Tuần 9. Việt Bắc (trích - tiếp theo)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Kim Trang
Ngày gửi: 23h:57' 23-10-2021
Dung lượng: 3.7 MB
Số lượt tải: 118
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Kim Trang
Ngày gửi: 23h:57' 23-10-2021
Dung lượng: 3.7 MB
Số lượt tải: 118
Số lượt thích:
0 người
Việt Bắc
Tố Hữu
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng.
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà...
Tố Hữu
Việt Bắc
Thơ:
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.”
1) Giai đoạn cầm cự
- Điệp từ “giặc”: Thể hiện thế giặc mạnh trong những ngày đầu đặt chân lên Việt Bắc.
Ca ngợi sức mạnh quật khởi vùng lên cùng tinh thần bất khuất, kiên cường của những người lính và nhân hóa thiên nhiên như lực lượng tham gia kháng chiến. Đồng thời thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa thiên nhiên với con người làng quê đơn sơ, bình dị.
Nghệ thuật nhân hóa thậm xưng cùng với các động từ mạnh, các từ ngữ chỉ không gian rộng lớn:
-“Rừng cây núi đá”, “Rừng che bộ đội… vây quân thù”
HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH VIỆT BẮC
Sáng ngời về nghị lực và tinh thần: “cùng đánh Tây”, “chiến khu một lòng”
Tình yêu quê hương đất nước hóa thành động lực giúp người lính vững tâm không lùi bước.
2 câu thơ tương phản với nhau:
“Bốn mặt sương mù” : Nói về những khó khăn và tương lai mịt mù ở phía trước
“Đất trời ta cả chiến khu một lòng” : Sức mạnh đoàn kết của thiên nhiên và con người làm nên sức mạnh nội lực của dân tộc để vượt qua mọi khó khăn.
Tất cả cùng đồng tâm hiệp lực, từ thiên nhiên cho đến con người, từ quân đến dân đều chung sức, chung lòng đứng lên giết giặc
2) Giai đoạn PHÒNG NGỰ
‘’Phủ Thông, đèo Giàng" : những địa danh thân thuộc, gắn liền với Việt Bắc, đó là tên của những chiến dịch, những địa danh của chiến thằng giòn giã làm nức lòng người.
Nêu địa danh cụ thể nhằm khắc ghi về những chứng nhân lịch sử mà nơi đó ẩn chứa một tình yêu thương vô bờ mà Tố Hữu dành cho thiên nhiên cho con người. Những người đã hi sinh và cả những con người đang ngày đêm tiếp bước vì độc lập vi tự do
-Nghệ thuật liệt kê “Phủ Thông”, “Đèo Giàng”, “sông Lô”, “phố Ràng”, “Cao-Lạng”, “Nhị Hà” --> thể hiện tình cảm của nhà thơ- một tình cảm chân thành, tha thiết với những địa danh đã làm nức lòng dân tộc.
==> Thiên nhiên không vô tri,vô giác mà thực sự đang chiến đấu chống giặc cùng quân và dân ta.
Thơ:
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
HAI CÂU THƠ ĐẦU:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung”
-“Những đường Việt Bắc”
+ Không chỉ là con đường ra trận mà còn là con đường ra trận con đường
đi tới thắng lợi vẻ vang, là nơi hội tựu của lòng yêu nước, khí thế khát
vọng giành lại độc lập dân tộc.
HAI CÂU THƠ ĐẦU:
+Từ láy “đêm đêm” vừa gợi vừa diễn tả không gian không ngừng nghỉ
khí thế khẩn trương của cuộc chiến tranh.
+ Cụm từ “Của ta” làm cho những con đường Việt Bắc ngày đêm không
ngừng nghỉ trở thành một người bạn đồng hành tin cậy của người chiến sĩ.
+ “Rầm rập” gợi tả tiếng bước chân nhanh mạnh thể hiện 1 ý chí kiên
cường sức mạnh mãnh liệt của đoàn quân.
+ “Như là đất rung” 1 phép so sánh đặc sắc thể hiện sức mạnh của bức
tranh kháng chiến khẳng định tầm vóc sức mạnh ý chí của những người
chiến sĩ.
