Tuần 9. Việt Bắc (trích - tiếp theo)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Cốc A Phong
Ngày gửi: 12h:15' 07-10-2022
Dung lượng: 29.8 MB
Số lượt tải: 361
Nguồn:
Người gửi: Cốc A Phong
Ngày gửi: 12h:15' 07-10-2022
Dung lượng: 29.8 MB
Số lượt tải: 361
Số lượt thích:
0 người
I. TÌM HIỂU CHUNG.
1. Hoàn cảnh sáng tác.
- Chiến thắng Điện Biên Phủ thắng lợi. Tháng 71954, Hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông Dương
được kí kết. Hòa bình lập lại, một trang sử mới mở
ra cho toàn dân tộc
- Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn
cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng,
Chính phủ rời chiến khu Việt bắc về lại thủ đô.
Nhân sự kiện có tính lịch sử này, Tố Hữu đã sáng
tác bài thơ.
2. Bố cục: 2 phần
- Phần đầu: Tái hiện kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.
- Phần sau: Niềm tin vào tương lai tươi sáng, biết ơn Đảng và Bác.
3. Giá trị tác phẩm:
- Phương thức biểu đạt: Biểu cảm
- Thể thơ: Lục bát
- Giá trị nội dung:
+ Việt Bắc là khúc ca hùng tráng và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến
và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước
trong niềm tự hào dân tộc…
+ Việt Bắc là khúc hát ân tình chung của những người cách mạng, những người kháng chiến,
của cả dân tộc qua tiếng lòng của nhà thơ. Bên cạnh đó, bài thơ còn cất lên âm hưởng anh
hùng ca vang dội, đưa ta về với một thời kì lịch sử hào hùng, trọng đại của đất nước.
- Giá trị nghệ thuật:
+ Sử dụng sáng tạo hai đại từ “mình, ta” với lối đối đáp giao duyên trong dân ca, để diễn
đạt tình cảm cách mạng
+ Bài thơ Việt Bắc thể hiện tính dân tộc đậm đà:
++ Sử dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống.
++ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, quen thuộc, gần gũi, đậm sắc thái dân gian.
++ Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tài hoa như điệp từ, liệt kê, so sánh, ẩn dụ tượng
trưng…
++ Nhịp điệu thơ uyển chuyển ngân vang, giọng điệu thay đổi linh hoạt.
4. Đoạn trích: - Vị trí: Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm.
- Bố cục:
+ Phần 1 (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với
người ra đi.
- Mình về mình có nhớ ta?...
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
+ Phần 2 (32 câu tiếp theo): Lời của người cán bộ ra đi.
- Ta với mình, mình với ta.....
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Phần 3 (38 câu cuối): Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
Nhớ khi giặc đến giặc lùng....
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
1 Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.
a. (8 câu đầu): Cuộc chia tay đầy lưu luyến.
- Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
- Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
- Kết cấu được kiến tạo theo lối đối đáp giao duyên qua cặp đại từ "mình - ta"
- Bốn câu thơ đầu:
là lời của những người ở lại - nhân dân Việt Bắc.
+ Sự láy đi láy lại của câu hỏi tu từ đã xoáy sâu vào nỗi nhớ và sự day dứt khôn nguôi.
+ Điệp cấu trúc, điệp ngữ: "Mình về mình có nhớ ta?", "Mình về mình có nhớ không?".
+ Thời gian gợi nhớ: "Mười lăm năm ấy" → gợi tháng ngày đồng cam cộng khổ, chia ngọt
sẻ bùi.
+ Gợi nhớ không gian: "cây", "núi", "sông", "nguồn"
→ quen thuộc gợi nhắc lối sống ân
nghĩa thủy chung với truyền thống đạo lí
“Uống nước nhớ nguồn”.
=> Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ tràn đầy cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến của đồng bào
Việt Bắc.
Áo chàm
Du kích tham gia cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, tháng 9-1940.
