Tuần 9. Việt Bắc (trích - tiếp theo)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thùy Trang
Ngày gửi: 10h:58' 04-11-2021
Dung lượng: 7.4 MB
Số lượt tải: 540
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thùy Trang
Ngày gửi: 10h:58' 04-11-2021
Dung lượng: 7.4 MB
Số lượt tải: 540
Số lượt thích:
0 người
Việt Bắc
Tố Hữu
I. ĐỌC – HIỂU TIỂU DẪN
Hoàn cảnh sáng tác
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ được kí kết. Tháng 10 – 1954, trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. Nhân sự kiện lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ
Bố cục: 2 phần
Phần đầu: Tái hiện kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.
Phần sau: Niềm tin vào tương lai tươi sáng, biết ơn Đảng và Bác.
* Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc, bố cục
- Phần 1 (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.
- Phần 2 (32 câu tiếp theo): Lời của người cán bộ ra đi.
- Phần 3 (38 câu cuối): Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
- Mình về mình có nhớ ta?
…
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
- Ta với mình, mình với ta
...
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
…
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.1, Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.
a, (8 câu đầu): Cuộc chia tay đầy lưu luyến
- Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
- Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
Sử dụng hình thức đối đáp: “Mình – ta” Giọng thơ ngọt ngào, da diết, âm hưởng ca dao làm cho lời thơ thêm truyền cảm.
Người Việt Bắc:
+ “Mình về mình có nhớ ta”/“Mình về mình có nhớ không”
- “ Mình về mình có nhớ ta
……………………………………………
Mình về mình có nhớ không
…………………………………………… ? ”
Mình về
Mình về
mình có nhớ
mình có nhớ
Câu hỏi tu từ Hỏi nhưng để thể hiện sự lo lắng, băn khoăn của người ở lại đồng thời nhắc nhở, nhắn nhủ người ra đi.
Lặp cấu trúc, điệp ngữ Muốn khắc sâu hình ảnh của người ở lại trong tâm trí của người ra đi.
- “………….. mình có nhớ….
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
………….. mình có nhớ ….
Nhìn cây nhớ núi , nhìn sông nhớ nguồn ”
Mười lăm năm
cây nhớ núi
sông nhớ nguồn
Mình có nhớ
Mình có nhớ
+ Gợi nhớ thời gian: “15 năm ấy”
Gợi kỉ niệm gắn bó sâu nặng của cuộc kháng chiến, của những người ở lại và người ra đi; thể hiện sự nhạy cảm trong tâm hồn của người ở lại
+ Gợi nhớ không gian: Núi, rừng
Không gian đặc trưng của Việt Bắc; gợi truyền thống đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”
BÁC HỒ VÀ BỘ ĐỘI GIẢI PHÓNG Ở CĂN CỨ ĐỊA VIỆT BẮC
Người về xuôi:
- “ Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ , bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… ”
tha thiết
Bâng khuâng
bồn chồn
+ Đáp lời là câu hỏi tu từ Thể hiện sự thấu hiểu của người ra đi dành cho người ở lại
+ Từ láy: “tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn” Gợi tâm trạng lưu luyến, bịn rịn… không muốn rời xa.
+ Hoán dụ: “áo chàm” Tấm lòng thủy chung son sắt của người ở lại => Người ở lại chiếm vị trí quan trọng trong tâm hồn của người ra đi.
+ “ Cầm… nay” : nhịp thơ: 3/5, dấu “…” Sự xúc động chân thành của họ dành cho nhau. Đồng thời là tiếng lòng người về xuôi đầy xúc động, bâng khuâng, lưu luyến, bịn rịn
Áo chàm
Cầm tay nhau
biết nói gì
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.1, Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.
a, (8 câu đầu): Cuộc chia tay đầy lưu luyến
b, (12 câu tiếp theo): Lời gợi nhắc của người ở lại
- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thưở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?
Câu hỏi 1:
- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
- Hình ảnh: “mưa lũ”, “mây mù”
- Từ ngữ bổ trợ, tăng tiến: “những”, “cùng”
=> Tả thực: Đặc trưng thiên nhiên Việt Bắc: khí hậu khắc nghiệt
- Ẩn dụ: Gợi nhớ kỉ niệm buổi đầu vận động đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, khó khăn
Câu hỏi 2:
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai ?
- Hình ảnh: “cơm chấm muối” >< “ thù nặng vai”
Cuộc sống kháng chiến gian khổ, thiếu thốn
Gợi nhớ đến ý chí chiến đấu, tinh thần đoàn kết, sẻ chia của đồng bào Việt Bắc - cán bộ cách mạng
Câu hỏi 3:
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
-Hỏi “rừng núi nhớ ai?”
