợi ra 1 không gian mênh mông.
+ Điệp ngữ:
“Ta với ta”
Đối diện với chính mình.
Các con chữ câu kết đều mang một nỗi niềm đơn chiếc: “một - mảnh - riêng – ta – ta
Tất cả đều cực tả nỗi buồn thầm lặng cô đơn đến tột cùng của người lữ thứ.
* Nghệ thuật
* Nội dung : Người khách bộ hành dừng bước trên đỉnh đèo Ngang ngắm nhìn trời non nước. Giữa không gian bao la ấy, người đó đã gặp lại chính mình. Sự đơn độc trên bước đường làm cho người khách ấy càng buồn, càng cô đơn. Đâu đó ẩn sau câu thơ là sự lo lắng cho những ngày sắp tới.
III. TỔNG KẾT
Cảnh đèo Ngang
Thời gian bóng xế tà
gợi cảm xúc buồn man mác
Không gian
“trời non nước”: mênh mông, hùng vĩ
gợi cảm giác cô đơn, nhỏ bé
Cỏ cây, hoa lá được miêu tả bằng phép lặp động từ chen gợi lên khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, rậm rạp
Con người
được khắc họa bằng từ láy “lom khom” và phép đảo“tiều vài chú” làm nổi bật vẻ hoang vu
Cuộc sống con người
hiện lên với vẻ thưa thớt qua từ láy “lác đác” và phép đảo “chợ mấy nhà”
Âm thanh
Từ tượng thanh “quốc quốc”, “gia gia” gợi lên cảm xúc buồn nhớ, cô đơn của nhà thơ (nghệ thuật tả cảnh ngụ tình). Nhà thơ nhớ nước dù không xa nước vì: nhớ về thời Hậu Lê
Tâm trạng của nhà thơ khi qua Đèo Ngang:
Nhớ nước, thương nhà và mang một nỗi buồn thầm lặng, bâng khuâng
III/ Tổng kết ghi nhớ
1/ Nghệ thuật:
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật , lời ít ý nhiều , hàm xúc sâu sa
Lời thơ trang nhã, giàu hình ảnh gợi cảm
Sử dụng thành công các biện pháp nghệ thuật; đối , đảo, điệp, láy, nhân hóa, ẩn dụ, chơi chữ
Thành công trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
2/ Nội dung
Bài thơ đã khắc họa bức tranh thiên nhiên Đèo Ngang : đẹp, hoang sơ, man mát buồn
Qua đó , tác giả đã gửi vào bài thơ tâm trạng buồn , cô đơn, nỗi nhớ gia đình, quê hương da diết của người khách bộ hành
Đồng thơ , tác giả gửi gắm tâm sự hoài cổ, tiếc nuối về một thời vàng son của xã hội phong kiến .
Luyện tập
Nhớ nước, nhớ không gian lịch sử - văn hóa của 1 thời đại đã qua
Thương nhà, nhớ mái ấm gia đình, quê hương.
Nhớ nước, thương nhà và mang một nỗi buồn thầm lặng, bâng khuâng.
Nỗi uất ức, oan khuất khi phải từ bỏ nơi mình yêu quý để đi đến một nơi hoang vu.
Tâm trạng của nhà thơ được bộc lộ trực tiếp trong bài thơ là tâm trạng:
Tả cảnh ngụ tình
Đối lập cảnh và tình
Tả cảnh là chủ yếu
Tả tình là chủ yếu
Biện pháp nghệ thuật chính được sử dụng trong bài là:
“Lom khom…” đối với “lác đác…”
“Nhớ nước…” đối với “thương nhà…”
“Lom khom…” đối với “lác đác…”; “Nhớ nước…” đối với “thương nhà…”
“Nhớ nước…” đối với “thương nhà…”; “Bước tới…” đối với “Dừng chân…”
Dòng nào sau đây nêu đầy đủ thông tin về biểu hiện của phép đối trong bài?
Tìm tòi, mở rộng
Cảnh đèo Ngang: đẹp, hoang sơ, gợi buồn
Tâm trạng: Hoài cổ nhớ nước, thương nhà da diết, buồn, cô đơn.
Tả cảnh ngụ tình đặc sắc.
Nhân hoá, đảo ngữ,điệp từ, chơi chữ.
Miêu tả kết hợp biểu cảm.
Lời thơ trang nhã điêu luyện, âm điệu trầm lắng.
Tìm đọc trên Internet một số bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan: Thăng Long thành hoài cổ; Chiều nhớ nhà; Chùa Trấn Bắc; Cảnh chiều hôm; Đền Trấn Võ và chép vào vở
Chuẩn bị cho bài mới:
….
Tạm biệt các em!
- Bà Huyện Thanh Quan -
Đèo Ngang nằm trên dãy núi Hoành Sơn - dải núi chạy từ dãy Trường Sơn phía tây đâm ngang ra tới biển Đông. Do tính chất địa lý và địa hình đặc biệt như vậy nên từ xưa Hoành Sơn và đèo Ngang luôn là chốt giữ hiểm yếu trên con đường thiên lý Bắc - Nam. Qua những thăng trầm của lịch sử và bao cuộc chiến tranh, ngày nay đèo Ngang là ranh giới giữa tỉnh Hà Tĩnh (phía bắc, thuộc xã Kỳ Nam, thị xã Kỳ Anh) và tỉnh Quảng Bình (phía nam, thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch).