BÁC HỒ VÀ BỘ ĐỘI GIẢI PHÓNG Ở CĂN CỨ ĐỊA VIỆT BẮC
- Bốn câu thơ sau : lời của người đi - các cán bộ chiến sĩ cách mạng.
tha thiết bên cồn
- “ Tiếng ai tha
Bâng
Bâng khuâng
khuâng trong dạ , bồn
bồn chồn bước đi
chàm đưa buổi phân li
Áo chàm
Sự xúc
động chân
thành của
họ dành
cho nhau.
Cầm
nhau biết
biết nói
nói gì hôm nay… ”
Cầm tay nhau
+ Đại từ "ai" ngân vang cùng sự "tha thiết" đã nhấn mạnh vào tình cảm, cảm xúc đặc biệt.
+ Đáp lời là câu hỏi tu từ Thể hiện sự thấu hiểu của người ra đi dành cho người ở lại
+ Từ láy: “tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn” Gợi tâm trạng lưu luyến, bịn rịn… không
muốn rời xa.
+ Hoán dụ: “áo chàm” Tấm lòng thủy chung son sắt của người ở lại.
+ “ Cầm… nay” : nhịp thơ: 3/5, dấu “…” -> càng tăng thêm cái tình cảm mặn nồng ấy
b. (12 câu tiếp theo): Lời gợi nhắc của người ở lại
- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thưở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?
* Câu hỏi 1:
-
- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Tiếng "mình“ kết hợp với từ “đi, về”: → cất lên thật gần gũi, thân thuộc: đó tình cảm thắm
thiết, ân tình.
- Hình ảnh “nhớ những ngày”: + “mưa nguồn suối lũ”,.
+ “mây mù”
Những câu hỏi vừa như trách
móc lại vừa như lo lắng, bùi
ngùi.
- Từ ngữ bổ trợ, tăng tiến: “những”, “cùng” kết hợp với nhịp thơ 2/4; 2/2/4
đều đặn:
→ Càng thể hiện được sự thiết tha trong lòng người ở lại.
=> Bút pháp tả thực về đặc trưng thiên nhiên Việt Bắc: khí hậu khắc nghiệt.
* Câu hỏi 2:
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai ?
- Hình ảnh nhớ “chiến khu”: + “cơm chấm muối”
+ “thù nặng vai”
Gợi nhớ đến cuộc sống kháng
chiến gian khổ, thiếu thốn.
=> Ẩn dụ gợi nhớ kỉ niệm buổi đầu vận động đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, khó khăn,
thiếu thốn mọi mặt.
* Câu hỏi 3:
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
- Hình ảnh “rừng núi“: cách nói hoán dụ để chỉ những người dân nơi chiến khu Việt Bắc.
- Hỏi “rừng núi nhớ ai?”: + “trám để rụng”
+ “măng để già”
-
Sự trống trải của mảnh đất và lòng người
Việt Bắc.
Lối xưng hô "mình", "ta" độc đáo: chỉ hai mà một, đó là hình ảnh những người cách mạng
đã về xuôi.
=> Gợi tình cảm gắn bó thân thiết, sâu nặng của người ở lại đối với người về xuôi.
* Câu hỏi 4:
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
- Hình ảnh “nhớ những nhà”: + “ hắt hiu lau xám ”
+“đậm đà lòng son”
Cảnh sống đơn sơ, thiếu thốn, nghèo
nàn, nhà tranh vách đất, lam lũ…
-> Gợi nhớ con người Việt Bắc tình nghĩa thủy chung son sắc, luôn cưu mang, chở che cho
bộ đội.
=> Người cách mạng ra đi không chỉ để lại nỗi nhớ nhung trong lòng người ở lại mà cảnh
vật cũng nhuốm màu buồn bã, quyến luyến.
* Câu hỏi 5:
- Hình ảnh “nhớ núi non”:
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thưở còn Việt Minh
+ “ khi kháng Nhật ”
+“còn Việt Minh”
Nhớ thời tiền khởi nghĩa.