“trám để rụng”
“măng để già”
Sự trống trải của mảnh đất và lòng người Việt Bắc
Gợi tình cảm gắn bó thân thiết, sâu nặng của người ở lại đối với người về xuôi
Câu hỏi 4:
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Hình ảnh: “ hắt hiu lau xám ” >< “ đậm đà lòng son”
Cảnh sống đơn sơ, thiếu thốn, nghèo nàn, nhà tranh vách đất, lam lũ…
Gợi nhớ con người Việt Bắc tình nghĩa thủy chung son sắc, luôn cưu mang, chở che cho bộ đội
Câu hỏi 5; 6:
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thưở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?
- Nhớ thời tiền khởi nghĩa
- Nhớ địa danh kháng chiến
Gợi nhớ niềm tự hào về những ngày mùa thu tháng tám, cách mạng đã giành được thắng lợi
Điệp từ “mình”: 3 lần Sự thống nhất, gắn bó khăng khít giữa Việt Bắc – Cách mạng
MÁI ĐÌNH HỒNG THÁI
CÂY ĐA TÂN TRÀO
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.2, Lời của người cán bộ ra đi.
a, (Khổ 4): Bày tỏ tình cảm ân nghĩa thủy chung với Việt Bắc
- Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…
Lời thề “đinh ninh hai mặt một lời” của tình yêu đôi lứa thủy chung – cách nói của dân gian cho thấy đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.2, Lời của người cán bộ ra đi.
a, (Khổ 4): Bày tỏ tình cảm ân nghĩa thủy chung với Việt Bắc
b, (Khổ 5; 6): Bộc lộ nỗi nhớ thương da diết
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa...
Cảnh núi rừng Việt Bắc: Hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng không gian và thời gian khác nhau; có những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
- Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”
nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.
- Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể:
+ nhớ ánh nắng ban chiều
+ ánh trăng buổi tối, không gian gợi cảm nên thơ
+ những bản làng ẩn hiện trong sương sớm,
+ những ánh lửa hồng trong đêm khuya,
+ những tên núi, tên rừng, tên sông suối, nương rẫy quen thuộc thân yêu
Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu quạnh mà thơ mộng, ấm áp.
- Con người: Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất cao đẹp:
+ Họ gắn bó với cách mạng cùng “mối thù nặng vai”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi với cách mạng:
“Ta đi ta nhớ … đắp cùng”
+ Tuy họ nghèo về vật chất nhưng “đậm đà lòng son", giàu về tình nghĩa:
“Nhớ người mẹ … bắp ngô”
+ Họ lạc quan yêu đời, gắn bó cùng kháng chiến dù còn nhiều gian khổ, thiếu thốn:
“Nhớ sao lớp học i tờ … núi đèo”
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả, bình dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa:
“Nhớ sao tiếng mõ…suối xa”
=> Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng cần cù, thủy chung và sâu nặng ân tình.
Nhớ những ngày công tác:
+ Bát cơm sẻ nửa/chăn sui đắp cùng: Tiểu đối, câu thơ nhắc nhở nghĩa tình sâu nặng của nhân dân.
+ Lớp học i tờ: Người CM giúp nhân dân học chữ.
+ Đồng khuya đuốc sáng…: Không khí rộn rã vui tươi, lạc quan.
+ Tiếng mõ, tiếng chày: Âm thanh thân thuộc, gợi không gian VB yên ả, nên thơ.
Cuộc sống của người CM chan hòa trong cuộc sống của nhân dân, gắn bó thắm thiết không rời.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.2, Lời của người cán bộ ra đi.
a, (Khổ 4): Bày tỏ tình cảm ân nghĩa thủy chung với Việt Bắc
b, (Khổ 5; 6): Bộc lộ nỗi nhớ thương da diết
c, (Khổ 7): Vẻ đẹp bức tranh tứ bình
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Hai câu thơ mở đầu là lời của người cán bộ về xuôi hỏi người ở lại:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
- Đại từ “mình – ta” được sử dụng như lời trò chuyện thân mật của đôi lứa trong tình yêu.
- Câu lục mở đầu như lời ướm hỏi, hỏi mà không cần trả lời. Câu bát là lời khẳng định: “Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”.
- “Hoa” và “người” mang ý nghĩa tượng trưng: “hoa” – biểu tượng cho thiên nhiên Việt bắc tươi dẹp, “người” – đồng bào Việt Bắc đáng yêu đáng quý.
Gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người trong bức tranh quê hương Việt Bắc.
Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp độc đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả cảnh, câu bát tả người.
+ Thiên nhiên Việt Bắc: được miêu tả diễn biến theo bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc trưng riêng, tạo nên một bức tranh tứ bình rất đẹp
Mùa đông:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.”
+ Trên cái nền xanh bạt ngàn của núi rừng Việt Bắc, xuất hiện những hoa chuối "đỏ tươi" như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh.
Sự đối chọi hai màu xanh – đỏ làm xua tan đi cái lạnh lẽo của mùa đông vùng cao.