→ Không khí sôi nổi, khí thế sục sôi như đang xảy ra 1 cơn địa chấn với tiếng bước chân là tinh thần của quân dân và toàn dân ta.
HAI CÂU TIẾP:
“Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.”
- Từ láy “Điệp điệp”, “Trùng trùng” : gợi ra 1 đoàn quân đông đảo với sức mạnh hào hùng.
HAI CÂU TIẾP:
- “Ánh sao” 1 hình ảnh tả thực là ánh sáng của niềm tin lí tưởng niềm hy
vọng soi đường dẫn lối cho quân dân ta.
- “ Ánh sao”, “Đầu súng”, “Mũ nan” kết hợp tạo thành 1 hình tượng đẹp bình dị, đơn sơ nhưng khỏe khoắn, vững chãi
→ Biểu hiện cho niềm tin ý chí tinh thần của người chiến sĩ cách mạng.
HAI CÂU TIẾP THEO:
“Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.”
HAI CÂU TIẾP THEO:
- Tái hiện 1 hình ảnh rất thực và sinh động là đoàn dân quân đốt đuốc băng rừng đưa hàng hóa ra mặt trận với khí thế khẩn trương hối hả không ngừng nghỉ.
→ Người chiến sĩ hiện lên hùng dũng hiên ngang.
- “Bước chân nát đá”: thậm xưng, khẳng định ý chí sức mạnh của con người (vác đồ nặng) vượt qua tất cả khó khăn khắc nghiệt
HAI CÂU TIẾP THEO:
- “muôn tàn lửa bay” những tàn lửa của ngọn đuốc rừng đêm tựa như những đóa hoa rực rỡ giữa bầu trời đêm rừng Việt Bắc tượng trưng cho nét đẹp tâm hồn của người lính
→ Hình ảnh đẹp đẽ, thơ mộng nhưng mang đậm chất thép, chất oai hùng (Trong gian khổ mà vẫn giàu niềm tin để hướng về những chiến thắng trọn vẹn trong tương lai không xa).
HAI CÂU TIẾP THEO:
“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.”
- Đối lập: “nghìn đêm”>< “bật sáng”, “thăm thẳm sương dày” >< “ngày mai lên”.
- “nghìn đêm”: không chỉ khắc họa sự tăm tối của những năm tháng chiến tranh mà còn khắc họa trách nhiệm với đất nước và sự miệt mài trong công việc của các chiến sĩ.
HAI CÂU TIẾP THEO:
- “Đèn pha bật sáng”: hoán dụ cho hình ảnh đoàn xe đã góp vai trò quan trọng vào cuộc kháng chiến để vận tải thuốc men lương thực vũ khí. Ánh đèn ấy cũng soi đường chỉ lối cho ta tới thắng lợi vẻ vang.
- “ thăm thẳm sương dày”: điều kiện thời tiết khắc nghiệt đã làm khuất tầm nhìn gây khó khăn cho những người lính lái xe.
HAI CÂU TIẾP THEO:
- “như ngày mai lên”: hình ảnh ẩn dụ so sánh đã thể hiện niềm hi vọng tin tưởng của người lính là dự cảm về một chiến thắng không xa.
➔ Những khó khăn, khắc nghiệt của chiến tranh phải khuất phục trước ý chí của họ - những người lính Việt Bắc → Ý chí hướng về tương lai độc lập → Làm biến chuyển cục diện chiến tranh từ thế bị động phòng thủ sang chủ động tấn công.
BỐN CÂU CUỐI:
“Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”
BỐN CÂU CUỐI:
- Gợi ra hình ảnh thắng trận những tin vui chiến thắng với quân và dân ta cứ dồn dập được nhắc đến qua điệp từ “Vui” ( Tin vui, vui về, vui từ , vui lên)
→ Niềm vui nhân lên nhiều lần.
BỐN CÂU CUỐI:
- Những chiến thắng được liệt kê cụ thể: từ miền Bắc “Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên…” đến miền Nam “Đồng Tháp, An Khê” rồi lại trở về với Việt Bắc “đèo De”, “núi Hồng”
→ Niềm vui đó như được trải đi khắp mọi miền của Tổ quốc
CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ
LẮNG NGHE PHẦN THUYẾT
TRÌNH CỦA TỔ 4!!!