I. GIỚI THIỆU CHUNG
1. Tác giả
Tên thật: Nguyễn Thị Hinh, sống ở thế kỉ XIX
Quê quán: Nghi Tàm (nay thuộc Tây Hồ, Hà Nội)
Cuộc đời:
Lấy chồng là tri huyện Thanh Quan (nay thuộc Thái Bình) nên được gọi là bà huyện Thanh Quan
- Là người học rộng, tài cao, nữ sĩ tài danh hiếm có thời trung đại.
Giữ chức Giáo tập trong cung, chuyên dạy lễ nghi, văn chương cho công chúa, phi tần.
Sự nghiệp: để lại 6 bài thơ Nôm Đường luật
Phong cách sáng tác: Bác học, hoài cổ
Hình ảnh minh họa
Bà Huyện Thanh Quan
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
- Bà Huyện Thanh Quan -
* Hoàn cảnh ra đời:
* Kiểu văn bản :
Thế kỉ XIX, khi bà Huyện Thanh Quan lần đầu xa quê, vào kinh đô Huế nhận chức “Cung trung giáo tập”.
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật
* Thể loại:
Biểu cảm
* Phương thức biểu đạt :
Biểu cảm ( miêu tả)
- Số chữ: 7 chữ /1 câu.
- Bố cục: 4 phần: Đề , thực, luận , kết
- Gieo vần:Tiếng thứ 7 câu 1,2,4,6,8
- Phép đối: Cặp câu 3-4, 5-6 đối về thanh điệu và từ loại
- Luật bằng trắc: Tiếng thứ 2,4,6 của cặp câu 1-2; 3-4; 5-6; 7-8 phải đối nhau về thanh điệu
- Số câu: 8 câu /1 bài
- Niêm luật: Tiếng 2,4,6 trong các cặp câu 1-8; 2-3; 4-5; 6-7 cùng thanh điệu
Bố cục
1
Hai câu đề: Cái nhìn chung về cảnh vật Đèo Ngang
2
Hai câu thực: Cuộc sống con người ở Đèo Ngang
3
Hai câu luận: Tâm trạng của tác giả
4
Hai câu kết: Nỗi cô đơn đến tột cùng của nhà thơ
- Bà Huyện Thanh Quan -
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
- Thời gian: Bóng xế tà
- Cảnh vật: Cỏ , cây, đá
- Không gian: Đèo Ngang
Nghệ thuật
- Điệp ngữ: chen
Liệt kê( cỏ, cây, đá)
Bút pháp tả thực
Gợi lên một không gian rộng lớn tràn ngập sắc đỏ của hoàng hôn
Thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ, cây cối rậm rạp, um tùm
Cảnh sắc thiên nhiên gợi buồn, cô đơn, trống trải
- Nhận xét về nghệ thuật dùng trong 2 câu thơ?
- Không gian
Thời gian
Cảnh vật được tác giả nhắc đến trong 2 câu thơ ?
Nó gợi ra cho em 1 không gia như thế nào ?
Cảnh ấy sẽ tác động đến lòng nhân vật trữ tình một tình cảm như thế nào
a
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
=> Tạo ấn tượng về không gian (cao rộng >
* Từ láy: Lom khom, lác đác
* Lượng từ: Vài, mấy
Ngòi bút tài hoa đến độ mẫu mực.
Gợi lên cảnh làng quê miền núi nghèo nàn, tiêu điều, xơ xác, hoang vắng. Con người nhỏ bé, vất vả, cực nhọc,
Con người lao động nhỏ bé, ít ỏi, vất vả.
Nhà cửa thưa thớt, nghèo nàn .
=> Tô đậm vẻ heo hút, quạnh vắng của đèo Ngang
* Đảo ngữ + phép đối ( lom khom, lác đác , tiều vài chú, chợ mấy nhà)
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
* Nghệ thuật:
(Nhớ nước – thương nhà; Đau lòng – mỏi miệng; quốc, gia)
+ Đảo ngữ, đối :
Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,
V C
Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.
V V
+ Chơi chữ: quốc quốc, gia gia
+ Nhân hóa , ẩn dụ
* Nội dung
- Nó lên không gian rộng lớn, hoang vắng, chỉ có âm thanh của các loài chim quốc khắc khoải , cảnh vật càng trở nên u buồn . Nó tác động vào lòng người xa quê 1 nỗi nhớ nhà nhớ quê hương da diết
- Gửi tâm sự hoài cổ, tiếc nuối về quá khứ tươi đẹp của dân tộc.
Theo truyền thuyết Trung Quốc, Thục Đế mất nước, hồn biến thành chim cuốc, kêu nhớ nước (quốc: nước) đến nhỏ ra máu mà chết
- Cái gia gia: chim đa đa (Trong câu hiểu với nghĩa gia: nhà)
Tâm trạng nhớ nước, thương nhà.