+ Hình ảnh "dao gài thắt lưng" phản quang "ánh nắng"
rất gợi cảm, tạo thành điểm sáng khiến con người trở nên nổi bật, trở thành trung tâm của bức tranh: dáng vẻ hiên ngang, kiêu hùng
Mùa xuân:
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”
+ Nhớ Việt Bắc ngày xuân là nhớ đến hoa mơ "nở trắng rừng"
Chữ "trắng": gợi lên một sắc trắng tinh khiết, mênh mang, một thế giới hoa mơ bao phủ sức xuân ngập tràn đất trời núi rừng Việt Bắc.
=> Mùa xuân trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống.
+ Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ của con người Việt Bắc.
Mùa hạ:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.”
+ Nhớ Việt Bắc mùa hè: là nhớ tiếng ve râm ran làm nên khúc nhạc rừng sôi động. Nhớ màu vàng của rừng phách “rừng phách đổ vàng”
Với từ "đổ", biểu thị sự chuyển màu đồng loạt
người đọc có cảm giác dường như tiếng ve đã thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng.
+ Hình ảnh cô thiếu nữ đi "hái măng một mình" giữa rừng vầu, rừng nứa, rừng trúc: không hề lẻ loi, cô đơn mà chịu khó tận tụy với công việc.
Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
“Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu. Trăng "rọi" qua tán lá rừng xanh, trăng thanh mát rượi gợi lên cảnh sống yên ả, "hoà bình”, nên thơ.
+ Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ ca hát về mối ân tình thuỷ chung với cách mạng.
=> Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người:
+ Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt Bắc: bình dị, chịu thương chịu khó, đầy nghĩa tình.
+ Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, những con người Việt Bắc đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.3, Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
a, Khổ 8
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng.
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà...
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.”
Giai đoạn cầm cự
- Điệp từ “giặc”: Thể hiện thế giặc mạnh trong những ngày đầu đặt chân lên Việt Bắc.
Ca ngợi sức mạnh quật khởi vùng lên cùng tinh thần bất khuất, kiên cường của những người lính và nhân hóa thiên nhiên như lực lượng tham gia kháng chiến. Đồng thời thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa thiên nhiên với con người làng quê đơn sơ, bình dị.
Nghệ thuật nhân hóa thậm xưng cùng với các động từ mạnh, các từ ngữ chỉ không gian rộng lớn:
- “Rừng cây núi đá”, “Rừng che bộ đội… vây quân thù”
HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH VIỆT BẮC
Sáng ngời về nghị lực và tinh thần: “cùng đánh Tây”, “chiến khu một lòng”
Tình yêu quê hương đất nước hóa thành động lực giúp người lính vững tâm không lùi bước.
2 câu thơ tương phản với nhau:
“Bốn mặt sương mù” : Nói về những khó khăn và tương lai mịt mù ở phía trước
“Đất trời ta cả chiến khu một lòng” : Sức mạnh đoàn kết của thiên nhiên và con người làm nên sức mạnh nội lực của dân tộc để vượt qua mọi khó khăn.
Tất cả cùng đồng tâm hiệp lực, từ thiên nhiên cho đến con người, từ quân đến dân đều chung sức, chung lòng đứng lên giết giặc
Giai đoạn PHÒNG NGỰ
Nêu địa danh cụ thể nhằm khắc ghi về những chứng nhân lịch sử mà nơi đó ẩn chứa một tình yêu thương vô bờ mà Tố Hữu dành cho thiên nhiên cho con người. Những người đã hi sinh và cả những con người đang ngày đêm tiếp bước vì độc lập vi tự do
==> Thiên nhiên không vô tri,vô giác mà thực sự đang chiến đấu chống giặc cùng quân và dân ta.
‘’Phủ Thông, đèo Giàng": những địa danh thân thuộc, gắn liền với Việt Bắc, đó là tên của những chiến dịch, những địa danh củachiến thắng giòn giã làm nức lòng người.
- Nghệ thuật liệt kê “Phủ Thông”, “Đèo Giàng”, “sông Lô”, “phố Ràng”, “Cao -Lạng”, “Nhị Hà” thể hiện tình cảm của nhà thơ – một tình cảm chân thành, tha thiết với những địa danh đã làm nức lòng dân tộc.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.3, Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
b, Khổ 9
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
Việt Bắc từng khắc ghi những kỉ niệm về những cuộc hành quân ra trận thật hùng vĩ của bộ đội và nhân dân:
- Từ láy tượng thanh "rầm rập":
diễn tả tiếng bước chân mạnh mẽ của cuộc hành quân, gợi lên nhịp độ khẩn trương, gấp gáp của số lượng người đông đảo cùng hành quân
tạo thành một sức mạnh tổng hợp làm rung chuyển mặt đất.
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
- Hình ảnh so sánh, cường điệu: "Đêm đêm rầm rập như là đất rung"
nêu bật sức mạnh đại đoàn kết của quân dân ta, chung sức chung lòng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi..
- Hình ảnh bộ đội ta hành quân ra trận:
“Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.”