-> Gợi nhớ niềm tự hào về cách mạng đã giành được thắng lợi và tinh thần đoàn kết, sẻ
chia của đồng bào Việt Bắc - cán bộ cách mạng.
* Câu hỏi 6:
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?
- Hình ảnh “ có nhớ mình”: Nhớ bản thân 15 ở Việt Bắc.
- Hình ảnh “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”: Nhớ địa danh kháng chiến.
- Điệp từ “mình”: 3 lần Sự thống nhất, gắn bó khăng khít giữa Việt Bắc – Cách mạng
=> Nhắn nhủ về cách sống thủy chung với quá khứ, với kỉ niệm và địa điểm đánh dấu bước
ngoặt cách mạng: Tân Trào, Hồng Thái.
MÁI ĐÌNH HỒNG THÁI
CÂY ĐA TÂN TRÀO
2. Lời của người cán bộ ra đi.
a. (Đoạn 4): Bày tỏ tình
cảm ân nghĩa thủy chung
với Việt Bắc.
- Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…
- Người ra đi đã khẳng định “mình đi, mình lại nhớ mình”.
-> khẳng định: người cán bộ kháng chiến về hà thành nhưng vẫn nhớ đến những ngày sống ở
chiến khu Việt Bắc.
- “Ta – mình”, “mình – ta” quấn quýt, quyện hoà, ta với mình là một.
+ Khẳng định chắc chắn, mãi mãi, gắn bó, thuỷ chung với Việt Bắc “đinh ninh”
+ Việt Bắc là cái nôi cội nguồn của cách mạng.
- So sánh: “Bao nhiêu” với “bấy-> Đó là so sánh giữa sự vô tận với sự vô tận.
nhiêu”
=> Khẳng định sự chung thuỷ son sắt với Việt Bắc như tình yêu đôi lứa bền chặt, mãi mãi.
b. (Đoạn 5; 6): Bộc lộ nỗi nhớ thương da diết
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa...
- Cảnh núi rừng Việt Bắc hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng không gian và
thời gian khác nhau; có những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
- Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”
nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.
- Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể:
+ “nắng chiều lưng nương”:
nhớ ánh nắng ban chiều
+ Trăng lên đầu núi:
Nhớ ánh trăng buổi tối, không
gian gợi cảm nên thơ.
+ “bản khói cùng sương”:
nhớ những bản làng ẩn
hiện trong sương sớm,
+ “Sớm
khuya bếp lửa người
thương đi về”:
Nhớ những ánh lửa hồng
trong đêm khuya,
+ nhớ tên các địa danh: “Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê” quen thuộc thân thương.
Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu quạnh mà thơ mộng, ấm áp.
- Con người: Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với
những phẩm chất cao đẹp:
+ Họ gắn bó với cách mạng cùng “mối thù nặng vai”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi
với cách mạng:
“Ta đi ta nhớ … đắp cùng”
+ Tuy họ nghèo về vật chất nhưng “đậm đà
lòng son", giàu về tình nghĩa:
“Nhớ người mẹ … bắp ngô”
+ Họ lạc quan yêu đời, gắn bó cùng kháng chiến dù còn nhiều gian khổ, thiếu thốn:
“Nhớ sao lớp học i tờ … núi đèo”
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả, bình dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa:
“Nhớ sao tiếng mõ…suối xa”
=> Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng cần cù, thủy chung và sâu nặng ân tình.
- Nhớ những ngày công tác:
+ Bát cơm sẻ nửa/chăn sui đắp cùng: Tiểu đối, câu thơ nhắc nhở nghĩa tình sâu nặng của
nhân dân.
+ Lớp học i tờ: Người CM giúp nhân dân học chữ.
+ Đồng khuya đuốc sáng…:
+ Tiếng mõ, tiếng chày:
Không khí rộn rã vui tươi, lạc quan.
Âm thanh thân thuộc, gợi không gian VB yên ả, nên thơ.