Tố Hữu
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng.
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà...
Tố Hữu
Việt Bắc
Thơ:
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.”
1) Giai đoạn cầm cự
- Điệp từ “giặc”: Thể hiện thế giặc mạnh trong những ngày đầu đặt chân lên Việt Bắc.
Ca ngợi sức mạnh quật khởi vùng lên cùng tinh thần bất khuất, kiên cường của những người lính và nhân hóa thiên nhiên như lực lượng tham gia kháng chiến. Đồng thời thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa thiên nhiên với con người làng quê đơn sơ, bình dị.
Nghệ thuật nhân hóa thậm xưng cùng với các động từ mạnh, các từ ngữ chỉ không gian rộng lớn:
-“Rừng cây núi đá”, “Rừng che bộ đội… vây quân thù”
HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH VIỆT BẮC
Sáng ngời về nghị lực và tinh thần: “cùng đánh Tây”, “chiến khu một lòng”
Tình yêu quê hương đất nước hóa thành động lực giúp người lính vững tâm không lùi bước.
2 câu thơ tương phản với nhau:
“Bốn mặt sương mù” : Nói về những khó khăn và tương lai mịt mù ở phía trước
“Đất trời ta cả chiến khu một lòng” : Sức mạnh đoàn kết của thiên nhiên và con người làm nên sức mạnh nội lực của dân tộc để vượt qua mọi khó khăn.
Tất cả cùng đồng tâm hiệp lực, từ thiên nhiên cho đến con người, từ quân đến dân đều chung sức, chung lòng đứng lên giết giặc
2) Giai đoạn PHÒNG NGỰ
‘’Phủ Thông, đèo Giàng" : những địa danh thân thuộc, gắn liền với Việt Bắc, đó là tên của những chiến dịch, những địa danh của chiến thằng giòn giã làm nức lòng người.
Nêu địa danh cụ thể nhằm khắc ghi về những chứng nhân lịch sử mà nơi đó ẩn chứa một tình yêu thương vô bờ mà Tố Hữu dành cho thiên nhiên cho con người. Những người đã hi sinh và cả những con người đang ngày đêm tiếp bước vì độc lập vi tự do
-Nghệ thuật liệt kê “Phủ Thông”, “Đèo Giàng”, “sông Lô”, “phố Ràng”, “Cao-Lạng”, “Nhị Hà” --> thể hiện tình cảm của nhà thơ- một tình cảm chân thành, tha thiết với những địa danh đã làm nức lòng dân tộc.
==> Thiên nhiên không vô tri,vô giác mà thực sự đang chiến đấu chống giặc cùng quân và dân ta.
Thơ:
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
HAI CÂU THƠ ĐẦU:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung”
-“Những đường Việt Bắc”
+ Không chỉ là con đường ra trận mà còn là con đường ra trận con đường
đi tới thắng lợi vẻ vang, là nơi hội tựu của lòng yêu nước, khí thế khát
vọng giành lại độc lập dân tộc.
HAI CÂU THƠ ĐẦU:
+Từ láy “đêm đêm” vừa gợi vừa diễn tả không gian không ngừng nghỉ
khí thế khẩn trương của cuộc chiến tranh.
+ Cụm từ “Của ta” làm cho những con đường Việt Bắc ngày đêm không
ngừng nghỉ trở thành một người bạn đồng hành tin cậy của người chiến sĩ.
+ “Rầm rập” gợi tả tiếng bước chân nhanh mạnh thể hiện 1 ý chí kiên
cường sức mạnh mãnh liệt của đoàn quân.
+ “Như là đất rung” 1 phép so sánh đặc sắc thể hiện sức mạnh của bức
tranh kháng chiến khẳng định tầm vóc sức mạnh ý chí của những người
chiến sĩ.
→ Không khí sôi nổi, khí thế sục sôi như đang xảy ra 1 cơn địa chấn với tiếng bước chân là tinh thần của quân dân và toàn dân ta.
HAI CÂU TIẾP:
“Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.”