+ Từ láy "điệp điệp trùng trùng":
khắc họa đoàn quân đông đảo bước đi mạnh mẽ như những đợt sóng dâng trào, tưởng chừng như kéo dài đến vô tận.
+ Hình ảnh vừa hiện thực vừa ẩn dụ: "ánh sao đầu súng"
ánh sao trong đêm tối sáng ngời đầu mũi súng, ánh sao của lí tưởng dẫn đường cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù xâm lược
thể hiện niềm tin lạc quan chiến thắng trong tâm hồn người lính ra trận.
- Những bó đuốc đỏ rực soi đường:
làm sáng bừng hình ảnh những đoàn dân công tiếp lương tải đạn. Họ đến từ nhiều miền quê với đủ mọi phương tiện chuyên chở, quyết tâm, kiên cường vượt núi đèo để đảm bảo sức mạnh cho bộ đội chiến đấu và chiến thắng.
- Hình ảnh cường điệu:
"bước chân nát đá"
khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của nhân dân trong kháng chiến.
Đây là cuộc chiến đấu của cả dân tộc vì chính nghĩa, vì thế ta nhất định thắng lợi.
Cùng hành quân với bộ đội là những đoàn dân công phục vụ chiến đấu: "Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay."
- Niềm lạc quan tin tưởng vững chắc:
"Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên."
+ Tương quan đối lập giữa bóng tối và ánh sáng:
Bóng đêm đen tối thăm thẳm (gợi kiếp sống nô lệ của dân tộc dưới ách đô hộ của kẻ thù) >< ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng, tốt đẹp.
+ Ánh sáng lấn át bóng tối:
chiến thắng của dân tộc là tất yếu trước mọi kẻ thù hắc ám, ngày mai tươi sáng, hạnh phúc nhất định sẽ đến với dân tộc ta.
=> Đoạn thơ vừa đậm chất sử thi vừa giàu tính lãng mạn khắc họa sâu sắc cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, đầy gian khổ hi sinh nhưng nhất định thắng lợi của dân tộc.
Mở đường vào Điện Biên Phủ.
Mở đường vào Điện Biên Phủ.
Dân tộc ấy vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công:
nhịp điệu thơ dồn dập, náo nức, phấn khởi + liệt kê những địa danh trải dọc “trăm miền” đất nước gắn với tin vui chiến thắng
cho thấy tốc độ thần kì của chiến thắng, niềm vui như lan tỏa đi và từ khắp nơi bay về Việt Bắc.
“ Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”
Chiến sĩ Bế Văn Đàn, tiêu biểu cho tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn quân
- Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh dẫn tới chiến thắng:
+ Sức mạnh của lòng căm thù:
“Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”
+ Sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung:
“Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”
+ Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân:
“Nhớ khi giặc… một lòng”
toàn dân:
đánh giặc ngay tại chỗ (“Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”),
dựa vào rừng núi để đánh giặc (“Núi giăng … vây quân thù”),
quân dân đoàn kết (“Đất trời ta cả chiến khu một lòng”)
tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.3, Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
c, Khổ 10 + 11:
Ai về ai có nhớ không?
Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang.
Nắng trưa rực rỡ sao vàng
Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công
Điều quân chiến dịch thu đông
Nông thôn phát động, giao thông mở đường
Giữ đê, phòng hạn, thu lương
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu...
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.
Mười lăm năm ấy, ai quên
Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà
Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
Lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân
+ Giọng thơ trang trọng mà thiết tha: nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.
Đình Hồng Thái
Cây đa Tân Trào
Lòng biết ơn Đảng, Bác Hồ, nhân dân
- Việt Bắc là trái tim, đầu não của cuộc kháng chiến, là nơi các chủ trương của Đảng và Chính phủ toả đi khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:
“Điều quân chiến dịch thu đông
Nông thôn phát động, giao thông mở đường
Giữ đê, phòng hạn, thu lương
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…”
1950 - Bác ở chiến khu Việt Bắc
Bác Hồ làm việc tại chiến khu Việt Bắc
- Việt Bắc là niềm tin, là hi vọng, niềm mong đợi của cả dân tộc, của những con người Việt Nam yêu nước vì Việt Bắc có Bác Hồ, có Chính phủ sống và làm việc:
“Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.”
Những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình: khẳng định niềm tin yêu, lòng biết ơn của cả nước đối với Việt Bắc là vô bờ.
- Việt Bắc – Biểu tượng của niềm tin cách mạng:
+ Công tác kháng chiến: điều quân, giữ đê, phòng hạn… Giọng thơ tươi vui, rộn rã.
+ Ở đâu… Trông về…: Điệp khúc, câu hỏi tu từ, lời đối đáp tinh tế.
Việt Bắc trở thành biểu tượng của niềm tin cách mạng, tượng trưng cho sức mạnh kháng chiến, sức mạnh của toàn dân tộc.