Cuộc sống của người CM chan hòa trong cuộc sống của nhân dân, gắn bó thắm thiết
không rời.
c. (Đoạn 7): Vẻ đẹp bức tranh tứ bình.
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng
người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ
tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt
lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng
rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng
sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ
vàng
Nhớ cô em gái hái măng một
mình
* Hai câu thơ mở đầu là lời của người cán bộ về xuôi hỏi người ở lại:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
- Đại từ “mình – ta” được sử dụng như lời trò chuyện thân mật của đôi lứa trong tình yêu.
- Câu hỏi tu từ, điệp từ "ta", cách ngắt từ "những hoa cùng người"
-> Nhấn mạnh nỗi nhớ, cùng tấm lòng thủy chung son sắt của tác giả tới thiên nhiên và con
người Việt Bắc.
+ Câu lục mở đầu như lời ướm hỏi, hỏi mà không cần trả lời.
+ Câu bát là lời khẳng định: “Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”.
- “Hoa” và “người” mang ý nghĩa tượng trưng:
+ “hoa” – biểu tượng cho thiên nhiên Việt bắc tươi dẹp.
+ “người” – đồng bào Việt Bắc đáng yêu đáng quý.
Gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người trong bức tranh quê hương Việt Bắc.
* Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp độc đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả
cảnh, câu bát tả người.
+ Thiên nhiên Việt Bắc: được miêu tả diễn biến theo bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc
trưng riêng, tạo nên một bức tranh tứ bình rất đẹp
* Bức tranh mùa đông:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.”
- Sử dụng bút pháp chấm phá:
+ Màu đỏ hoa chuối gợi liên tưởng đến hình ảnh
ngọn đuốc xua đi cái lạnh của của núi rừng mùa
đông.
-> Nổi bật trên nền xanh rộng lớn của núi rừng
là màu đỏ của hoa chuối và màu vàng của
những đốm nắng.
+ Hình ảnh "dao gài thắt lưng" phản
quang "ánh nắng"
Rất gợi cảm, tạo thành điểm sáng khiến
con người trở nên nổi bật, trở thành trung
tâm của bức tranh: dáng vẻ khỏe khoắn,
lớn lao của người lao động, với tâm thế
làm chủ thiên nhiên, cuộc sống.
* Bức tranh mùa xuân:
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”
+ Nhớ Việt Bắc ngày xuân là nhớ đến hoa mơ "nở
trắng rừng"
+ Chữ "trắng": gợi lên một sắc trắng tinh khiết,
mênh mang, một thế giới hoa mơ bao phủ.
sức xuân ngập tràn đất trời núi rừng Việt Bắc.
=> Mùa xuân trong sáng, tinh khôi và đầy sức
sống.
+ Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ của con
người Việt Bắc.
* Bức tranh mùa hạ:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.”
+ Là VB ngày hè với tiếng ve râm ran làm
nên khúc nhạc rừng sôi động. Nhớ màu vàng
của rừng phách “rừng phách đổ vàng”
+ Với từ "đổ", biểu thị sự chuyển màu đồng
loạt
người đọc có cảm giác dường như tiếng
ve đã thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho
rừng phách thêm vàng.
+ Hình ảnh cô thiếu nữ đi "hái măng
một mình" giữa rừng vầu, rừng nứa,
rừng trúc: không hề lẻ loi, cô đơn
mà chịu khó tận tụy với công việc.
Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
“Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu. Trăng
"rọi" qua tán lá rừng xanh, trăng thanh mát rượi.
gợi lên cảnh sống yên ả, "hoà bình”, nên thơ.
+ Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ
ca hát về mối ân tình thuỷ chung với cách
mạng.
=> Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con
người:
+ Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt Bắc: bình dị, chịu thương chịu khó, đầy
nghĩa tình.
+ Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, những con người Việt Bắc đã góp
phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.
3. Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
a. Khổ 8
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng.
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà...