- Từ láy “Điệp điệp”, “Trùng trùng” : gợi ra 1 đoàn quân đông đảo với sức mạnh hào hùng.
HAI CÂU TIẾP:
- “Ánh sao” 1 hình ảnh tả thực là ánh sáng của niềm tin lí tưởng niềm hy
vọng soi đường dẫn lối cho quân dân ta.
- “ Ánh sao”, “Đầu súng”, “Mũ nan” kết hợp tạo thành 1 hình tượng đẹp bình dị, đơn sơ nhưng khỏe khoắn, vững chãi
→ Biểu hiện cho niềm tin ý chí tinh thần của người chiến sĩ cách mạng.
HAI CÂU TIẾP THEO:
“Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.”
HAI CÂU TIẾP THEO:
- Tái hiện 1 hình ảnh rất thực và sinh động là đoàn dân quân đốt đuốc băng rừng đưa hàng hóa ra mặt trận với khí thế khẩn trương hối hả không ngừng nghỉ.
→ Người chiến sĩ hiện lên hùng dũng hiên ngang.
- “Bước chân nát đá”: thậm xưng, khẳng định ý chí sức mạnh của con người (vác đồ nặng) vượt qua tất cả khó khăn khắc nghiệt
HAI CÂU TIẾP THEO:
- “muôn tàn lửa bay” những tàn lửa của ngọn đuốc rừng đêm tựa như những đóa hoa rực rỡ giữa bầu trời đêm rừng Việt Bắc tượng trưng cho nét đẹp tâm hồn của người lính
→ Hình ảnh đẹp đẽ, thơ mộng nhưng mang đậm chất thép, chất oai hùng (Trong gian khổ mà vẫn giàu niềm tin để hướng về những chiến thắng trọn vẹn trong tương lai không xa).
HAI CÂU TIẾP THEO:
“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.”
- Đối lập: “nghìn đêm”>< “bật sáng”, “thăm thẳm sương dày” >< “ngày mai lên”.
- “nghìn đêm”: không chỉ khắc họa sự tăm tối của những năm tháng chiến tranh mà còn khắc họa trách nhiệm với đất nước và sự miệt mài trong công việc của các chiến sĩ.
HAI CÂU TIẾP THEO:
- “Đèn pha bật sáng”: hoán dụ cho hình ảnh đoàn xe đã góp vai trò quan trọng vào cuộc kháng chiến để vận tải thuốc men lương thực vũ khí. Ánh đèn ấy cũng soi đường chỉ lối cho ta tới thắng lợi vẻ vang.
- “ thăm thẳm sương dày”: điều kiện thời tiết khắc nghiệt đã làm khuất tầm nhìn gây khó khăn cho những người lính lái xe.
HAI CÂU TIẾP THEO:
- “như ngày mai lên”: hình ảnh ẩn dụ so sánh đã thể hiện niềm hi vọng tin tưởng của người lính là dự cảm về một chiến thắng không xa.
➔ Những khó khăn, khắc nghiệt của chiến tranh phải khuất phục trước ý chí của họ - những người lính Việt Bắc → Ý chí hướng về tương lai độc lập → Làm biến chuyển cục diện chiến tranh từ thế bị động phòng thủ sang chủ động tấn công.
BỐN CÂU CUỐI:
“Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”
BỐN CÂU CUỐI:
- Gợi ra hình ảnh thắng trận những tin vui chiến thắng với quân và dân ta cứ dồn dập được nhắc đến qua điệp từ “Vui” ( Tin vui, vui về, vui từ , vui lên)
→ Niềm vui nhân lên nhiều lần.
BỐN CÂU CUỐI:
- Những chiến thắng được liệt kê cụ thể: từ miền Bắc “Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên…” đến miền Nam “Đồng Tháp, An Khê” rồi lại trở về với Việt Bắc “đèo De”, “núi Hồng”
→ Niềm vui đó như được trải đi khắp mọi miền của Tổ quốc
CẢM ƠN CÁC BẠN ĐÃ
LẮNG NGHE PHẦN THUYẾT
TRÌNH CỦA TỔ 4!!!
 







Các ý kiến mới nhất