III. TỔNG KẾT
IV. LUYỆN TẬP:
Tố Hữu
I. ĐỌC – HIỂU TIỂU DẪN
Hoàn cảnh sáng tác
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ được kí kết. Tháng 10 – 1954, trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về thủ đô Hà Nội. Nhân sự kiện lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ
Bố cục: 2 phần
Phần đầu: Tái hiện kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.
Phần sau: Niềm tin vào tương lai tươi sáng, biết ơn Đảng và Bác.
* Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc, bố cục
- Phần 1 (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.
- Phần 2 (32 câu tiếp theo): Lời của người cán bộ ra đi.
- Phần 3 (38 câu cuối): Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
- Mình về mình có nhớ ta?
…
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
- Ta với mình, mình với ta
...
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
…
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.1, Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.
a, (8 câu đầu): Cuộc chia tay đầy lưu luyến
- Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
- Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
Sử dụng hình thức đối đáp: “Mình – ta” Giọng thơ ngọt ngào, da diết, âm hưởng ca dao làm cho lời thơ thêm truyền cảm.
Người Việt Bắc:
+ “Mình về mình có nhớ ta”/“Mình về mình có nhớ không”
- “ Mình về mình có nhớ ta
……………………………………………
Mình về mình có nhớ không
…………………………………………… ? ”
Mình về
Mình về
mình có nhớ
mình có nhớ
Câu hỏi tu từ Hỏi nhưng để thể hiện sự lo lắng, băn khoăn của người ở lại đồng thời nhắc nhở, nhắn nhủ người ra đi.
Lặp cấu trúc, điệp ngữ Muốn khắc sâu hình ảnh của người ở lại trong tâm trí của người ra đi.
- “………….. mình có nhớ….
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
………….. mình có nhớ ….
Nhìn cây nhớ núi , nhìn sông nhớ nguồn ”
Mười lăm năm
cây nhớ núi
sông nhớ nguồn
Mình có nhớ
Mình có nhớ
+ Gợi nhớ thời gian: “15 năm ấy”
Gợi kỉ niệm gắn bó sâu nặng của cuộc kháng chiến, của những người ở lại và người ra đi; thể hiện sự nhạy cảm trong tâm hồn của người ở lại
+ Gợi nhớ không gian: Núi, rừng
Không gian đặc trưng của Việt Bắc; gợi truyền thống đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”
BÁC HỒ VÀ BỘ ĐỘI GIẢI PHÓNG Ở CĂN CỨ ĐỊA VIỆT BẮC
Người về xuôi:
- “ Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ , bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay… ”
tha thiết
Bâng khuâng
bồn chồn
+ Đáp lời là câu hỏi tu từ Thể hiện sự thấu hiểu của người ra đi dành cho người ở lại
+ Từ láy: “tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn” Gợi tâm trạng lưu luyến, bịn rịn… không muốn rời xa.
+ Hoán dụ: “áo chàm” Tấm lòng thủy chung son sắt của người ở lại => Người ở lại chiếm vị trí quan trọng trong tâm hồn của người ra đi.
+ “ Cầm… nay” : nhịp thơ: 3/5, dấu “…” Sự xúc động chân thành của họ dành cho nhau. Đồng thời là tiếng lòng người về xuôi đầy xúc động, bâng khuâng, lưu luyến, bịn rịn
Áo chàm
Cầm tay nhau
biết nói gì
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.1, Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.
a, (8 câu đầu): Cuộc chia tay đầy lưu luyến
b, (12 câu tiếp theo): Lời gợi nhắc của người ở lại
- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thưở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?
Câu hỏi 1:
- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
- Hình ảnh: “mưa lũ”, “mây mù”
- Từ ngữ bổ trợ, tăng tiến: “những”, “cùng”
=> Tả thực: Đặc trưng thiên nhiên Việt Bắc: khí hậu khắc nghiệt
- Ẩn dụ: Gợi nhớ kỉ niệm buổi đầu vận động đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, khó khăn
Câu hỏi 2:
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai ?
- Hình ảnh: “cơm chấm muối” >< “ thù nặng vai”
Cuộc sống kháng chiến gian khổ, thiếu thốn
Gợi nhớ đến ý chí chiến đấu, tinh thần đoàn kết, sẻ chia của đồng bào Việt Bắc - cán bộ cách mạng
Câu hỏi 3:
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
-Hỏi “rừng núi nhớ ai?”
“trám để rụng”
“măng để già”
Sự trống trải của mảnh đất và lòng người Việt Bắc
Gợi tình cảm gắn bó thân thiết, sâu nặng của người ở lại đối với người về xuôi
Câu hỏi 4:
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Hình ảnh: “ hắt hiu lau xám ” >< “ đậm đà lòng son”
Cảnh sống đơn sơ, thiếu thốn, nghèo nàn, nhà tranh vách đất, lam lũ…
Gợi nhớ con người Việt Bắc tình nghĩa thủy chung son sắc, luôn cưu mang, chở che cho bộ đội
Câu hỏi 5; 6:
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thưở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?