Núi giăng thành luỹ sắt dày/ Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Tượng đài chiến thắng đèo Giàng - CB
Tượng đài chiến thắng Sông Lô
Trấn Phố Ràng - LC
1. Hoàn cảnh sáng tác.
- Chiến thắng Điện Biên Phủ thắng lợi. Tháng 71954, Hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông Dương
được kí kết. Hòa bình lập lại, một trang sử mới mở
ra cho toàn dân tộc
- Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn
cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng,
Chính phủ rời chiến khu Việt bắc về lại thủ đô.
Nhân sự kiện có tính lịch sử này, Tố Hữu đã sáng
tác bài thơ.
2. Bố cục: 2 phần
- Phần đầu: Tái hiện kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.
- Phần sau: Niềm tin vào tương lai tươi sáng, biết ơn Đảng và Bác.
3. Giá trị tác phẩm:
- Phương thức biểu đạt: Biểu cảm
- Thể thơ: Lục bát
- Giá trị nội dung:
+ Việt Bắc là khúc ca hùng tráng và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến
và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước
trong niềm tự hào dân tộc…
+ Việt Bắc là khúc hát ân tình chung của những người cách mạng, những người kháng chiến,
của cả dân tộc qua tiếng lòng của nhà thơ. Bên cạnh đó, bài thơ còn cất lên âm hưởng anh
hùng ca vang dội, đưa ta về với một thời kì lịch sử hào hùng, trọng đại của đất nước.
- Giá trị nghệ thuật:
+ Sử dụng sáng tạo hai đại từ “mình, ta” với lối đối đáp giao duyên trong dân ca, để diễn
đạt tình cảm cách mạng
+ Bài thơ Việt Bắc thể hiện tính dân tộc đậm đà:
++ Sử dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống.
++ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, quen thuộc, gần gũi, đậm sắc thái dân gian.
++ Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tài hoa như điệp từ, liệt kê, so sánh, ẩn dụ tượng
trưng…
++ Nhịp điệu thơ uyển chuyển ngân vang, giọng điệu thay đổi linh hoạt.
4. Đoạn trích: - Vị trí: Đoạn trích thuộc phần đầu tác phẩm.
- Bố cục:
+ Phần 1 (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với
người ra đi.
- Mình về mình có nhớ ta?...
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
+ Phần 2 (32 câu tiếp theo): Lời của người cán bộ ra đi.
- Ta với mình, mình với ta.....
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Phần 3 (38 câu cuối): Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
Nhớ khi giặc đến giặc lùng....
Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
II. ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH
1 Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.
a. (8 câu đầu): Cuộc chia tay đầy lưu luyến.
- Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
- Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
- Kết cấu được kiến tạo theo lối đối đáp giao duyên qua cặp đại từ "mình - ta"
- Bốn câu thơ đầu:
là lời của những người ở lại - nhân dân Việt Bắc.
+ Sự láy đi láy lại của câu hỏi tu từ đã xoáy sâu vào nỗi nhớ và sự day dứt khôn nguôi.
+ Điệp cấu trúc, điệp ngữ: "Mình về mình có nhớ ta?", "Mình về mình có nhớ không?".
+ Thời gian gợi nhớ: "Mười lăm năm ấy" → gợi tháng ngày đồng cam cộng khổ, chia ngọt
sẻ bùi.
+ Gợi nhớ không gian: "cây", "núi", "sông", "nguồn"
→ quen thuộc gợi nhắc lối sống ân
nghĩa thủy chung với truyền thống đạo lí
“Uống nước nhớ nguồn”.
=> Giọng điệu tâm tình, thủ thỉ tràn đầy cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến của đồng bào
Việt Bắc.
Áo chàm
Du kích tham gia cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, tháng 9-1940.
BÁC HỒ VÀ BỘ ĐỘI GIẢI PHÓNG Ở CĂN CỨ ĐỊA VIỆT BẮC
- Bốn câu thơ sau : lời của người đi - các cán bộ chiến sĩ cách mạng.
tha thiết bên cồn
- “ Tiếng ai tha
Bâng
Bâng khuâng
khuâng trong dạ , bồn
bồn chồn bước đi
chàm đưa buổi phân li
Áo chàm
Sự xúc
động chân
thành của
họ dành
cho nhau.