Nỗi niềm hoài cổ khi triều Lê suy vong
Dừng chân đứng lại, trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
+ Đối lập ( Không gian mênh mông >< sự nhỏ bé của người khách bộ hành)=> càng làm nổi bật lên sự lẻ loi cô độc của người lữ khách nơi quê lạ.
+ Liệt kê: Trời, non, nước=> Gợi ra 1 không gian mênh mông.
+ Điệp ngữ:
“Ta với ta”
Đối diện với chính mình.
Các con chữ câu kết đều mang một nỗi niềm đơn chiếc: “một - mảnh - riêng – ta – ta
Tất cả đều cực tả nỗi buồn thầm lặng cô đơn đến tột cùng của người lữ thứ.
* Nghệ thuật
* Nội dung : Người khách bộ hành dừng bước trên đỉnh đèo Ngang ngắm nhìn trời non nước. Giữa không gian bao la ấy, người đó đã gặp lại chính mình. Sự đơn độc trên bước đường làm cho người khách ấy càng buồn, càng cô đơn. Đâu đó ẩn sau câu thơ là sự lo lắng cho những ngày sắp tới.
III. TỔNG KẾT
Cảnh đèo Ngang
Thời gian bóng xế tà
gợi cảm xúc buồn man mác
Không gian
“trời non nước”: mênh mông, hùng vĩ
gợi cảm giác cô đơn, nhỏ bé
Cỏ cây, hoa lá được miêu tả bằng phép lặp động từ chen gợi lên khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, rậm rạp
Con người
được khắc họa bằng từ láy “lom khom” và phép đảo“tiều vài chú” làm nổi bật vẻ hoang vu
Cuộc sống con người
hiện lên với vẻ thưa thớt qua từ láy “lác đác” và phép đảo “chợ mấy nhà”
Âm thanh
Từ tượng thanh “quốc quốc”, “gia gia” gợi lên cảm xúc buồn nhớ, cô đơn của nhà thơ (nghệ thuật tả cảnh ngụ tình). Nhà thơ nhớ nước dù không xa nước vì: nhớ về thời Hậu Lê
Tâm trạng của nhà thơ khi qua Đèo Ngang:
Nhớ nước, thương nhà và mang một nỗi buồn thầm lặng, bâng khuâng
III/ Tổng kết ghi nhớ
1/ Nghệ thuật:
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật , lời ít ý nhiều , hàm xúc sâu sa
Lời thơ trang nhã, giàu hình ảnh gợi cảm
Sử dụng thành công các biện pháp nghệ thuật; đối , đảo, điệp, láy, nhân hóa, ẩn dụ, chơi chữ
Thành công trong nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
2/ Nội dung
Bài thơ đã khắc họa bức tranh thiên nhiên Đèo Ngang : đẹp, hoang sơ, man mát buồn
Qua đó , tác giả đã gửi vào bài thơ tâm trạng buồn , cô đơn, nỗi nhớ gia đình, quê hương da diết của người khách bộ hành
Đồng thơ , tác giả gửi gắm tâm sự hoài cổ, tiếc nuối về một thời vàng son của xã hội phong kiến .
Luyện tập
Nhớ nước, nhớ không gian lịch sử - văn hóa của 1 thời đại đã qua
Thương nhà, nhớ mái ấm gia đình, quê hương.
Nhớ nước, thương nhà và mang một nỗi buồn thầm lặng, bâng khuâng.
Nỗi uất ức, oan khuất khi phải từ bỏ nơi mình yêu quý để đi đến một nơi hoang vu.
Tâm trạng của nhà thơ được bộc lộ trực tiếp trong bài thơ là tâm trạng:
Tả cảnh ngụ tình
Đối lập cảnh và tình
Tả cảnh là chủ yếu
Tả tình là chủ yếu
Biện pháp nghệ thuật chính được sử dụng trong bài là:
“Lom khom…” đối với “lác đác…”
“Nhớ nước…” đối với “thương nhà…”
“Lom khom…” đối với “lác đác…”; “Nhớ nước…” đối với “thương nhà…”
“Nhớ nước…” đối với “thương nhà…”; “Bước tới…” đối với “Dừng chân…”
Dòng nào sau đây nêu đầy đủ thông tin về biểu hiện của phép đối trong bài?
Tìm tòi, mở rộng
Cảnh đèo Ngang: đẹp, hoang sơ, gợi buồn
Tâm trạng: Hoài cổ nhớ nước, thương nhà da diết, buồn, cô đơn.
Tả cảnh ngụ tình đặc sắc.
Nhân hoá, đảo ngữ,điệp từ, chơi chữ.
Miêu tả kết hợp biểu cảm.
Lời thơ trang nhã điêu luyện, âm điệu trầm lắng.
Tìm đọc trên Internet một số bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan: Thăng Long thành hoài cổ; Chiều nhớ nhà; Chùa Trấn Bắc; Cảnh chiều hôm; Đền Trấn Võ và chép vào vở
Chuẩn bị cho bài mới:
….
Tạm biệt các em!
 







Các ý kiến mới nhất