- Nhớ thời tiền khởi nghĩa
- Nhớ địa danh kháng chiến
Gợi nhớ niềm tự hào về những ngày mùa thu tháng tám, cách mạng đã giành được thắng lợi
Điệp từ “mình”: 3 lần Sự thống nhất, gắn bó khăng khít giữa Việt Bắc – Cách mạng
MÁI ĐÌNH HỒNG THÁI
CÂY ĐA TÂN TRÀO
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.2, Lời của người cán bộ ra đi.
a, (Khổ 4): Bày tỏ tình cảm ân nghĩa thủy chung với Việt Bắc
- Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…
Lời thề “đinh ninh hai mặt một lời” của tình yêu đôi lứa thủy chung – cách nói của dân gian cho thấy đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.2, Lời của người cán bộ ra đi.
a, (Khổ 4): Bày tỏ tình cảm ân nghĩa thủy chung với Việt Bắc
b, (Khổ 5; 6): Bộc lộ nỗi nhớ thương da diết
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa...
Cảnh núi rừng Việt Bắc: Hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng không gian và thời gian khác nhau; có những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
- Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”
nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.
- Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể:
+ nhớ ánh nắng ban chiều
+ ánh trăng buổi tối, không gian gợi cảm nên thơ
+ những bản làng ẩn hiện trong sương sớm,
+ những ánh lửa hồng trong đêm khuya,
+ những tên núi, tên rừng, tên sông suối, nương rẫy quen thuộc thân yêu
Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu quạnh mà thơ mộng, ấm áp.
- Con người: Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất cao đẹp:
+ Họ gắn bó với cách mạng cùng “mối thù nặng vai”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi với cách mạng:
“Ta đi ta nhớ … đắp cùng”
+ Tuy họ nghèo về vật chất nhưng “đậm đà lòng son", giàu về tình nghĩa:
“Nhớ người mẹ … bắp ngô”
+ Họ lạc quan yêu đời, gắn bó cùng kháng chiến dù còn nhiều gian khổ, thiếu thốn:
“Nhớ sao lớp học i tờ … núi đèo”
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả, bình dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa:
“Nhớ sao tiếng mõ…suối xa”
=> Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng cần cù, thủy chung và sâu nặng ân tình.
Nhớ những ngày công tác:
+ Bát cơm sẻ nửa/chăn sui đắp cùng: Tiểu đối, câu thơ nhắc nhở nghĩa tình sâu nặng của nhân dân.
+ Lớp học i tờ: Người CM giúp nhân dân học chữ.
+ Đồng khuya đuốc sáng…: Không khí rộn rã vui tươi, lạc quan.
+ Tiếng mõ, tiếng chày: Âm thanh thân thuộc, gợi không gian VB yên ả, nên thơ.
Cuộc sống của người CM chan hòa trong cuộc sống của nhân dân, gắn bó thắm thiết không rời.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.2, Lời của người cán bộ ra đi.
a, (Khổ 4): Bày tỏ tình cảm ân nghĩa thủy chung với Việt Bắc
b, (Khổ 5; 6): Bộc lộ nỗi nhớ thương da diết
c, (Khổ 7): Vẻ đẹp bức tranh tứ bình
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Hai câu thơ mở đầu là lời của người cán bộ về xuôi hỏi người ở lại:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
- Đại từ “mình – ta” được sử dụng như lời trò chuyện thân mật của đôi lứa trong tình yêu.
- Câu lục mở đầu như lời ướm hỏi, hỏi mà không cần trả lời. Câu bát là lời khẳng định: “Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”.
- “Hoa” và “người” mang ý nghĩa tượng trưng: “hoa” – biểu tượng cho thiên nhiên Việt bắc tươi dẹp, “người” – đồng bào Việt Bắc đáng yêu đáng quý.
Gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người trong bức tranh quê hương Việt Bắc.
Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp độc đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả cảnh, câu bát tả người.
+ Thiên nhiên Việt Bắc: được miêu tả diễn biến theo bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc trưng riêng, tạo nên một bức tranh tứ bình rất đẹp
Mùa đông:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.”
+ Trên cái nền xanh bạt ngàn của núi rừng Việt Bắc, xuất hiện những hoa chuối "đỏ tươi" như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh.
Sự đối chọi hai màu xanh – đỏ làm xua tan đi cái lạnh lẽo của mùa đông vùng cao.
+ Hình ảnh "dao gài thắt lưng" phản quang "ánh nắng"
rất gợi cảm, tạo thành điểm sáng khiến con người trở nên nổi bật, trở thành trung tâm của bức tranh: dáng vẻ hiên ngang, kiêu hùng
Mùa xuân:
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”
+ Nhớ Việt Bắc ngày xuân là nhớ đến hoa mơ "nở trắng rừng"
Chữ "trắng": gợi lên một sắc trắng tinh khiết, mênh mang, một thế giới hoa mơ bao phủ sức xuân ngập tràn đất trời núi rừng Việt Bắc.