Cầm
nhau biết
biết nói
nói gì hôm nay… ”
Cầm tay nhau
+ Đại từ "ai" ngân vang cùng sự "tha thiết" đã nhấn mạnh vào tình cảm, cảm xúc đặc biệt.
+ Đáp lời là câu hỏi tu từ Thể hiện sự thấu hiểu của người ra đi dành cho người ở lại
+ Từ láy: “tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn” Gợi tâm trạng lưu luyến, bịn rịn… không
muốn rời xa.
+ Hoán dụ: “áo chàm” Tấm lòng thủy chung son sắt của người ở lại.
+ “ Cầm… nay” : nhịp thơ: 3/5, dấu “…” -> càng tăng thêm cái tình cảm mặn nồng ấy
b. (12 câu tiếp theo): Lời gợi nhắc của người ở lại
- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thưở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?
* Câu hỏi 1:
-
- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Tiếng "mình“ kết hợp với từ “đi, về”: → cất lên thật gần gũi, thân thuộc: đó tình cảm thắm
thiết, ân tình.
- Hình ảnh “nhớ những ngày”: + “mưa nguồn suối lũ”,.
+ “mây mù”
Những câu hỏi vừa như trách
móc lại vừa như lo lắng, bùi
ngùi.
- Từ ngữ bổ trợ, tăng tiến: “những”, “cùng” kết hợp với nhịp thơ 2/4; 2/2/4
đều đặn:
→ Càng thể hiện được sự thiết tha trong lòng người ở lại.
=> Bút pháp tả thực về đặc trưng thiên nhiên Việt Bắc: khí hậu khắc nghiệt.
* Câu hỏi 2:
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai ?
- Hình ảnh nhớ “chiến khu”: + “cơm chấm muối”
+ “thù nặng vai”
Gợi nhớ đến cuộc sống kháng
chiến gian khổ, thiếu thốn.
=> Ẩn dụ gợi nhớ kỉ niệm buổi đầu vận động đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, khó khăn,
thiếu thốn mọi mặt.
* Câu hỏi 3:
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già.
- Hình ảnh “rừng núi“: cách nói hoán dụ để chỉ những người dân nơi chiến khu Việt Bắc.
- Hỏi “rừng núi nhớ ai?”: + “trám để rụng”
+ “măng để già”
-
Sự trống trải của mảnh đất và lòng người
Việt Bắc.
Lối xưng hô "mình", "ta" độc đáo: chỉ hai mà một, đó là hình ảnh những người cách mạng
đã về xuôi.
=> Gợi tình cảm gắn bó thân thiết, sâu nặng của người ở lại đối với người về xuôi.
* Câu hỏi 4:
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
- Hình ảnh “nhớ những nhà”: + “ hắt hiu lau xám ”
+“đậm đà lòng son”
Cảnh sống đơn sơ, thiếu thốn, nghèo
nàn, nhà tranh vách đất, lam lũ…
-> Gợi nhớ con người Việt Bắc tình nghĩa thủy chung son sắc, luôn cưu mang, chở che cho
bộ đội.
=> Người cách mạng ra đi không chỉ để lại nỗi nhớ nhung trong lòng người ở lại mà cảnh
vật cũng nhuốm màu buồn bã, quyến luyến.
* Câu hỏi 5:
- Hình ảnh “nhớ núi non”:
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thưở còn Việt Minh
+ “ khi kháng Nhật ”
+“còn Việt Minh”
Nhớ thời tiền khởi nghĩa.
-> Gợi nhớ niềm tự hào về cách mạng đã giành được thắng lợi và tinh thần đoàn kết, sẻ
chia của đồng bào Việt Bắc - cán bộ cách mạng.
* Câu hỏi 6:
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?
- Hình ảnh “ có nhớ mình”: Nhớ bản thân 15 ở Việt Bắc.