=> Mùa xuân trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống.
+ Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ của con người Việt Bắc.
Mùa hạ:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.”
+ Nhớ Việt Bắc mùa hè: là nhớ tiếng ve râm ran làm nên khúc nhạc rừng sôi động. Nhớ màu vàng của rừng phách “rừng phách đổ vàng”
Với từ "đổ", biểu thị sự chuyển màu đồng loạt
người đọc có cảm giác dường như tiếng ve đã thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng.
+ Hình ảnh cô thiếu nữ đi "hái măng một mình" giữa rừng vầu, rừng nứa, rừng trúc: không hề lẻ loi, cô đơn mà chịu khó tận tụy với công việc.
Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
“Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu. Trăng "rọi" qua tán lá rừng xanh, trăng thanh mát rượi gợi lên cảnh sống yên ả, "hoà bình”, nên thơ.
+ Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ ca hát về mối ân tình thuỷ chung với cách mạng.
=> Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người:
+ Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt Bắc: bình dị, chịu thương chịu khó, đầy nghĩa tình.
+ Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, những con người Việt Bắc đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.3, Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
a, Khổ 8
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng.
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà...
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.”
Giai đoạn cầm cự
- Điệp từ “giặc”: Thể hiện thế giặc mạnh trong những ngày đầu đặt chân lên Việt Bắc.
Ca ngợi sức mạnh quật khởi vùng lên cùng tinh thần bất khuất, kiên cường của những người lính và nhân hóa thiên nhiên như lực lượng tham gia kháng chiến. Đồng thời thể hiện sự gắn bó sâu sắc giữa thiên nhiên với con người làng quê đơn sơ, bình dị.
Nghệ thuật nhân hóa thậm xưng cùng với các động từ mạnh, các từ ngữ chỉ không gian rộng lớn:
- “Rừng cây núi đá”, “Rừng che bộ đội… vây quân thù”
HÌNH ẢNH NGƯỜI LÍNH VIỆT BẮC
Sáng ngời về nghị lực và tinh thần: “cùng đánh Tây”, “chiến khu một lòng”
Tình yêu quê hương đất nước hóa thành động lực giúp người lính vững tâm không lùi bước.
2 câu thơ tương phản với nhau:
“Bốn mặt sương mù” : Nói về những khó khăn và tương lai mịt mù ở phía trước
“Đất trời ta cả chiến khu một lòng” : Sức mạnh đoàn kết của thiên nhiên và con người làm nên sức mạnh nội lực của dân tộc để vượt qua mọi khó khăn.
Tất cả cùng đồng tâm hiệp lực, từ thiên nhiên cho đến con người, từ quân đến dân đều chung sức, chung lòng đứng lên giết giặc
Giai đoạn PHÒNG NGỰ
Nêu địa danh cụ thể nhằm khắc ghi về những chứng nhân lịch sử mà nơi đó ẩn chứa một tình yêu thương vô bờ mà Tố Hữu dành cho thiên nhiên cho con người. Những người đã hi sinh và cả những con người đang ngày đêm tiếp bước vì độc lập vi tự do
==> Thiên nhiên không vô tri,vô giác mà thực sự đang chiến đấu chống giặc cùng quân và dân ta.
‘’Phủ Thông, đèo Giàng": những địa danh thân thuộc, gắn liền với Việt Bắc, đó là tên của những chiến dịch, những địa danh củachiến thắng giòn giã làm nức lòng người.
- Nghệ thuật liệt kê “Phủ Thông”, “Đèo Giàng”, “sông Lô”, “phố Ràng”, “Cao -Lạng”, “Nhị Hà” thể hiện tình cảm của nhà thơ – một tình cảm chân thành, tha thiết với những địa danh đã làm nức lòng dân tộc.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.3, Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
b, Khổ 9
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
Việt Bắc từng khắc ghi những kỉ niệm về những cuộc hành quân ra trận thật hùng vĩ của bộ đội và nhân dân:
- Từ láy tượng thanh "rầm rập":
diễn tả tiếng bước chân mạnh mẽ của cuộc hành quân, gợi lên nhịp độ khẩn trương, gấp gáp của số lượng người đông đảo cùng hành quân
tạo thành một sức mạnh tổng hợp làm rung chuyển mặt đất.
Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên.
- Hình ảnh so sánh, cường điệu: "Đêm đêm rầm rập như là đất rung"
nêu bật sức mạnh đại đoàn kết của quân dân ta, chung sức chung lòng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi..
- Hình ảnh bộ đội ta hành quân ra trận:
“Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.”
+ Từ láy "điệp điệp trùng trùng":
khắc họa đoàn quân đông đảo bước đi mạnh mẽ như những đợt sóng dâng trào, tưởng chừng như kéo dài đến vô tận.
+ Hình ảnh vừa hiện thực vừa ẩn dụ: "ánh sao đầu súng"
ánh sao trong đêm tối sáng ngời đầu mũi súng, ánh sao của lí tưởng dẫn đường cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù xâm lược
thể hiện niềm tin lạc quan chiến thắng trong tâm hồn người lính ra trận.
- Những bó đuốc đỏ rực soi đường:
làm sáng bừng hình ảnh những đoàn dân công tiếp lương tải đạn. Họ đến từ nhiều miền quê với đủ mọi phương tiện chuyên chở, quyết tâm, kiên cường vượt núi đèo để đảm bảo sức mạnh cho bộ đội chiến đấu và chiến thắng.
- Hình ảnh cường điệu:
"bước chân nát đá"
khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của nhân dân trong kháng chiến.
Đây là cuộc chiến đấu của cả dân tộc vì chính nghĩa, vì thế ta nhất định thắng lợi.
Cùng hành quân với bộ đội là những đoàn dân công phục vụ chiến đấu: "Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay."
- Niềm lạc quan tin tưởng vững chắc:
"Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên."
+ Tương quan đối lập giữa bóng tối và ánh sáng:
Bóng đêm đen tối thăm thẳm (gợi kiếp sống nô lệ của dân tộc dưới ách đô hộ của kẻ thù) >< ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng, tốt đẹp.
+ Ánh sáng lấn át bóng tối:
chiến thắng của dân tộc là tất yếu trước mọi kẻ thù hắc ám, ngày mai tươi sáng, hạnh phúc nhất định sẽ đến với dân tộc ta.
=> Đoạn thơ vừa đậm chất sử thi vừa giàu tính lãng mạn khắc họa sâu sắc cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, đầy gian khổ hi sinh nhưng nhất định thắng lợi của dân tộc.
Mở đường vào Điện Biên Phủ.
Mở đường vào Điện Biên Phủ.
Dân tộc ấy vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công:
nhịp điệu thơ dồn dập, náo nức, phấn khởi + liệt kê những địa danh trải dọc “trăm miền” đất nước gắn với tin vui chiến thắng
cho thấy tốc độ thần kì của chiến thắng, niềm vui như lan tỏa đi và từ khắp nơi bay về Việt Bắc.
“ Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”
Chiến sĩ Bế Văn Đàn, tiêu biểu cho tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn quân
- Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh dẫn tới chiến thắng:
+ Sức mạnh của lòng căm thù:
“Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”
+ Sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung:
“Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”
+ Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân:
“Nhớ khi giặc… một lòng”
toàn dân:
đánh giặc ngay tại chỗ (“Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”),
dựa vào rừng núi để đánh giặc (“Núi giăng … vây quân thù”),
quân dân đoàn kết (“Đất trời ta cả chiến khu một lòng”)
tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
Đọc hiểu chi tiết
2.3, Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
c, Khổ 10 + 11:
Ai về ai có nhớ không?
Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang.
Nắng trưa rực rỡ sao vàng
Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công
Điều quân chiến dịch thu đông
Nông thôn phát động, giao thông mở đường
Giữ đê, phòng hạn, thu lương
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu...
Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.
Mười lăm năm ấy, ai quên
Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hoà
Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
Lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân
+ Giọng thơ trang trọng mà thiết tha: nhấn mạnh, khẳng định Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.
Đình Hồng Thái
Cây đa Tân Trào
Lòng biết ơn Đảng, Bác Hồ, nhân dân
- Việt Bắc là trái tim, đầu não của cuộc kháng chiến, là nơi các chủ trương của Đảng và Chính phủ toả đi khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:
“Điều quân chiến dịch thu đông
Nông thôn phát động, giao thông mở đường
Giữ đê, phòng hạn, thu lương
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…”
1950 - Bác ở chiến khu Việt Bắc
Bác Hồ làm việc tại chiến khu Việt Bắc
- Việt Bắc là niềm tin, là hi vọng, niềm mong đợi của cả dân tộc, của những con người Việt Nam yêu nước vì Việt Bắc có Bác Hồ, có Chính phủ sống và làm việc:
“Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.”
Những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình: khẳng định niềm tin yêu, lòng biết ơn của cả nước đối với Việt Bắc là vô bờ.
- Việt Bắc – Biểu tượng của niềm tin cách mạng:
+ Công tác kháng chiến: điều quân, giữ đê, phòng hạn… Giọng thơ tươi vui, rộn rã.
+ Ở đâu… Trông về…: Điệp khúc, câu hỏi tu từ, lời đối đáp tinh tế.
Việt Bắc trở thành biểu tượng của niềm tin cách mạng, tượng trưng cho sức mạnh kháng chiến, sức mạnh của toàn dân tộc.
III. TỔNG KẾT
IV. LUYỆN TẬP:
 







Các ý kiến mới nhất