- Hình ảnh “Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”: Nhớ địa danh kháng chiến.
- Điệp từ “mình”: 3 lần Sự thống nhất, gắn bó khăng khít giữa Việt Bắc – Cách mạng
=> Nhắn nhủ về cách sống thủy chung với quá khứ, với kỉ niệm và địa điểm đánh dấu bước
ngoặt cách mạng: Tân Trào, Hồng Thái.
MÁI ĐÌNH HỒNG THÁI
CÂY ĐA TÂN TRÀO
2. Lời của người cán bộ ra đi.
a. (Đoạn 4): Bày tỏ tình
cảm ân nghĩa thủy chung
với Việt Bắc.
- Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu…
- Người ra đi đã khẳng định “mình đi, mình lại nhớ mình”.
-> khẳng định: người cán bộ kháng chiến về hà thành nhưng vẫn nhớ đến những ngày sống ở
chiến khu Việt Bắc.
- “Ta – mình”, “mình – ta” quấn quýt, quyện hoà, ta với mình là một.
+ Khẳng định chắc chắn, mãi mãi, gắn bó, thuỷ chung với Việt Bắc “đinh ninh”
+ Việt Bắc là cái nôi cội nguồn của cách mạng.
- So sánh: “Bao nhiêu” với “bấy-> Đó là so sánh giữa sự vô tận với sự vô tận.
nhiêu”
=> Khẳng định sự chung thuỷ son sắt với Việt Bắc như tình yêu đôi lứa bền chặt, mãi mãi.
b. (Đoạn 5; 6): Bộc lộ nỗi nhớ thương da diết
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi...
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô.
Nhớ sao lớp học i tờ
Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa...
- Cảnh núi rừng Việt Bắc hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng không gian và
thời gian khác nhau; có những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
- Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”
nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.
- Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể:
+ “nắng chiều lưng nương”:
nhớ ánh nắng ban chiều
+ Trăng lên đầu núi:
Nhớ ánh trăng buổi tối, không
gian gợi cảm nên thơ.
+ “bản khói cùng sương”:
nhớ những bản làng ẩn
hiện trong sương sớm,
+ “Sớm
khuya bếp lửa người
thương đi về”:
Nhớ những ánh lửa hồng
trong đêm khuya,
+ nhớ tên các địa danh: “Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê” quen thuộc thân thương.
Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu quạnh mà thơ mộng, ấm áp.
- Con người: Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với
những phẩm chất cao đẹp:
+ Họ gắn bó với cách mạng cùng “mối thù nặng vai”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi
với cách mạng:
“Ta đi ta nhớ … đắp cùng”
+ Tuy họ nghèo về vật chất nhưng “đậm đà
lòng son", giàu về tình nghĩa:
“Nhớ người mẹ … bắp ngô”
+ Họ lạc quan yêu đời, gắn bó cùng kháng chiến dù còn nhiều gian khổ, thiếu thốn:
“Nhớ sao lớp học i tờ … núi đèo”
- Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả, bình dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa:
“Nhớ sao tiếng mõ…suối xa”
=> Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng cần cù, thủy chung và sâu nặng ân tình.
- Nhớ những ngày công tác:
+ Bát cơm sẻ nửa/chăn sui đắp cùng: Tiểu đối, câu thơ nhắc nhở nghĩa tình sâu nặng của
nhân dân.
+ Lớp học i tờ: Người CM giúp nhân dân học chữ.
+ Đồng khuya đuốc sáng…:
+ Tiếng mõ, tiếng chày:
Không khí rộn rã vui tươi, lạc quan.
Âm thanh thân thuộc, gợi không gian VB yên ả, nên thơ.
Cuộc sống của người CM chan hòa trong cuộc sống của nhân dân, gắn bó thắm thiết
không rời.
c. (Đoạn 7): Vẻ đẹp bức tranh tứ bình.
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng
người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ
tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt
lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng
rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng
sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ
vàng
Nhớ cô em gái hái măng một
mình
* Hai câu thơ mở đầu là lời của người cán bộ về xuôi hỏi người ở lại:
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.
- Đại từ “mình – ta” được sử dụng như lời trò chuyện thân mật của đôi lứa trong tình yêu.
- Câu hỏi tu từ, điệp từ "ta", cách ngắt từ "những hoa cùng người"
-> Nhấn mạnh nỗi nhớ, cùng tấm lòng thủy chung son sắt của tác giả tới thiên nhiên và con
người Việt Bắc.
+ Câu lục mở đầu như lời ướm hỏi, hỏi mà không cần trả lời.
+ Câu bát là lời khẳng định: “Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”.
- “Hoa” và “người” mang ý nghĩa tượng trưng:
+ “hoa” – biểu tượng cho thiên nhiên Việt bắc tươi dẹp.
+ “người” – đồng bào Việt Bắc đáng yêu đáng quý.
Gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người trong bức tranh quê hương Việt Bắc.
* Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp độc đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả
cảnh, câu bát tả người.
+ Thiên nhiên Việt Bắc: được miêu tả diễn biến theo bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc
trưng riêng, tạo nên một bức tranh tứ bình rất đẹp
* Bức tranh mùa đông:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.”
- Sử dụng bút pháp chấm phá:
+ Màu đỏ hoa chuối gợi liên tưởng đến hình ảnh
ngọn đuốc xua đi cái lạnh của của núi rừng mùa
đông.
-> Nổi bật trên nền xanh rộng lớn của núi rừng
là màu đỏ của hoa chuối và màu vàng của
những đốm nắng.
+ Hình ảnh "dao gài thắt lưng" phản
quang "ánh nắng"
Rất gợi cảm, tạo thành điểm sáng khiến
con người trở nên nổi bật, trở thành trung
tâm của bức tranh: dáng vẻ khỏe khoắn,
lớn lao của người lao động, với tâm thế
làm chủ thiên nhiên, cuộc sống.
* Bức tranh mùa xuân:
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.”
+ Nhớ Việt Bắc ngày xuân là nhớ đến hoa mơ "nở
trắng rừng"
+ Chữ "trắng": gợi lên một sắc trắng tinh khiết,
mênh mang, một thế giới hoa mơ bao phủ.
sức xuân ngập tràn đất trời núi rừng Việt Bắc.
=> Mùa xuân trong sáng, tinh khôi và đầy sức
sống.
+ Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ của con
người Việt Bắc.
* Bức tranh mùa hạ:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.”
+ Là VB ngày hè với tiếng ve râm ran làm
nên khúc nhạc rừng sôi động. Nhớ màu vàng
của rừng phách “rừng phách đổ vàng”
+ Với từ "đổ", biểu thị sự chuyển màu đồng
loạt
người đọc có cảm giác dường như tiếng
ve đã thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho
rừng phách thêm vàng.
+ Hình ảnh cô thiếu nữ đi "hái măng
một mình" giữa rừng vầu, rừng nứa,
rừng trúc: không hề lẻ loi, cô đơn
mà chịu khó tận tụy với công việc.
Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
“Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
+ Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu. Trăng
"rọi" qua tán lá rừng xanh, trăng thanh mát rượi.
gợi lên cảnh sống yên ả, "hoà bình”, nên thơ.
+ Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ
ca hát về mối ân tình thuỷ chung với cách
mạng.
=> Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con
người:
+ Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt Bắc: bình dị, chịu thương chịu khó, đầy
nghĩa tình.
+ Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, những con người Việt Bắc đã góp
phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.
3. Nhớ quá trình kháng chiến – hình ảnh chiến khu Việt Bắc
a. Khổ 8
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng.
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà...
Núi giăng thành luỹ sắt dày/ Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
Tượng đài chiến thắng đèo Giàng - CB
Tượng đài chiến thắng Sông Lô
Trấn Phố Ràng - LC
 







Các ý kiến mới nhất